tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19376796
01.07.2009
Vũ Bằng
Bốn mươi năm nói láo (21)

“THẾ GIỚI” VÀ “CÔNG CHÚNG”


Lúc nhà xuất bản “Thế Giới” ra tờ “Chăm Học”, tôi viết nhiều loại sách khác nhau cho Hợi, vui cười có, giáo dục có, y học có, văn hóa có. Thấy một mình Hợi vật lộn với tờ “Chăm Học” không bao giờ phàn nàn mệt nhọc, tôi giúp anh phần đọc các bài vở gửi về, chọn lựa và đặt thứ tự lúc làm “mi”. Tất cả nhân viên thường trực của nhà xuất bản và báo chí chỉ có ba người: Nguyễn Văn Hợi, Cung Mạnh Đạt và tôi. Ban ngày, anh em làm không kể giờ giấc, nhưng bắt đầu từ sáu giờ chiều thì việc gì cũng bỏ đấy hết, ba anh em lái xe đi ăn cơm, khi Sài Gòn, lúc Chợ Lớn, khi Thủ Đức và tối nào cũng trở về Ngã Sáu, đường Lý Thái Tổ, thọc banh bàn hay chơi bi a, có khi đến một hai giờ sáng mới về. Thời kỳ này tương đối là thời kỳ êm ả nhất trong đời làm báo của tôi. Tình bạn hữu thắm thiết hơn ruột thịt. Bởi vậy, đến khi Hợi xin được tờ “Thế Giới” thì anh báo cho tôi biết tin trước nhứt và giục tôi lo liệu mọi thứ: vẽ ma két, tổ chức tòa soạn, viết bài. Tôi nhận luôn cả việc sửa mô rát nữa, vì chúng tôi muốn rằng tờ “Thế Giới” sẽ là một tờ báo đẹp cả về nội dung và hình thức, thứ nhứt là viết đúng ám tả và càng tránh được phốt typô bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu.


Gần đúng với mong muốn của chúng tôi, tuần báo “Thế Giới” trình bày đẹp với tấm bìa in nhiều màu offset, còn bài vở bên trong thì được sự cộng tác quý báu của nhiều nhà văn nhà báo có tiếng, vừa già vừa trẻ, như Lê Hữu Thanh (biệt hiệu của một ký giả hữu hạng cùng với Trương Tửu cầm chịch nhóm Hàn Thuyên gồm có Nguyễn Quốc Ấn, Nguyễn Đình Lạp, Nguyễn Tuân và cũng đã gây tiếng tăm một dạo cho tờ “Đời Mới” ở Sài Gòn, với bút hiệu là Hà Việt Phương), Lê Văn Siêu, Trần Văn Ân, Nguyễn Trần Huân, Hồ Hữu Tường, một chánh trị gia mà nhiều người biết tiếng, Thanh Thương Hoàng chuyên về phóng sự, Hà Ngưu Nữ Lang, một môn đệ của Hồ Hữu Tường, thi sĩ Uyên Thao. “Thế Giới” đã đăng nhiều bài mà bây giờ nhiều người còn nhớ, như “Việt đạo”, “Kinh tế sử quan”, “Kim Dung”, “Trung Hoa và chúng ta”, “Hồ Xuân Hương”, những tiểu thuyết như “Cưới trắng”, “Người thứ nhứt”, những phóng sự như “Đi hoang” hay những bài bổ ích cho thiếu niên như những bài trong mục “Dựa cột mà nghe” giải thích những danh từ mới thường hay dùng trong văn Việt… Dầu sao, một tờ báo đứng đắn mà lại nặng về giáo dục như “Thế Giới” chỉ có thể có một số độc giả hạn chế như tờ “Tri Tân” của Nguyễn Tường Phượng hay “Thanh Nghị” của nhóm Đặng Thai Mai, Vũ Văn Hiền thời tiền chiến… Nhưng “Tri Tân” ngày trước còn có trợ cấp của anh em, chớ Nguyễn Văn Hợi thì chỉ trông vào thực lực của mình, nên Nguyễn Văn Hợi làm tờ “Thế Giới” có tiếng mà không có miếng. Nhưng “lì” vốn là tính cố hữu của anh, Hợi cứ lo cho báo đứng mà không hề phàn nàn với ai bao giờ và nhứt định không chịu thay đổi đường lối, phương châm: tôn chỉ đã định thế nào thì cứ giữ nguyên như thế, mặc dầu có nhiều người lung lạc và định dùng tiền để lèo lái tờ “Thế Giới” thành một tờ báo chánh trị theo kiểu “Le Monde” của Pháp, làm cơ quan chính thức của Bộ Ngoại giao. So với các nhà xuất bản khác có tiếng ở Hà Nội, như ông Vũ Đình Long chẳng hạn, anh Hợi trẻ hơn, nhưng tính toán công việc đâu ra đấy và được anh em tương đối tin yêu nhiều vì anh đối xử với các văn gia, ký giả với tính cách anh em nhiều hơn là với tính cách con buôn.


