tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18451498
Tiểu thuyết
03.07.2009
Hoài Anh
Đất Thang mộc II - Sứ mệnh phù Lê

Nàng không giận Thị Nguyệt mà chỉ càng thêm oán ghét Mậu Hợp, vì thói dâm ô mà để cho bao người con gái tan nát đời hoa. Nàng không phải là một người đàn bà tầm thường như những người khác vì tham bả vin hoa phú quý mà để uổng phí cả một cuộc đời. Nàng là một nữ tiến sĩ, đã làu thông vưn chương kinh sử, nên biết cư xử sao cho hợp với đạo lý làm người. Quyết không thể khuất phục trước uy vũ mà để mất chữ tiết cảu người phụ nữ, tự biến mình thành một đồ chơi trong tay bạo chúa cho y mặc tình ruồng rẫy khi nhị rữa hoa tàn. Nàng biết tính Mậu Hợp cả thèm chóng chán, nhiều phi tần từng được y sủng ái, đến nay đành cam phận chết già trong cung cấm, mỏi mắt đợi chờ xe dê ghé đến...


tin quan Hàn lâm viện học sĩ Nguyễn Văn Duệ mất tích trong đêm trung thu làm cho trong triều náo động. Mọi người không ai hay biét vì sao Duệ biến mất không thấy tăm hơi.


Ít lâu sau vì bọn nội thần xì xào bán tán nên chuyện lọt ra ngoài đến tay Giáp Hải. Giáp Hải vội vào nội cung tâu với Mậu Hợp:


- Tâu bệ hạ, thần nghe đồn bệ hạ phát giác Nguyễn học sĩ là gái cải nam trang nên buông lời chòng ghẹo nàng, nàng không nghe bệ hạ vẫn dùng vũ lực cưỡng ép, chuyện đó có đúng không?


 Mậu Hợp giật mình biến sắc:


- Làm gì có chuyện ấy?


- Bệ hạ đừng nên giấu thần nữa, vì bọn nội thần tiết lộ nên thần mới biết mà dâng lời can gián. Bệ hạ nên soi gương những hôn quân ngày trước mà lánh xa tửu sắc, có như vậy cơ nghiệp mới mong bền vững lâu dài...


- À... có... có. Vì Nguyễn Thị Duệ cải trang đi thi như vậy là mắc tội khi quân, ta đã sai gim vào ngục để trừng trị...


- Dù nàng có cải trang đi thi chăng nữa, nhưng nếu nàng là tài nữ, bệ hạ cũng nên rộng lượng khoan dung. Bệ hạ thần không lạ gì, có người tài là phúc lớn cho đất nước, dầu nam hay nữ cũng vậy. Xưa chẳng có những bậc tài như Bạn Tiệp Dư, Tạ Đạo Uẩn, Thái Văn Cơ, Tô Tiểu Muội văn chương gấm dệt hoa thêu làm cho bậc mày râu phải kính phục đó sao? Bệ hạ cứ nên dùng nàng làm một chức nữ quan dạy cho phi tần cung nữ học mà đừng ép buộc nàng làm điều trái với ý muốn của nàng...


Mậu Hợp nói cho qua chuyện:


- Thôi được, án đó ta sẽ xét sau. Khanh cứ lui về đi đã ròi ta sẽ bàn lại...


Hôm sau, Đỗ Uông vào chầu, Mậu Hợp lại đem chuyện đó hỏi ý Đỗ Uông, thì Đỗ Uông tâu:


- Tâu bệ hạ, xưa có chuyện Nguyên Thành tông ép Mạnh Lệ Quân thoát hài, người đời còn truyền coi như một phong lưu vận sự. Làm vua bắt bề tôi chết bề tôi còn phải chết, huống hồ lại ban ơn mưa móc cho kề cận mình rồng. Đến Lễ nghi nữ học sĩ Nguyễn Thị Lộ là thiếp yêu của Tế văn hầu([1]) mà vua Lê thái tông đòi vào hầu giá còn phải vào, huống hồ Nguyễn Thị Duệ hiện vãn chưa thành gia thất. Bệ hạ cứ giáng chỉ phong cho nàng làm phi tần, nếu nàng không tuân sẽ khép vào tội kháng mệnh.


 Mậu Hợp vui vẻ, khen ngợi Đỗ Uông và sai Uông thảo tờ sắc phong Nguyễn Thị Duệ làm thứ phi.


