tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20524826
Tiểu thuyết
01.07.2009
Hoài Anh
Đất Thang mộc II - Sứ mệnh phù Lê


X- Được tin Phúc đi bơi ngoài sông rồi chết đuối, Duệ hết sức thương tiếc bạn, cô thường ra bờ sông thuê người dò tìm suốt dọc sông xem có thấy xác Phúc trôi dạt vào đâu đó không, nhưng mãi vẫn không thấy. Ban đầu cô rất đau khổ vì nhớ bạn, nhưng vì phải dốc tâm lo việc đèn sách nên nỗi buồn cũng dần dần giảm nguôi. Sức học Duệ cũng ngày càng tấn tới, từ thầy đến chúng bạn đều khen ngợi.


Đến khi nhà Mạc mở khoa thi hội, Nguyễn Thị Duệ đội tên Nguyễn Văn Duệ theo sĩ tử lều chiếu vào trường. Qua ba kỳ, văn bài của Duệ rất xuất sắc nên đỗ ngay tiến sĩ.


Khi cho vời các vị tân khoa vào bệ kiến, Mạc Mậu Hợp vốn là một con quỷ hiếu sắc nên khi thấy dung nhan vẻ con gái của Duệ đã sinh nghi. Y định bụng nếu có dịp sẽ tìm cách khám phá xem Duệ có phải là gái cải nưam trang hay không?


Sau khi thi đỗ, Duệ được phong chức Hàn lâm viện tu soạn chuyên soạn chiếu sắc cho vua. Lời văn đã tươi đẹp, ý tứ lại sâu xa nên được vua Mạc vừa lòng không ngớt lời tán tụng.


Một buổi Duệ vừa thảo xong một bài chiếu, Mạc Mậu Hợp cầm lấy bàn tay Duệ đưa lên ngắm nhìn. Mậu Hợp nói:


- Khanh có những ngón tay búp măng... à quên tháp bút tuyệt vời như thế này, hèn chi không chữ tốt văn hay. Ta yêu quý những ngón tay thanh tú này lúc nào cũng chỉ muốn vuốt ve trìu mến...


Duệ vội rút tay lại:


- Tâu bệ hạ, phận vua tôi cách biệt, bệ hạ đừng nên làm thế kẻo bá quan lại cho rằng thân du mị đức vua nên trong cung mới có điều xuồng xã...


- Trẫm vì quý yêu tài năng văn chương chữ nghĩa của khanh nên mới có cách đối xử đặc biệt như vậy, khanh chớ nên e ngại. Xưa Tống Thái tổ quý mến Triệu Phổ ban đêm còn mời vào nằm chung kia mà...


Duệ xấu hổ đỏ bừng mặt:


- Tống Thái tổ và Triệu Phổ là hai ông già, còn bệ hạ và thần đang trong thời niên thiếu, tưởng cũng nên cẩn thận trong sự chơi bời, nếu quá phóng túng e thiên hạ cho rằng bệ hạ là hôn quân còn thần là nịnh thần đó. Bệ hạ nên giữ gìn một chút thì hơn...


Mạc Mậu Hợp cười lả lơi:


- Chao ôi! Khanh nổi giận gò má ửng hồng lên trông tuyệt đẹp chẳng khác gì con gái. Trẫm chỉ muốn suốt ngày được bầu bạn bên khanh để đàm luận thơ văn, đến đêm lại gác chân cùng ngủ cho thỏa tình khao khát...


Nói rồi Mậu Hợp quàng tay toan ôm choàng lấy vai Duệ. Duệ vùng tránh ra ròi nghiêm sắc mặt:


- Bổn phận thần vào đây để soạn chiếu sắc, nay chiếu đã thảo xong xin bệ hạ cho phép thần lui chầu, để đến phiên sau sẽ xin vào hầu giá.


 Mậu Hợp nước nước bọt tiếc rẻ nhưng đành nén lòng:


- Thôi được, trẫm cho khanh được hồi gia, nhưng lần sau khanh vào chầu sớm hơn để vua tôi có đủ thì giờ đàm đạo văn chương thi phú...