Tờ “Thế Giới” sống đều đều như thế được hơn ba năm thì xảy ra biến cố Tết Mậu Thân, khu Phạm Ngũ Lão tức khu đặt nhà in và nhà báo, bị pháo kích nên “Thế Giới” phải ngưng xuất bản. Sau đó ít lâu, Hợi lại định tục bản theo đúng đường lối cũ với một hình thức khác, thêm sự cộng tác của nhiều ký giả, văn gia khác nữa, nhưng giấy phép đã quá hạn ba tháng, Bộ Thông tin không cho tục bản, trong khi bao nhiêu báo khác, cả nhật, tuần lẫn nguyệt báo, được phép xuất bản cho bằng thích, đến nỗi giấy báo hết sạch trơn, làm cho một số được giấy phép xuất bản hẳn hoi mà không có phương tiện ra chào đời.


Cho đến số chót, tôi viết bài đều đều cho “Thế Giới”, nhưng thực ra thì khoảng đầu năm thứ ba, tôi không đi lại được thường xuyên với báo, vì lúc ấy công việc ở nước ngoài buộc tôi thường vắng mặt. Đến khi phong trào nổi lên của Phật giáo Ấn Quang ở miền Trung tạm yên, Nguyễn Chánh Thi đi Mỹ để chữa bịnh đau lỗ mũi, tôi về làm tờ “Công Chúng” – một tờ báo hàng ngày, mà ngay từ lúc chưa xuất bản đã mang tiếng là báo của hai ông Kỳ và Loan. Thực ra tờ “Công Chúng” được phép là do ông Kỳ lúc ấy làm Chủ tịch Hành pháp Trung ương ký cho xuất bản; nhưng lúc ký, chính ông có lẽ không nghĩ đến việc lấy tờ báo ấy ra làm cơ quan cổ xúy cho mình. Cũng như tất cả những tờ báo mang tai mang tiếng như thế, “Công Chúng” lúc đầu không chạy lắm, dù là chủ bút Tô Văn và bỉnh bút số một Cát Hữu, đã xuất toàn lực ra để làm thành một thứ báo kiểu “Sept jours – Paris soir” phối hợp, đưa ra những tin kỳ lạ hay những tài liệu độc đáo “Những chuyện chưa ai biết về Điện Biên Phủ”. Anh em tòa soạn làm việc không mấy hăng, nhưng sau một thời gian sống tằng tằng, “Công Chúng” đã dám lên tiếng bênh vực những người bị đưa ra tòa nhân “vụ án miền Trung”, thuật lại tất cả những chi tiết vụ nổi lên của Phật giáo miền Trung, trình bày rành rọt ai ngay, ai gian, ai phải, ai trái và kêu gọi các nhà hữu trách phải kịp thời xét lại thái độ để cho sau này không có chuyện đáng tiếc xảy ra. Báo “Công Chúng” đơn phương làm việc đó nên nhiều người đọc, mặc dầu vẫn yên trí là báo của chánh quyền; nhưng qua loạt bài ấy báo lại trở lại số in bình thường vì, trái với điều người ta mong đợi, “Công Chúng” không có một thái độ dứt khoát về hiến chương Phật giáo – mà theo độc giả chỉ có tờ “Công Chúng” mới dám nói sự thật về hiến chương Phật giáo mới thống nhất.