Nội giám mang sắc chỉ vào lãnh cung tuyên đọc cho Duệ nghe. Nghe xong, Duệ không chịu lạy sắc chỉ và nói:


- Thánh vương lấy giáo hóa trị thiên hạ, hẳn không lạ gì câu: Gái tiết trinh không thờ hai chồng. Tôi đã trót hẹn hò mối duyên với người khác từ trước rồi nên không thể nhận lời làm phi tần của nhà vua. Xin công công về tâu lại với Ngài ngự như vậy cho.


Nội giám về tâu lại với Mậu Hợp. Mậu Hợp cho vời Đỗ Uông vào bàn bạc, Đỗ Uông vốn là quan chấm trường nên cho gọi những bạn đồng môn của Duệ vào dò hỏi. Có người khai với Uông, Duệ trước đây đã từng kết giao thân mật với Vũ Trần Phúc, con trai của Vũ Sư Thước và Ngọc Lan công chúa. Nghe nói Trần Phúc mất tích một thời gian, gần đây lại xuất hiện trong hàng ngũ quân Lê ở Thanh Hoa.


Dò được tin này, Đỗ Uông vội vào tâu với Mậu Hợp để tâng công. Mậu Hợp nổi giận, truyền giam vĩnh viễn Duệ trong chốn lãnh cung vì có liên can đến kẻ phản nghịch. Đỗ Uông lại dèm pha với Mậu Hợp, Giáp Hải là học trò Nguyễn Bỉnh Khiêm mà Bỉnh Khiêm lại là bạn đồng học với Sư Thước, vì vậy Giáp Hải tìm cách che chở cho Duệ. Mậu Hợp tin lời, tỏ ý nghi ngờ Giáp Hải, Giáp Hải chán nản bèn xin cáo quan về, không được bao lâu thì mất. Đỗ Uông được Mậu Hợp cất nhắc lên chức Lại bộ thượng thư tước Phúc quận công thay chân Giáp Hải.


 


XI- Tháng chạp năm Tân Mão([2]), Trịnh Tùng lại bàn ra quân. Bèn sai Trịnh Văn Hải, Nguyễn Thất Lý đem quân thủy bộ đi trấn giữ những nơi hiểm yếu ở các cửa biển. Lê Hòa kiêm coi võ sĩ trong ngoài bốn bệ theo hầu canh giữ ngự dinh.


Đến kỳ tiến quân, điều khiển chia làm năm đội, cùng tiến một lượt. Đội thứ nhất là dinh tả khu, bọn Nguyễn Hữu Liêu và Trịnh Ninh đem quân tinh nhuệ cùng tướng sĩ các dinh cơ trung nghĩa cộng 1vạn người, làm tiên phong đi trước. Đội thứ hai là dinh hữu khu, bọn Hoàng Đình Ái, Trịnh Đồng đem voi ngựa và 1 vạn quân. Đội thứ ba là dinh tiền khu, Trịnh Đỗ đem voi ngựa và 1 vạn quân. Đội thứ ta là đại dinh trung khu, Trịnh Tùng thân đốc binh mã trung quân 2 vạn người. Đội thứ năm thì bọn Hà Thọ Lộc và Ngô Cảnh Hựu cũng đốc xuất quân chở lương làm hậu quân.


Không chia giờ khắc, quân từ Tây Đô đi ra theo đường huyện Quảng Bình qua phủ Thiên Quan, đào núi mở đường, luồn cây xuyên rừng, qua sông chui hang, đi gấp hơn 10 ngày đến núi Mã Yên ở đầu địa giới mà đóng dinh. Hiệu lệnh phân mình, quân sĩ vâng lệnh, sửa sang đội ngũ, ngày hôm sau qua núi Mường Mộng đất Thanh Xuyên, sai các quân sau khi thu lương gạo thì đến Ma Nghĩa.


Quân đi đến đâu giặc đều như cỏ bị gió lướt, không đến mười ngày dẹp yên các huyện Yên Sơn, Thạch Thất, Phúc Lộc, Tân Phong rồi đóng dinh ở Tốt Lâm.


Bấy giờ họ Mạc bèn đem hết đại binh, đòi gọi binh mã bốn trấn, bốn vệ năm phủ, ước hơn 10 vạn người, hẹn đến ngày 16 tháng ấy đến Hiệp thượng Hiệp hạ họp quân đánh lớn. Sai Mạc Ngọc Liễn đốc các tướng sĩ binh mã Tây đạo, Nguyễn Quyện đốc các tướng sĩ binh mã Nam đạo, bọn Ngạn quận công, Thùy quận công đem binh mã Đông đạo, bọn Dương quận công, Xuyên quận công đem binh mã Bắc đạo, bọn Khuông định công, Tân quận công đem binh mã bốn vệ, Mạc Mậu Hợp thân đốc binh mã chính dinh, hậu đội thì trong có các tôn thất họ Mạc và tướng túc vệ ở Đông Đạo đi sau tiếp đánh.