Duệ vái chào Mậu Hợp rồi dời gót khỏi cung. Mậu Hợp nhìn theo thầm nghĩ:


- Ta đoán chắc chín phần mười Duệ là con gái rồi. Để lần sau y vào cung ta sẽ có cách thử để tường chân giả...


 Mậu Hợp tự rót cho mình một ly ngự tửu uống ực một hơi như để trút nỗi bực bội thèm thuồng của một tên vua dâm đãng.


Duệ trở về dinh trong lòng vô cùng lo lắng. Hôn quân đã để mắt đến nàng, như vậy nàng khó lòng thoát khỏi bàn tay dâm bạo của y. Trong lúc này Duệ bỗng nhớ Phúc vô hạn, nàng nghĩ rằng nếu Phúc có ở đây sẽ giúp nàng vượt qua được hoàn cảnh éo le này. Nàng quyết không bao giờ để cho hôn quân vùi hoa dập liễu, để phụ mối tình trong trắng với Phúc trong buổi đầu đời. Nhưng nếu từ bỏ chức quan trốn đi thì lấy đâu ra lương bổng đỡ đần cha mẹ trong lúc tuổi già. Hơn nữa trốn đi hì không khỏi liên lụy đến song thân mà cả nàng cũng chưa chắc đã thoát vì hôn quân sẽ cho quân đi truy tẩm tróc nã, khó lòng lọt lưới chúng giăng khắp nơi. Thế là Duệ đành phải ẩn nhẫn sống ở trong triều rồi sẽ tính sau.


Vả chăng Duệ cũng tin rằng, nếu mình ân cần khuyên ngăn, chắc vua Mạc cũng không dám làm quá, vì còn phải giữ thể thống của ngôi chí tôn. Biết đâu trong triều chẳng có vị quan trung trực can gián không để cho nhà vua đi vào con đường hoang dâm tửu sắc.


Cũng may sau lần tống tình vừa qua, Mậu Hợp không nhắc đến chuyện đó nữa. Nàng nghĩ chẳng qua nhà vua trong cơn say rượu không kiềm chế nổi mình, mới có cử chỉ buông thả như vậy, âu cũng là chuyện thường tình. Nhà vua còn trẻ tuổi tránh sao chẳng có lúc lòng xuân phơi phới. Miễn sao không đi quá giới hạn đạo vua tôi là được rồi.


Tháng mười năm Đinh Hợi([1][1]), Trịnh Tùng đem quân đánh phá các huyện Gia Viễn, Yên Hóa, Phụng Hóa thuộc các phủ Trường Yên, Thiên Quan, đánh dẹp đến chợ Rựa, sai làm cầu phao, phá được dinh của Tân quận công của Mạc.


Tháng mười một, quân ra phái tây nam, đến huyện Mỹ Lương. Họ Mạc sai Mạc Ngọc Liễn đem quân ra huyện Ninh Sơn đánh phía tả, lại sai Nguyễn Quyện đem quân ra huyện Chương Đức, qua sông Do Lễ đánh về phía hữu.


Quyện đến sông Do Lễ, chia quân phục sẵn ở con đường nhỏ chân núi để đợi quân Lê tới, định đánh chặn đường vận lương của quân sau. Kế hoạch đã định như thế, Trịnh Tùng nghe tin, bèn chia quân để lại cho bọn Hà Thọ Lộc và Ngô Cảnh Hựu hộ vệ quân vận lương ở sau, sai Hoàng Đình Ái đem quân đi ngầm về trước để giữ Thanh Hoa. Lại sai bọn Nguyễn Hữu Liêu, Trịnh Đỗ, Trịnh Đồng, Trịnh Ninh đều đem quân ra đường phía tả để cầm cự với quân của Mạc Ngọc Liễn, chống giữ để chưa thế của địch. Trịnh Tùng thì đốc đại binh ra đường phía hữu tiến đánh Nguyễn Quyện.