Vụ này khởi đầu từ việc thầy Thích Tâm Châu từ chức Viện trưởng Viện Hóa Đạo, thầy Thích Thiện Tường lên thay, đồng thời Lục Cả Lâm Em giữ chức Tăng thống thay Hòa thượng Thích Tịnh Khiết. Hiến chương Phật giáo Thống nhất mới ra đời bị các thầy Ấn Quang đả kích, viện lẽ hiến chương mới chỉ có năm thượng tọa ký, mà hiến chương cũ có mười một thượng tọa ký, cuộc tranh đấu giữa hai phe Phật giáo bắt đầu.


Tăng ni tới trước dinh Độc Lập yêu cầu thu hồi sắc luật 23/67, thừa nhận hiến chương mới. Ấn Quang không chịu gặp Thích Tâm Châu; Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia duyệt y hiến chương mới. Các tăng ni biểu tình ngồi trước dinh Độc Lập. Các thượng tọa ký tên trong bản Tân Hiến chương Phật giáo lại viết thư cho Ấn Quang yêu cầu thảo luận để giải quyết vấn đề tranh chấp. Một số tăng ni lại tự thiêu, để lại nhiều thư cho Đức giáo hoàng, Tổng thống Johnson và trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, ngỏ ý đòi thu hồi Tân Hiến chương Phật giáo.


Vụ tranh chấp kéo dài ra hàng năm. Trí Quang và Tâm Châu cùng theo một giáo mà coi nhau như cừu địch. Nguyên nhân tại đâu? Hội đồng Dân tộc Cách mạng, nhóm bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ, có biết nguyên nhân tại đâu không mà dám ra thông cáo quyết lập một ủy ban hòa giải để dàn xếp vụ “tranh chấp giữa Phật giáo và Chánh phủ”? Những người đọc báo “Công Chúng” không hiểu vì lẽ gì, hầu hết đều yên trí là báo “Công Chúng” am hiểu đầu đuôi vụ này và chỉ có báo “Công Chúng” nói ra mới rành rọt câu chuyện, nhưng báo đã không vì độc giả làm công việc đó, nên đến cuối năm Mùi thì bắt đầu xuống. Rồi biến cố Tết Mậu Thân xảy ra, báo ra chậm hơn các báo khác, để cho nhiều tờ khác vượt lên – trong số có tờ “Tiền Tuyến” có phương tiện và có tư thế để ra ngay hôm mồng hai Tết, cướp độc giả của rất nhiều báo khác.


Bánh xe lịch sử báo chí lại quay như hồi “Saigon Mai”. Báo bị hạn chế ít lâu rồi lại xuất bản nhiều vô số kể, nhưng cũng như số phận các giai nhân, có nhiều tờ bạc mệnh như cô Kiều, cũng có nhiều tờ không đẹp ác liệt mấy, nhưng cứ sống đều đều như Thúy Vân, ăn no, ngủ kỹ trong khi cả nhà Vương ông lung tung tí mẹt vì Kiều phải bán mình chuộc tội cho cha.


 


Phần 5: Báo là gì?


QUYỀN THỨ TƯ: QUYỀN RƠM VẠ ĐÁ


Báo thường chạy khi trong nước có biến cố, nhưng chính vào những lúc có nhiều biến cố thì báo lại rụng xuống như sung. Hôm nay, hai tờ bị đóng cửa vì “tiết lộ những tin tức có lợi cho địch”, mai lại ba tờ khác bị đóng cửa “cho đến khi có lịnh mới” vì đã “đăng tải những tin tức có lợi cho đối phương”, có những lúc người làm báo ở đây cảm thấy mình cưỡi lên lưng cọp: cứ ngồi lì thì không biết rồi cọp tha mình đến đâu, mà nhảy xuống thì bị cọp ăn tươi nuốt sống. Thậm chí có khi đăng một thông tư chính thức mà cũng bị đóng cửa như thường – mà bị đóng cửa không biết kêu vào đâu, không biết than thở, oán trách ai.