Trịnh Tùng cũng kéo quân đi đánh, đến chùa Ngô Sơn dừng lại đóng quân, chia doanh đặt trại, thủy bộ tiếp ứng cho nhau, đội ngũ chỉnh tề. Mạc Mậu Hợp nghe tin liền chia quân đi chặn địch. Hơn hai tháng đôi bên đánh nhau mấy trận không phân thắng bại.


Ngày 27 tháng hai, Trịnh Tùng nghe lời Lương Hữu Khánh bày mưu kế dụ địch, bèn hạ lệnh nói phao lên rằng: vì hết lương ăn nên phải rút quân về. Trước hết sai người đưa xe lương về theo đường tắt, phao tin cho bên Mạc biết để dụ chúng đem quân đuổi theo đánh úp. Lại mật truyền cho Nguyễn Hữu Liêu đem 1.000 quân bí mật tiến vào chân núi, xem xét địa hình tìm nơi hiểm yếu để đặt phục binh. Trịnh Tùng tự dẫn đại quân tiến đến đóng quân ở xã Phấn Thượng.


Ngày 28, giờ dần, Mạc Mậu Hợp thống đốc đại đội binh mã tiến thẳng đến dàn trận trước doanh trại quân Lê và chia quân tỏa đi vây bọc bốn phía. Sau bọn Khương định công và Tần quận công đốc thúc binh mà làm tiền đội tiên phong, dinh tướng Tây đạo làm binh mã của hữu dực, dinh tướng Nam đạo làm binh mã của tả dục, dinh tướng hai đọa Đông và Bắc làm binh mã của hậu đội. Bốn đội quân khua chuông đánh trống tiến đi một loạt. Mạc Mậu Hợp thân tự đốc chiến.


Trịnh Tùng nghe tin báo cả cười rằng:


- Bọn giặc kia chẳng hiểu việc binh, ếch ngồi đáy giếng lại muốn khoe khoang sức mạnh! Thế là lọt vào bẫy của ta rồi.


Nói đoạn, vào trong trướng gọi họp các tướng để sai phái. Lệnh cho hai doanh Thận Nghĩa và Khuông Nghĩa tiến ở hai cánh tả hữu, doanh Tuấn Nghĩa làm quân tiên phong hai doanh Tráng Nghĩa, Sùng Nghĩa tiến sau làm hậu ứng. Sai tướng sĩ dinh hữu khu tiến trước khiêu chiến, lại chọn 400 quân thiết kỵ lên trước trợ chiến. Hạ lệnh cho các dinh cơ theo đúng lệnh tiết chế.


Bấy giờ bên Mạc sai hai tướng Tân quận công An Nghĩa, và Khuông định công xuất quân đánh ập vào. Hai quân đón đánh giáp nhau, từ giờ mão đến giờ tỵ, nhuệ khí bội thêm Trịnh Tùng cầm cờ chỉ huy, ba quân nghe lệnh, cố sức đánh. Tướng Mạc là Tân quận công, Khuông định công trở tay không kịp, đều bị chém đầu trước trận.


Họ Mạc thấy thế quân không địch nổi, sai đóng quân lại không động. Giờ thân, Trịnh Tùng thân tự đốc chiến, chỉ huy ba quân, bên tả đánh về phía tả, bên hữu đánh về phía hữu, đều có kỷ luật. Tướng sĩ hăng hái gươm giáo kín trời, gắng sức đồng thanh thề phá giặc. Bấy giờ bắn ba phát súng to, quân Lê không ai không một người địch trăm người, thế thắng như chẻ tre. Quân Mạc sợ hãi, tả không kịp trông sang hữu, trước không kịp trông đằng sau, quân lính tuy nhiều, nhưng cờ xí lộn xộng, hàng ngũ đã rối, quân Lê nhân thế đánh tan. Các quân thừa thắng đuổi dài đến tận Giang Cao, chém được hơn 1 vạn thủ cấp, máu chảy khắp đồng, xác chết thành núi, cướp được khí giới và ngựa không xiết kể.


