tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18451544
Tiểu thuyết
27.06.2009
Hoài Anh
Đất Thang mộc II - Sứ mệnh phù Lê

Cũng năm ấy, Mạc Mậu Hợp bị bệnh thanh manh mờ mắt, tìm khắp các thầy thuốc hay trong nước chữa mấy năm mà vẫn chưa khỏi. Cho đi mời thầy lang từng chữa cho mình bệnh bán thân bất toại ngày trước, khi sứ giả tới nơi thì cụ đã qua đời rồi. Mậu Hợp than thở mãi không nguôi.


Lợi dụng cơ hội ấy, lại có con gái làm tay trong, Nguyễn Quyện kết bè đảng trong triều để gây vây cánh. Quan văn thì Quyện hiệp vưu với Phúc quận công Đỗ Uông, quan võ thì Quyện hợp sức với Sơn quận công Bùi Văn Khuê. Quyện lại đem con gái thứ bao là Nguyễn Thị Niên gả cho Bùi Văn Khuê để tăng thêm tình thân mật.


Thấy Nguyễn Quyện thế lực mạnh có ý muốn lấn át vua Mạc, các nho thầy ở Giang Đông dan biểu lên Mậu Hợp nói nên bỏ kẻ cường thần để nhà vua được tôn, đại lược rằng:


“Hiện nay đương lúc cứu vớt kẻ lìa tan, bề tôi nghĩa phải thuận theo, sớm tối không dời chỗ vua ở, trước sau không quên ơn chúa. Thế mà Nguyễn Quyện kia là dư nghiệt của kẻ gian tà, là kẻ tiểu nhân phản phúc, bội ước không thẹn việc cha, về triều lại còn nịnh hót. Kế sách hiện nay, cố nhiên phải võ hiệp với văn, tướng võ cùng mưu với tướng văn, miền Bắc thì hiệp với Kế khê hầu([1]) cùng bàn mưu mô, miền Tây thì viện Ngạn quận công([2]) mà cùng hợp sức, lấy hai ba người hào kiệt ấy cùng lòng cùng đức, giữ lấyơn hà gấm vóc này mà cùng hưởng phú quý, thì sẽ thấy giường mối của nhà vua lại chỉnh đốn, ngôi báu lại vững yên, con cháu nhà vua truyền mãi đến trăm đời vậy”.


Thấy nhiều người nhìn ra mưu đồ của mình, Quyện cũng có ý lo, không dám hành động trắng trợn như trước mà khôn khéo giữ mình. Lại được con gái nói đỡ cho ở bên trong nên Mậu Hợp cũng bỏ qua chuyện của cha vợ không hỏi đến. Kế đó Mậu Hợp chữa mắt đã khỏi nên cũng yên tâm không e có kẻ cường thần nhân mình bị bệnh mà chuyên quyền.


Mạc Mậu Hợp nghe lời khuyên của các nho thần, trọng dụng Giáp hải trở lại và phong làm Lại bộ thượng thư chưởng bộ sự kiêm Đông các đại học sĩ Kinh điện sự tham dự triều chính thái bảo Luân quạna công và đổi tên cho ông là Giáp Trưng, lấy tên Ngụy Trưng một hiền thần của Đường Thái tông ngày trước. Nhân dịp này, Giáp Hải xin vua không nên dùng bọn nịnh thần như Đỗ Uông nhưng Mậu Hợp không trả lời.


Đỗ Uông căm tức nhưng uy tín Giáp Hải quá lớn nên không làm gì nổi, Uông bèn vu hãm người cùng phái với Giáp Hải là Phạm Trấn, nói Phạm Trấn thường làm thơ bài bác chính sự. Hơn nữa giữa Đỗ Uông và Phạm Trấn còn có mối hiềm khích cũ. Nguyên Phạm Trấn ở làng Lam Kểu, huyện Gia Phúc, Đỗ Uông ở làng Đoàn Lâm, hai làng giáp giới với nhau. Khi còn trẻ tuổi, hai người cùng học, Đỗ Uông vẫn tự phụ về tài năng của mình, cho là Phạm Trấn không thể bì kịp. Không ngờ đến khi đi thi hội, Phạm Trấn đỗ Trạng nguyên mà Đỗ Uông chỉ đỗ Bảng nhãn. Đỗ Uông cho là quan chấm thi không công bằng nên tỏ ý không phục.


Đến lúc vinh quy, Trạng, Bảng cùng về một đường. Bảng nhất định không chịu nhường Trạng đi trước, cứ sóng cương ngựa đi ngang hàng nhau. Di mãi đến chợ Bồng Khê làng Hoạch Trạch, người làng ấy vốn biết tiếng hai ông hay chữ, nay cùng vinh quy về qua cầu làng, mới ra xin hai ông cho một bài thơ đề vào cầu.