Tôi nhớ vào những ngày tàn của Ngô Đình Diệm, làm “Việt Nam Pờ Rét”, có một buổi sáng tôi giật mình tưởng ngủ mê khi được đọc một thông tư của Phủ Tổng thống gửi sang. Thông tư kinh khủng một cách lạ vì trong đó viết rõ rằng: “Bà Nhu cãi nhau với Ngô Tổng thống, và Ngô Tổng thống tức giận đã cầm một bình mực ném vào mặt bà Nhu”. Tôi tưởng có anh nào chơi lỡm, đưa cái thông tư trên để xỏ tờ báo của nhà nước, nhưng xem con dấu đóng thì rõ ràng của Phủ Tổng thống không sai. Tuy nhiên, vẫn không tin những dòng chữ vừa đọc, Tổng thư ký tòa soạn “Việt Nam Pờ Rét” phôn sang hỏi văn phòng cho kỹ lưỡng và yêu cầu cho biết có nên đăng tải thông tư ấy không. Một lát sau, chuông điện kêu ran: văn phòng xin chỉ thị chót của ông cố vấn rồi. Lúc ấy, ở ngoài phố người ta đồn rằng ông cố vấn mất trí, chích á phiện trắng nhiều như điên, có khi nói trước quên sau, ngây ngây dại dại, như thể có sương mù trong óc và che lấp mắt. Nhưng lần này, không thể bảo ông lẫn được: văn phòng đã xin chỉ thị lúc ông rất tỉnh; ông cười và bảo cứ đăng. Và “Việt Nam Pờ Rét” đăng y nguyên văn như thế. Dù sao, có những báo tối ư cẩn thận thấy vậy mà không dám cắt ra để đưa cho nhà xếp chữ lên mặt báo; trái lại, cũng có tờ cho là thú vị đăng tải nguyên văn. Kết cục, có bốn tờ đăng tin ấy thì hai tờ bị đóng cửa, hai tờ không – mà không hiểu tại sao lại có sự kiện lạ lùng như  thế – còn “Việt Nam Pờ Rét” thì không làm sao hết. Chẳng hiểu cơ quan này, sau đó, có bị khiển trách hay không; chỉ biết rằng mấy ngày sau thì Diệm Nhu bị giết, sinh viên biểu tình đốt trụ sở cơ quan này ở đường Hồng Thập Tự, thành thử  việc đó cũng chìm vào quên lãng.


Nghe thuật lại chuyện này, chắc có nhiều bạn cho là kỳ cục; nhưng ở trong nghề cũng chẳng lạ gì vì, ở dưới thời nào cũng vậy, đều có sự kỳ cục như vậy. Nằm trong chế độ kiểm duyệt, thiếu gì những tờ báo cùng đăng tải một tin gần giống nhau hay giống hệt nhau, mà đến buổi chiều, ngồi đấu các báo xuất bản ngày hôm đó với nhau, người làm báo thấy tin ấy ở báo này bị bỏ mà báo kia lại được ra; tờ báo này bị xén hai ba dòng, nhưng báo kia thì bị đục trọn vẹn, trắng phau như “pạch pản”. Phản đối, vô ích. Và cũng vô ích nữa, nếu một buổi sáng đẹp trời kia, vào cái lúc bất ngờ nhất, ông nhận được một cái giấy chiếu điều này, sắc lịnh kia, cho biết báo ông bị đóng cửa vô hạn định, vì lý do này hay lý do khác, hoặc có khi chẳng vì lý do gì hết, như dưới thời các ông Phan Huy Quát, Nguyễn Văn Lộc, phần nhiều báo bị đóng cửa mà không hề được biết đã mắc tội phạm thượng, khi quân gì.