Mạc Mậu Hợp sợ hãi mất mật, quay đầu chạy bừa về phía Bắc. Khi đến chân núi bị phục binh của Nguyễn Hữu Liêu xúm đến vây đánh. Mậu Hợp cả kinh bỏ ngựa, xuống thuyền qua sông mà chạy. Tàn quân tranh nhau xuống thuyền, người trông thuyền sợ thuyền đắm, lấy gươm chặt tay người bám vào thuyền bị rơi xuống nước chết đến quá nửa, còn thì đều tự chạy trốn.


Trịnh Tùng xua quana đuổi theo. Bỗng có một nghĩa quana chạy ngựa đến báo rằng tướng Mạc là Thường quốc công đã cho đặt phục binh ở xã Phấn Hạ để chẹn phía sau.


Trịnh Tùng bèn hạ lệnh xuất quân tiến đánh. Tướng Mạc Thường quốc công biết mưu bị lộ, đang đêm bỏ quân trốn về Thăng Long. Trịnh Tùng đánh thắng, thu quân về đóng trại ở huyện Yên Sơn, rồi sai quân đi thám thính tình hình quân Mạc. Quân do thám trở về báo rằng Mạc Mậu Hợp đóng quân ở xã Yên Thạch. Trịnh Tùng bèn sai chọn 100 con voi đực, sai Nguyễn Hữu Liêu lĩnh 3.000 quân, cùng với voi và ống lửa, súng lửa, nhằm ban đêm tiến đánh, bắn vào doanh trại để phá tan quân Mạc.


Nguyễn Hữu Liêu vâng lệnh, đang đêm dẫn quân tiến thẳng đến doanh trại quân Mạc, xua đàn voi chiến và bắn ống lửa súng lửa vào đốt trại. Quân Mạc không chống cự nổi, tán loạn khắp nơi tìm đường tẩu thoát. Mạc Mậu Hợp cả sợ chạy trốn về Thăng Long còn Nguyễn Quyện thì biết thân lánh xa từ trước.


Thấy trời gần tối, Trịnh Tùng đóng quân lại ở Hiểm Sơm. Ngày 30, Trịnh Tùng đốc các dinh tiến quân đến chợ Hoàng Xá, đóng lại 1 tháng, hạ lệnh cho quân các dinh qua sông Cù, phá hủy lũy tàn của giặc, san làm đất bằng. Chiều hôm ấy Trịnh Tùng bàn với các tướng rằng:


- Nên nhân cái uy thế như sấm sét không kịp bịt tai mà đánh lấy thì dễ như nhặt hải cải.


Bèn tiến quân, sai Nguyễn Hữu Liêu đem 5.000 binh tinh nhuệ và voi đực cùng ngựa bọc sắt, đến giờ dần thẳng tiến đến đóng ở Cầu Cau tại góc tây bắc thành Thăng Long, tung lửa hiệu bắn liền bảy tiếng, đốt cháy nhà cửa, khói lửa khắp trời. Trong thành sợ hãi rối loạn. Mạc Mậu Hợp sợ hãi cuống quít, bỏ thành chạy trốn. Đêm hôm ấy già trẻ gái trai thành trong thành ngoài, tranh nhau xuống thuyền qua sông, bị chết đuối đến hơn 1.000 người. Đến sáng Hữu Liêu lại thu quân về hành dinh.


Gặp ngày Tế Nguyên đán, Trịnh Tùng ủy lại tướng sĩ, hẹn phải thu phục Kinh thành. Ba quân phấn khởi vui mừng, đều nguyện báo ơn nước. Bấy giờ tuy đảng Mạc còn mạnh, chưa thể dẹp yên, nhưng oai thanh quân Lê mỗi ngày thêm lừng lẫy.


 Ngày mồng 3 tháng giêng năm Nhâm Thìn([3]), Trịnh Tùng sai quan lập đàn sắm lễ, tế Trời Đất, Thái tổ Cao hoàng đế và các vị hoàng đế triều Lê, cùng là các linh thần núi sông, các danh tướng xưa nay trong nước. Trịnh Tùng lạy khấn rằng:


- Thần là Trịnh Tùng làm mang trách nhiệm quan trọng của nhà nước, hiện cầm quyền lớn dánh dẹp, vâng mệnh đánh kẻ phản nghịch để cứu dân. Nghĩ rằng: Xã Tắc dân chúng của triều Lê gặp phải kẻ gian thần phản bạn là họ Mạc giết vua cướp nước, tội ác rất sâu, ngược dân dối thần, hại đầy oán chứa, để cho nhân dân lầm than gần 70 năm, nguyên do gây nên họa loạn không phải là một hai ngày. Nay thần cùng bọn tướng tá thề không cùng sống sót với giặc, há có thể cùng đội trời chung. Xin liệt thánh hoàng để các tiên triều soi xét lòng thần, để diệt giặc Mạc cho dân được yên, để khôi phục lại đất đai của triều Lê.