Hai bên đánh nhau, quân Lê thắng to. Quyện tự liệu không thể chống nổi, bèn rút hết quân chạy, quân phục cũng tan vỡ, tranh nhau sang sông, chết chìm không biết bao nhiêu mà kể. Quân Lê chém giặc cắt tai đến hơn vài trăm thủ cấp, đuổi theo hơn nửa ngày đường mới đóng quân.


Từ đấy Quyện sợ binh uy nếu có gặp thì lánh xa không dám đánh nữa. Ngọc Liễn sai người dò biết quân của Quyện bị thua, cũng rút quân chạy xa. Ngày hôm sau, quân Lê đi lối Đốn thủy tiến đóng ở Hoàng Sơn. Lại tiến đánh các huyện Yên Sơn, Thạch Thất, binh đến đâu là đánh tan đó, lấy được của cải trâu bò không sao kể xiết.


Tháng chạp, Trịnh Tùng bàn với các tướng rút quân về, đi theo đường cũ qua phủ Thiện Quan, quân đi qua không xâm phạm mảy may của dân.


Ít lâu sau, cả trấn Hải Dương xôn xao vì một người đàn bà mù đến hát rong ở vùng này. Người đó hai mắt bị khoét thủng chỉ để lại vết sẹo thâm rúm ruó nhưng gương mặt trắng trẻo đầy vẻ quý phái. Tuy bà đã đến năm mươi tuổi nhưng trán cao, mũi dọc dừa cằm thon khiến người ta đoán lúc trẻ tuổi bà phải có một nhan sắc diễm lệ. Nhưng cảnh đói khổ đã in sâu lên gương mặt khiến trán bà đầy vết nhăn, gò má nhô cao nhưng má lại lõm sâu vào khiến bà đầy vẻ hốc hác tiều tụy. Tuy vậy tiếng hát bà vẫn trong mỗi khi cất lên không ai ngờ rằng đó là của một người luống tuổi. Chắc bà có học rộng kinh sử nên không hát những bài ca vè dân gian như những người hát rong bình thường, mà lại kể những câu chuyệ như kiểu “thoại bản” đời xua, mỗi khi đến bài thơ hay bài ca trong truyện thì bà lại ngâm hay hát lên cho mọi người nghe. Trong số người nghe có nhiều người là nho sĩ đã phải thầm phục về tài nhớ tích xưa chuyện cũ của bà. Do đó bà được hưởng khá nhiều tiền nên cũng đủ sống lần hồi.


Bữa nay, đám đông lại xím xít chung quanh bà vòng trong vòng ngoài để nghe kể chuyện. Một thầy đồ nói:


- Bữa nay bà kể chuyện “Thái trung lang” cho chúng tôi nghe đi, nếu hay sẽ có thưởng.


Lại một thiếu phụ nói:


- Bà kể chuyện “Trần Thế Mỹ bất nhận tiền thê” cũng được...


Một thiếu niên xen vào:


- Chuyện Võ Tòng sát tẩu” hay hơn, bà kể đi...


Bà hát rong mỉm cười nhìn mọi người bằng cặp mắt không tròng rồi hỏi:


- Bữa nay tôi không muốn kể chuyện tích bên Tàu mà xin kể “Chuyện nàng Túy Tiêu “trong sách” Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ tiên sinh cho các vị nghe, xin đừng chê là quê mùa. Rồi bà bắt đầu kể:


“Người đất Kiến Hưng, Dư Nhuận Chi tên là Tạo Tân, có tiếng hay thơ; nhất là về những bài hát, lại càng nức danh ở kinh kỳ. Cuối đời Thiệu phong nhà Trần, Dư nhân có việc, vào yết kiến quan Trấn soái Lang giang là Nguyễn Trung Ngạn. Ông Nguyễn thấy Dư đến, lật đật ra tiếp, đặt tiệc ở Phiếm bích đường thết đãi, gọi mười mấy người con gái ra hát múa ở trước tiệc. Trong bọn con hát có ả Túy Tiêu là người rất xinh đẹp. Ông Nguyễn đùa bào Dư sinh rằng:


- Ấy tùy ngài kén chọn trong bọn ấy, hễ bằng lòng ai thì tôi xin tặng cho.