Những người làm báo đã chai rồi, thấy những cái giấy đó, coi là thường và cười như những nhà triết học; nhưng cũng có những ký giả và chủ báo choáng người, chửi thề như con nhòng và đưa ra những luận cứ cũ mèm nghe mà điếc con ráy: nào là “không có tự do ngôn luận; không có tự do báo chí, cách mạng con vồ, dân chủ ngụy tạo… cứ cái đà này thì đến Tết Công Gô mới mong mở mày mở mặt …”.


Kỳ lạ một điều là báo bị bịt miệng như thế mà hết lớp này xin ra báo lại đến lớp kia xin ra báo; biết là nói chêch đường rầy thì bị đóng cửa mà cứ có hoài những tờ báo đi chệch đường rầy. Có người bảo tôi rằng đó là tại vì những người xin ra báo ấy nhắm hai điểm danh và lợi.


Nhớ lại lúc còn chân trong chân ngoài ở làng báo, tôi cũng đã có lúc nghĩ như thế; tôi cho rằng báo là một bộ môn tếu của văn hóa, mà người làm báo hành nghề là vì muốn lấy le và kiếm ít tiền lẻ, vì ngoài nghề báo không còn biết cách nào khác để kiếm ra tiền. Sau này, tôi nhớ có ba lần tôi lờ mờ thấy hiện trong óc một cái gì khác thế về quan niệm đối với báo chí và người làm báo. Đã đành là nghề nào cũng có kẻ hay người dở, người dở làm mang tiếng cho nghề là sự dĩ nhiên; nhưng người làm báo chân chính, hành nghề vì một cái gì cao cả hơn, làm cho người ta hy vọng và đặt nhiều tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng, chớ không phải vì danh và lợi. Danh? Thử hỏi có gì? Một ông chủ báo ở một nước ngụy dân chủ có hơn gì một ông hàng xén? Mà quyền thứ tư của báo chí, thử hỏi là cái thá gì, hay chỉ là cái quyền hờ được xun xoe cạnh ngoại kiều cao cấp hay các ông bự trong chánh quyền – một thứ quyền rơm, mà cái vạ nhiều khi không thể lường được vì không những thiệt thòi đến tiền nong, di hại đến gia đình mà còn di hại cả đến hình hài nữa. Mà lợi thì lợi gì? Ở đời, nhất là trong lúc lăng nhăng như lúc này có nhiều nghề khác kiếm lợi bằng trăm làm báo: một người thợ, một xa phu, một chủ quán rán bít tết khoai bán cho Phi, một bà nuôi con gái lớn lên gả cho Mỹ hay một gác dan coi “ên tờ răng” và “ếch xít” cho một nhà tắm hơi còn kiếm ăn được hơn một ký giả lành nghề. Vậy thì người ta cứ viết báo làm gì? Cứ lăn lộn trong nghề báo làm gì?


Lắm lúc ngồi suy nghĩ, tôi ghê sợ những ông chưa từng biết báo chí là gì mà sang Liên hiệp quốc dám nói bậy nói bạ về báo chí; tôi ghê sợ những ông không hề biết về đời sống của ký giả mà dám bảo rằng ký giả chỉ uống rượu uýt-ky, hút á phiện, ăn sung mặc sướng và tôi ghê sợ luôn cả những ông bộ, ông thứ bị chỉ trích, đi kiện nhà báo và chửi đổng những người làm báo là bọn nói láo ăn tiền, không có ích gì cho xã hội.


Không. Tôi thú thật đến tận bây giờ tôi vẫn chưa hiểu nổi tâm lý của người viết báo, nhưng có một điều chắc chắn là đa số những người viết báo, trước đây và hiện nay, không phải là thứ người như tôi lúc mới bước vào nghề, quan niệm báo chí là một thú chơi vô hại, một trò giải trí rẻ tiền; nhưng họ biết chắc báo chí là một cái gì cao cả hơn thế, có một ích lợi bao quát hơn hết cả mà lại có tính cách đấu tranh đại quy mô tuyệt vời.