Sau đó Trịnh Tùng cùng các quan văn võ và các tướng hướng về phía hành tại của vua Lê kính vái chúc mừng, Trịnh Tùng mở tiệc lớn khoản đãi các tướng, khi cuộc rượu ngà say. Tùng bảo các tướng.


- Bọn ta vâng chiếu lệnh của thiên tử dẹp trừ giặc dữ quét sạch gian tà. Nay giặc Mạc chưa yên, ta muốn cất quân đi đánh, tiễu trừ cho hết loài sói lang. Chẳng hay ý các tướng thế nào?


Các tướng đều đứng dậy chắp tay bẩm rằng:


- Bọn thấp hèn chúng tôi được hưởng tước lộc nhà vua, ai nấy đều nhờ ơn nặng của nhà nước. Nay ngụy Mạc đánh giữ đều không xong, chính là lúc bọn chúng đang tan rã. Chúng ta không nhân lúc này mà đánh phá thì còn đợi đến bao giờ? Xin minh công xuống lệnh chia quana, bọn chúng tôi xin tùy cơ đánh dẹp, diệt trừ hết đảng nghịch, lấy lại Đông Kinh. Ý nguyện của chúng tôi là như thế.


Trịnh Tùng cả mừng, thân rót rượu khoản đãi các tướng.


Ngày hôm sau, Trịnh Tùng họp các tướng lại bàn viẹc tiến quân. Trịnh Tùng nói:


- Cái thế chẻ tre không nên bỏ lỡ. Huống chi ta vâng mệnh đi đánh kẻ trái phép, vốn để yên dân, các tướng nên răn cấm tướng sĩ, nghiêm ngặt nhắc lại ước thúc, sửa sang đội ngũ, hiệu lệnh rõ ràng tin thực. Phàm quân đến đâu không được xâm phạm mảy may, không được cướp bóc lương dân, tài vật không phải của giặc thì không được lấy bậy. Quân đi có kỷ luật thì giặc dễ phá.


Tướng sĩ đều dạ ran. Trịnh Tùng bèn hạ lệnh cho các dinh nhổ trại, tiến đến bờ sông phía tây Ninh Giang. Phàm quân đi đến đâu, không xâm phạm của dân mảy may, chợ không đổi hàng, người đều yên ổn, tranh nhau đem trâu rượu hương hoa đầy đường, già trẻ gái trai đón tiếp quân Lê, quỳ lạy trước cửa quân mà nói rằng: Nay mứi vén được mây mù mà thấy trời xanh, niềm vui lan khắp trời đất.


Quân Lê đến đóng ở Ninh Giang, đặt đồn bày trận vững như thành đồng vách sắt. Trịnh Tùng hạ lệnh rằng:


- Những tướng sĩ các doanh nên theo ba điều mà răn cấm các quân. Một là không được tự tiện vào nhà dân lấy củi hái rau. Hai là không được cướp bóc tài vật, chặt phá hoa màu. Ba là không được hiếp dâm đàn bà con gái, cùng là vì thù riêng mà giết người. Ai trái thì chém rao cho mọi người biết.


Ba quân nghe lệnh đều nghiêm chỉnh đội ngũ, không dám xâm phạm của dân. Trăm họ vui theo, đều nói rằng từ thời Lý Trần Lê về sau, nay lại được thấy quân nhân nghĩa như thế. Người ta theo về như đi chợ. Phàm người trí thức mạnh khỏe đến cửa quân đều vui lòng làm việc.


(còn tiếp)


Nguồn: Đất Thang mộc II – Sứ mệnh phù Lê. Tuyển tập Truyện Lịch sử của Hoài Anh, Quyển 7. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.







([1])  Tức Nguyễn Trãi.




([2]) Năm 1591.




([3]) Năm 1592.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 24.03.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
Hòn đất - Anh Đức 14.03.2017
Một chuyện chép ở bệnh viện - Anh Đức 14.03.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 09.03.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 09.03.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.03.2017
Hồi ký điện ảnh - Đặng Nhật Minh 14.02.2017
xem thêm »