Hai ông bảo nhau rằng:


- Cầu ngói này hơn mười gian, hạn đi qua bảy gian thì phải vịnh xong một bài thơ, hễ ai làm xong trước thì đi trước, không được tranh nhau.


Phạm Trấn y ước, ngồi trên ngựa vừa đi vừa vịnh, đi khỏi bảy gian thì vừa xong tám câu thơ. Ai cũng chịu là tài, chỉ Đỗ Uông không chịu, nói rằng:


- Bài ấy chẳng qua làm sẵn tự bao giờ, không phải mới làm, tài gì mà khen.


Nói thế rồi lại cứ đi ngang hàng. Đi đến làng Minh Luân lại có người mới làm nhà xong, đón đường xin một bài thơ để mừng nhà mới.


Phạm Trấn ứng khẩu đọc một bài rằng:


Năm năm thêm phú quý,


Ngày ngày hưởng vinh hoa.


Xưa có câu như thế,


Nay mừng mới làm nhà.


Đỗ Uông đã hơi chịu tài nhanh hơn mình. Khi đến cầu làng Đoàn Lâm, tục gọi là cầu Cốc, trong cầu có một người con gái bá hàng, tên là cô Loan. Hai ông mới thách nhau làm bài thơ nôm, đầu bài ra: “Cô Loan bán hàng cầu Cốc”. Hạn phải mỗi câu dụng hai tiếng thuộc về giống cầm, qua cầu phải xong bài thơ, hễ ai xong thì được đi trước, không được tranh nhau nữa.


Ông Phạm Trấn ngồi trên ngựa lại nghâm xong trước.


Thơ rằng:


Quai vạc đôi bên cánh phụng phong,


Giở giang bán chác tựa đồ công.


Xanh le mở khép nem hồng mới,


Bạc ác phô phang rượu vịt nồng...


đỗ Uông bấy giờ mới chịu nói rằng:


- Thò đọc ra đã thành thơ, nếu không có quỷ ngầm thần trợ thì sao được thế này?


Từ đấy mới nhường Trạng đi trước.


Sau triều đình Mạc mở khoa thi Đông các, đầu đề thơ là “Văn võ tịnh dụng”([3]), dùng thế ngũ ngôn, hạn 15 vần. Trong thơ Phạm Trấn có hai câu rằng:


Xưng Cao phong tự khởi,


Diệt Hạng đỉnh năng giang([4])


Kỳ này Phạm Trấn lại được đứng hàng nhất mà Đỗ Uông vấn phải thứ hai.


Lúc chưa đỗ đạt, có hôm hai ông cùng ngồi uống rượu, khi đã dở tay, thách nhau làm bài “Tửu tán”. Đỗ Uông đọc trước:


Hữu hoàng dụng hoàng,


Võ hoàng dụng hỏa.


Dụng tắc hàm nghi,


Thi vố bất khả.([5])


Phạm Trấn lại đọc tiếp rằng:


Tửu hoàng tắc ẩm,


Tửu hỏa tắc tuyệt.


Hữu vi thử ngôn,


Thiên địa nhật nguyệt([6])


Xem hai bài tán trên, người đương thời nhận thấy hai ông lập chí vẫn khác nhau xa. Quả nhiên, Phạm Trấn vì tính cương trực hay xúc phạm bề trên nên làm quan lẹt đẹt mãi chỉ lên đến chức Thừa chính sứ, còn Đỗ uông vì khéo xu nịnh nên leo vùn vụt lên chức Lại bộ thượng thư Phúc quận công.


Vì mối hiềm cũ cũng để chặt bớt vây cánh của Giáp Hải, Đỗ Uông vu cáo Phạm Trấn làm thơ chê bai triều đình. Mậu Hợp tin lời liền cách chức Phạm Trấn đuổi về dân dã. Thấy tình hình trong triều lục đục, Giáp Hải chán nản muốn xin cáo về hưu nhưng Mậu Hợp cố giữ nên ông đành nấn ná ở lại.


Nghe tin Lương Hữu Khánh đang giữ chức Bình bộ thượng thư cho nhà Lê, cầm quân đánh đâu được đấy, Giáp Hải chép miệng than:


- Không ngờ anh ấy lại là Ngũ Tử Tư, còn ta có muốn làm Thân Bao Tư cũng không được!([7])


Tháng mười bảy năm Quý Mùi([8]), quân Mạc xâm lấn Thanh Hoa, cướp các huyện dọc sông. Trịnh Tùng sai quân đánh ở ngoài cửa biển, đuổi đi rồi về. Từ đấy quân Mạc không dám vào nữa, mà nhân dân các xứ Thanh Hoa Nghệ An mới được yên nghỉ.