Rồi âm nhạc nổi lên. Sinh ngâm một bài thơ sau này:


Hoa sen đóa đóa rỡ ràng tươi,


Góp mặt nhà tiên lúc nói cười.


Áo lụa say nằm nghe gọi dậy,


Giang Nam một khúc quyến hồn người.


Ông Nguyễn cười bảo Túy Tiêu rằng:


- Thầy đồ để ý vào nàng đấy([2])


Sinh hôm ấy uống rượt rất say, mãi đến đêm khuya mới tỉnh, đã thấy nàng Túy Tiêu ở cạnh, cảm ơn ông Nguyễn không biết chừng nào. Sáng hôm sau, sinh vào tạ ơn ông Nguyễn để về.


Ông Nguyễn cho Túy Tiêu theo Sinh về Kiến Hưng. Túy Tiêu vốn có khiếu thông tuệ, mỗi khi sinh đọc sách, nàng cũng học thầm mà rồi thuộc được. Sinh nhân đem những cuốn sách nói về thơ từ mà dạy nàng.


Năm Mậu Tuất, nhân gặp khoa thi, Sinh sắm sửa hành trang lên kinh; không nỡ rời nhau, nên đem theo cả nàng cùng đi, cùng trọ tạm phố Phường Thái ở cửa sông. Gặp ngày mồng một đầu năm Túy Tiêu rủ mấy người bạn gái, đến chùa tháp Báo thiên dâng hương lễ Phật. Bấy giờ có quan Trụ quốc họ Thân thầm đi chơi phố, trông thấy Túy Tiêu đẹp, bắt cướp đem về làm của mình. Sinh làm đơn kiện tận triều đình, nhưng vì họ Thân úy thế rất lớn, các tòa các sở đều tránh kẻ quyền hào, gác bút không dám xét xử. Sinh đau buồn lắm bèn chẳng thiết gì thi cử nữa. Một hôm Sinh thủng thỉnh đi chơi ngoài phố, gặp đám người cưỡi ngựa đi xem hoa về, tiền hô hậu ủng rất oai vệ, trên đường thì trăm thoa rơi rắc, hồng tía tơi bời, sau cùng thấy Túy Tiêu ngồi trên một chiếc kiệu căng riềm lụa hoa, đi qua dưới rặng liễu. Sinh muốn chạy đến than thở, nhưng thấy những người cùng đi với nàng đều là bậc quyền quý, không dám đường đột chỉ đắm đuối nhìn và ứa hai dòng lệ, không nói được một lời nào.


Nhân Túy Tiêu trước có nuôi đuôi chim yểng, một hôm Sinh trỏ đôi chim mà bảo rằng:


- Chúng mày là loài vật nhỏ, còn được suốt ngày quấn quít với nhau, không phải như ta lạnh lùng chiếc gối. Ước sao chúng mày nhẹ tung đôi cánh, vì ta đưa đến cho nàng được một phong thư.


Con chim yểng ngh nói kêu lên và nhảy nhót như dáng muốn đi. Sinh bèn viết một phong thư, buộc vào chân nó. Thư rằng:


Kiệu hoa dưới liễu hôm nào,


Vội vàng chẳng kịp đưa trao một lời.


Trông ai nước mắt thầm rơi,


Tấc gang bỗng cách đôi nơi mịt mùng.


Cửa hầu sâu thẳm nghìn trùng,


Sớm hôm khách những riêng lòng ngẩn ngơ.


Tình xưa kể đến bao giờ,


Cảm sầu mọi mối như tơ rối bời.


Thơ ngâm nhớ bữa tiệc mời,


Giọng ca lanh lảnh để người như say.


Cung đàn nào đã so dây,


Giai nhân bỗng được trao tay rước về.


Tình sâu chưa kịp giãi giề,


Bắc nam vội đã chia lìa khá thương.


Chim hồng buồn bã kêu sương,


Mây Tần thăm thẳm xa buông tối mù.


Người nương trướng gấm êm ru,


Người ôm một mảnh chăn cù giá đông.