Người làm báo không vì danh vì lợi, thế thì vì gì mà cứ lăn lộn, lên xuống, thất điên bát đảo mãi vì nghề báo? Có lẽ họ tự đày ải thân họ như thế chỉ vì họ là những người tự trọng, những người có học; họ thiết tha với nghề văn nghề báo, bởi vì họ nhận thức nghề làm báo, viết văn là đệ tứ quyền thực, mà cách mạng tư sản, mở đầu là cách mạng tư sản Pháp, truyền bá đi.


Thực sự báo chí là gì? Báo chí không phải là một trò giải trí, nhưng là một bộ môn văn hóa phản ảnh sinh động nhất, đầy đủ nhất tính chất của một chế độ xã hội, cho một chế độ xã hội; không những nói lên phẩm chất hoặc văn minh siêu việt hoặc thoái hóa, đồi trụy của chế độ ấy mà còn đi sâu vào từng tình tiết, tâm tư của con người, từng khía cạnh trớ trêu, uẩn khúc, giả tạo của xã hội.


Trung thành với lý tưởng chống áp bức, chuộng tiến bộ mà tinh thần của con người đã ủy thác cho nó, báo chí luôn luôn có tính năng đấu tranh và xây dựng: khuyến khích điều tốt là xây dựng, kêu gọi dân chúng đoàn kết nhất trí để chống xâm lăng là xây dựng, cổ xúy đạo đức cách mạng là xây dựng; ngược lại, hoặc công khai hoặc dùng mánh lới để phanh phui cái xấu, nói rõ sự thật phũ phàng, cũng vẫn là xây dựng, xây dựng cho sự vươn lên của xã hội, sự tồn vong của giống nòi.


Như trên kia đã nói, vì quyền lợi dân tộc một mặt, vì quyền lợi của một chế độ hay của một chánh phủ mặt khác, hai quyền lợi ấy có mâu thuẫn và thường khi trái nghịch nhau, nên báo chí phải kinh qua những nghịch cảnh, những thăng trầm, những thiệt thòi, mà người làm báo – cũng như làm chánh trị – bị vu cáo, tù tội, đói rách, đàn áp, chụp nón lên đầu, có khi bị chết oan ức mà không ai biết tới. Nhưng tất cả những thử thách, những oan trái, những khủng bố, không những không làm nản chí tiến lên của người làm báo chân chính mà lại còn gọt giũa cho tâm hồn họ mỗi ngày mỗi sắc nhọn hơn, tâm trí họ trung kiên hơn và phương châm tranh đấu rõ rệt hơn. Do đó, người làm báo chân chính không sợ uy vũ, không bị mê hoặc vì lợi danh, không chịu để cho ngòi bút mình tủi hổ, cho nên cũng vì thế nhà báo vẫn là trong số những người đáng kính nể nhất. Hàng ngày, có biết bao nhiêu người ngoài mặt thì chửi càn, nói láo mà nhiều khi tự thâm tâm họ cũnh thấy nể vì, kính sợ nhà báo bởi vì nhà báo là điển hình của chính nghĩa mà lũ cầy cáo chỉ là tượng trương của tà đạo: cách gì tà đạo cũng phải lu mờ trước chính nghĩa ngàn năm bất diệt!


“Bốn mươi năm nói láo” thực ra không phải đến đây là hết, mà chỉ là một sự tạm ngưng để cho tác giả nhìn thêm nữa, học thêm nữa, và suy nghĩ thêm nữa.


Báo chí là cơ quan bảo vệ, phổ cập chân lý: người viết báo không phải làm một nghề như bán bít tết khoai cho Mỹ, để vét tiền, nhưng là những chiến sĩ trong một cuộc trường chinh, tranh đấu từng đợt cho tự do dân chủ, cho quyền lợi của giống nòi, cho sự vuơn lên của dân tộc. Ở một nước tiên tiến, sự tranh đấu của báo chí tương đối nhẹ nhàng hơn. Ở nước ta, thiên la địa võng nhiều, tất nhiên cuộc tranh đấu cam go, đau khổ; vì thế báo chí tranh đấu cũng có phần khó khăn hơn, mà các báo cũng không thể nhất loạt sạch sẽ, bổ ích và cương cường ngay được; trái lại có khi phải mềm dẻo, một mặt lo sự sống còn của báo; một mặt lo cho báo có phương tiện để tồn tại, vì nếu báo không tồn tại được thì lấy gì mà tranh đấu – mà tranh đấu làm sao để tránh né được các đàn áp, khủng bố và vu cáo?