Tháng mười năm ấy, Trịnh Tùng đốc đại binh ra miền dưới Sơn Nam, đánh dẹp các huyện Yên Mô, Yên Khang, thu lúa rồi về.


Tháng giêng năm Giáp Thân([9]), Trịnh Tùng lại đem quân đi đánh dẹp các huyện Gia Viễn, Yên Mô, Yên Khang, lại tiến binh đi tuần huyện Phụng Hóa phủ Thiên Quan, sau đó đặt quân đóng đồn ở núi Kiềm Tu. Quân Mạc kéo đến đánh. Trịnh Tùng cho quân mai phục hai bên bờ sông ở khoảng chùa Điền. Quân hai bên đánh giữa giằng co đến hơn mười ngày. Trịnh Tùng thấy vậy hạ lệnh thu quân về.


Tướng Mạc tưởng là quân Lê khiếp sợ, bèn thừa thế đuổi theo. Đến chỗ có rừng rậm che khuất, đang lúc không đề phòng, bỗng nghe tiếng súng nổ vang. Quân Lê mai phục hai bên sườn núi liền nổi dậy xông vào giáp chiến. Quân Mạc thua to, tán loạn tìm đường chạy trốn, số chết tại trận rất nhiều. Những tên sống thoát tìm đường trốn về.


Tháng giêng năm Ất Dậu([10]) Trịnh Tùng thân đốc đại binh đi dẹp biên giới ở Tây đạo, do đường Thiên quan đánh phá các huyện Mỹ Lương, Thạch Thất, Yên Sơn.


Nguyễn Bỉnh Khiêm nằm trên giường bệnh, lòng thanh thản vì biết mệnh mình sắp hết. Ông đã chín mươi lăm tuổi rồi phải kể vào bậc đại thọ. Trong gần trăm năm của cuộc đời, ông đã chứng kiến bao cảnh thương tâm của nhân dân trong buổi loạn ly. Nhà ở đem làm củi, trâu cày mổ làm thịt ăn. Bọn quan quân cướp đoạt tài sản không phải là của mình, hiếp dỗ người không phải là vợ mình. Dân khốn khổ chẳng khác gì chim mất tổ, các bị máu dồn xuống đuôi. Trong khi ấy thì bọn quyền quý vẫn yên hưởng cảnh xa hoa, giọt nước tròn giỏ từ con cóc ngọc, gỏi chả từ các chép, cá giếc vàng, liễn bưng vào canh chim sẻ vàng, mâm bồng dâng lên nem gà gô. Món ăn giá đáng vạn tiền mà chúng vẫn không thèm nhúng đũa vì đã chán ngấy vị ngon nồng của bát trân. Ông từng làm bài thơ “Ghét chuột”, lấy con chuột để ám dụ bọn bóc lột, ăn bám:


Thạc thử hồ bất nhân,


Tháo thiết tư âm độc.


Nguyên đã hữu cảo miêu,


Lẫm đĩu vô dư túc.


Bao bần nông phu thân,


Cơ tích điền đã khốc.


Dân mệnh vi chí trọng,


tàn hại hà thái khốc.


Thành xã ỷ vi gian,


Thần nhân oán mãn phúc.


Ký thất thiên hạ tâm,


Tấy thụ thiên hạ lục.


Triều thị tứ nhĩ thi,


Ô diên khiết nhĩ nhục([11])


Ông từng dâng sớ xin chém mười tám kẻ lộng thần nhưng vua Mạc không nghe. Biết làm sao được khi chính triều đình lại là kẻ bóc lột lớn nhất, với tô thuế nặng nề, sưu dịch tàn tệ thì đâu có thể hạn chế sự bóc lột, áp bức của bọn quan lại trong triều và tay sai ở các địa phương. Ông chỉ còn biết mong mỏi: Người có nhân nếu biết suy lòng bất nhẫn, thương xót mà nới rộng cho dân một đôi phần. Nhưng đến cuối đời, ông hiểu rằng điều mong mỏi ấy chỉ là viển vông.


Bỗng một môn sinh vào báo có vua Mạc đến thăm. Nguyễn Bỉnh Khiêm bảo anh ta đỡ mình ngồi dậy để tiếp nhà vua.


Mạc Mậu Hợp từ ngoài bước thẳng vào trong phòng Nguyễn Bỉnh Khiêm nằm dưỡng bệnh. Thấy Bỉnh Khiêm có cử chỉ giữ lễ, Mậu Hợp vội nói:


- Tiên sinh yếu mệt cứ tự nhiên nằm xuống nghỉ ngoi, để ta ngồi ở bên giường trò chuyện cũng được.


Nguyễn Bỉnh Khiêm nói:


- Xin đội ơn bệ hạ, thần còn đủ sức ngồi hầu gía, bệ hạ cứ an tâm.