Ham vui nệm tía màn hông,


Biết chăng kẻ chốn thư phòng thương đau?


Con chim yểng bay đi, đến đậu ở màn Túy Tiêu. Nàng được thư, bèn viết một bức thư trả lời. Thư rằng:


Thiên thai một cuộc kỳ phùng,


Thú vui lửa đượm hương nồng chưa bao.


Chương đài cành liễu nghiêng chao,


Biệt ly mang nặng biết bao oán sầu.


Duyên may hóa rủi ngờ đâu,


Ngậm hờn nuốt tủi chịu rầu cho xong.


Bẽ bàng đổi khác tư dong,


Tóc xanh biếng chải, môi hồng biếng tô.


Thương xuân vách phấn đèn lu,


Trông gương ngấn lệ mơ hồ, ngại soi.


Tiền hồng thư mới tới nơi,


Chia loan càng xót xa đời biệt ly.


Liễu Hàn tạm bẻ vin đi,


Nhưng châu Hợp phố phải về quận xưa.


Nỗi lòng trăm mối vò tơ,


Thư dài đến mấy vẫn chưa hết lời...”


Thơ đã hay, giọng ngâm của bà lại réo rắt khiến cho người nghe đều chau mày rơi lệ. Mỗi lần dứt một khúc, tiền thưởng lại ném và trong cái rổ của bà như mưa.


Bà kể tiếp chuyện: Túy Tiêu từ đó buồn rầu sinh ốm. Quan Trụ quốc hỏi có phải nàng còn nhớ anh chàng bán thơ hay không? Nàng thú thực rồi toan lấy chiếc khăn là thắt cổ tự tử. Trụ quốc buộc lòng phải vời Dư đến, sai dọn một cái buồng nhỏ làm nơi đọc sách cho Sinh, nhưng về việc Túy Tiêu cứ lần lừa mãi không cho hai người nối môi duyên xưa. Sinh lập mưu xin với Trụ quốc cho đi rồi nhờ một ả hoàn đến báo tin cho Túy Tiêu đúng ngày ra chỗ hẹn. Giọng bà càng hùng hồn rắn rỏi như chứa đựng nỗi oán hờn:


- Đến ngày mồng một tết sinh và ngưòi đầy tớ già cùng ra vến Đông, quả thấy úy Tiêu đứn xem hội đốt cây bông ở trên bến. Người đầy tớ bèn đi lẻn vào rút dùi sắt trong tay áo ra, nện bửa vào đám người theo hầu, khiến bọn phu kiệu, phu dù điều chạy tan hết, rồi cướp lấy Túy Tiêu đem đem đi. Hai người trông thấy nhau nửa phần thương xót, nửa phần mừng vui, nhưng còn sợ Trụ quốc đuổi theo bắt lại. Túy Tiêu nói:


- Hắn chỉ là đồ yếu hèn mà làm đến bạc Vệ Hoắc([3]) kêu xin chạy chọt, lúc nào ở cửa cũng rộn rập những người ra vào, vàng bạc châu báu trong nhà, chồng chất đầy dẫy. Trừ và gặp phải hỏa tai, của cải trong nhà ấy không biết có cách nào tiêu mòn đi được. Nhưng tọi đầy ác chứa, thế tất cũng chẳng được lâu. Có điều bây giờ họ còn đương thịnh, uy thế ấy cũng rất đáng sợ. Chi bằng ta ẩn hình náu vết, về trốn tránh ở chỗ nhà quê, khỏi bày ra tai mắt mọi người để tránh cái vạ nguy hiểm.


(còn tiếp)


Nguồn: Đất Thang mộc II – Sứ mệnh phù Lê. Tuyển tập Truyện Lịch sử của Hoài Anh, Quyển 7. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


 







(1 Năm 1588.




([2]) Câu thơ thứ ba nguyên văn chữ Hán: “Túy chẩm tiêu y hô đắc khởi” trong đó có hai chữ Túy Tiêu.




([3]) V Thanh và Hoc Kh Bnh, hai danh tướng đi Hán.




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
xem thêm »