Mạt sát báo chí một cách vô trách nhiệm chỉ tỏ ra mình thiển cận. Có những bậc làm cha mẹ muốn cho con sung sướng, nhưng nghèo không thể có ngay một lúc đủ tiền để mua máy thu băng, máy lạnh, máy ti vi cho con sung sướng bằng người; những bậc cha mẹ ấy phải nhịn miệng để dành tiền lo cho con một đời sống tương đối đầy đủ, không quản thức khuya dậy sớm, một nắng hai sương. Những đứa trẻ có học, có hiếu, thấy thế và biết như thế, thương xót cha mẹ hơn lên chớ không hề chê cha mẹ khó, cũng như chó có nghĩa không bao giờ chê chủ nhà nghèo.


Người làm báo chân chính tranh đấu không cần ai khen, không sợ ai chửi hết. Người làm báo chân chính chiến đấu cho dân tộc, cho tương lai, có lúc nào rảnh rang chỉ ngồi nhìn lại quá khứ và tự hỏi lòng mình có xứng đáng làm chiến sĩ không, và chiến sĩ ở mức độ nào mà thôi.


Sau khi tờ “Công Chúng” đóng cửa, tôi có thời giờ rỗi rãi cũng thường nghiêm khắc duyệt lại đời làm báo của mình. Bao nhiêu những bóng hình cũ đôi khi lại hiện ra trước mắt. Có đêm, tôi mơ thấy những người bạn còn ở bên kia chiến tuyến; có đêm, nghe thấy trong tiếng gió vi vu hình như có tiếng cười của một Ngô Tất Tố, Nguyễn Tuân, một Phùng Bảo Thạch, Tô Hoài, Nam Cao; nhưng cũng có lúc xen vào tiếng mưa rơi, tôi tưởng như trông thấy những người bạn suốt đời viết báo, suốt đời khổ sở như Tản Đà, Văn Sen, Lan Khai, Lê Văn Trương, Vũ Trọng Phụng, Đinh Hùng, nay đã chết rồi mà vẫn còn cứ ôm ngòi bút viết bài nơi âm phủ.


Hỡi tất cả các anh em đã chết hay còn sống! Các anh có biết rằng ngồi kiểm điểm lại bốn chục năm làm báo, người bạn của các anh, hôm hay, ở đây đã chán chường đến thế nào không? Có những lúc tự nhiên trong óc người ta có một cái gì lóe sáng lên trong phút giây kỳ lạ lắm. Ngồi kiểm điểm lại đời làm báo của mình, có một lúc tôi cũng đã được thấy tia sáng huyền diệu ấy lóe lên và chính lúc ấy, tôi thấy rõ hơn cả bao giờ hết tôi không phải là một chiến sĩ với định nghĩa trọn vẹn của nó – nói một cách khác, tôi chưa phải là một chiến sĩ anh dũng trên mặt trận văn hóa, mặc dầu đã phó thác cả đời mình cho sự nghiệp.


(còn tiếp)


Nguồn: Vũ Bằng Toàn tập, tập I. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 1-2006.


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nói có sách (2) - Vũ Bằng 29.05.2017
Nguồn gốc người Việt - người Mường: Nước Xích Quỷ - Tạ Đức 21.05.2017
Nói có sách (1) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (6) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (5) - Vũ Bằng 18.05.2017
OIJ chấm dứt hoạt động, sự nghiệp OIJ trường tồn - Phan Quang 17.05.2017
Ký ức tháng Tư - Trần Đăng Khoa 02.05.2017
Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười (4) - Hà Minh Đức 04.04.2017
Gặp một người “Hà Nội Xưa và nay” và… - Thái Thành Đức Phổ 04.04.2017
Ma túy, những câu chuyện khốc liệt - Hoàng Điệp – Mai Vinh 23.03.2017
xem thêm »