 Mậu Hợp cầm tay Nguyễn Bỉnh Khiêm nói:


- Ta nghe người đời đồn đại tiên sinh là ngời “thượng thông thiên văn, hạ đạt địa lý, tring kiêm nhân sự”([12]) nên muốn đến cầu tiên sinh dạy bảo cho một đôi lời. Nếu chẳng may tiên sinh khuất núi đi rồi, sau này nước nhà gặp cảnh nguy vong khi đó nên tính liệu ra sao?


Nguyễn Bỉnh Khiêm băn khoăn suy nghĩ. Từ ngày ông cáo quan về, tuy không tham dự quốc chính nhưng nhà Mạc vẫn kính như bậc thầy. Mỗi khi có việc trọng đại, vua Mạc thường sai quan về hỏi ý kiến của ông. Cũng vì các vua Mạc kế tiếp nhau tìm cách lợi dụng uy vong của ông để tăng thanh thế cho mình, cho nên lại có cớ để luôn luôn thăng chức cho ông. Khi về ông mới ở chức quan tam phẩm, nhưng sau nhiều lần được vua Mạc thăng chức, cuối cùng ông đã được phong chức Thái phó, cực phẩm trong triều. Rồi vua Mạc lại phong cho ông tước Trình quốc công. Dù có thể người ta không thực lòng, nhưng mình đã hưởng lộc của người ta thì ít nhiều cũng phải mang ơn, mới là kẻ biết điều. Ông nhìn thấy nhà Mạc tuy suy sụp nhưng binh lực vẫn hãy còn, Lê cũng chưa thể đè bẹp được ngay. Hai bên đánh nhau mãi mà chưa bên nào nuốt sống được bên nào, chi bằng mình tìm cách giảm nhẹ sự đối địch, giảm nhẹ xung đột bằng cách tạm thời tác các phe đối thủ ra, mỗi phe ở một góc và ở xa nhau như thế, thì họ đỡ đánh nhau. Chưa thể làm cho chiến tranh chấm dứt hẳn thì hãy tìm cách làm cho nó đỡ gay gắt, hơn nữa để tạo một thế cân bằng, tạm ổn định. Âu cũng là một cách giảm nỗi khổ cho dân. Vì thế trước đây ông đã khuyên Nguyễn Hoàng nên vào trấn đất Thuận Hóa để hạn chế sự xung đột giữa Trịnh và Nguyễn. Nghĩ vậy ông bèn thưa:


- Sau này nước nhà có bề gì, thì đất Cao Bằng tuy nhỏ cũng thêm được vài đời.


 Mậu Hợp thấy Bỉnh Khiêm nói vậy hiểu rằng nhà Mạc có thể không giữ nổi Thăng Long mà phải lánh lên miền núi rừng hiểm yếu để cố thủ nên lặng lẽ một hồi rồi cảm ơn Bỉnh Khiêm mà ra về.


Mấy ngày sau, bệnh Bỉnh Khiêm bỗng trở thành nặng, ông phải nằm liệt giường không ngồi dậy được. Những lúc chập chờn nửa mê nửa tỉnh, ông lại phảng phất thấy hình bóng của mẹ ông. Thương thay cho bà, cả đời chỉ ôm ấp một cao vọng sẽ kết duyên với một bậc đế vương, hay ít nhất cũng sinh được một người con làm nên sự nghiệp. Cũng vì thất vọng chuyện đó mà bà đã bỏ chồng bỏ con về bên nhà cha mẹ ruột ở, không bao lâu thì tạ thế vì bệnh. Bà có biết đâu rằng con trai bà tuy không làm vua nhưng lại trở nên bậc thầy của nhiều ông vua, chẳng khác gì Khổng Tử được gọi là người “nối nhà Chu mà làm vua không ngôi”. Ông đã trở nên một vị vua về tư tưởng đạo lý đương thời và làm khuôn mẫu cho đời sau. Với ý nghĩ ấy, ông thấy mình không có gì đáng hổ thẹn với đời và có thể yên lòng nhắm mắt.


(còn tiếp)


Nguồn: Đất Thang mộc II – Sứ mệnh phù Lê. Tuyển tập Truyện Lịch sử của Hoài Anh, Quyển 7. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


 







([1]) Tức Giáp Hải.




([2]) Tức Phan Ngạn.




([3]) Văn võ cùng được dùng.




([4]) Khe. Cao tổ đấy từ ấp Phong, diệt Hạng quân  sức hay cử đỉnh.




([5]) Dịch: Có hoàng thì uống rượu hoàng, không hoàng thì uống hỏa, uống đều say sưa, gặp chăng hay chớ.




([6]) Dịch: Rượu hoàng thì uống, rượu hỏa thì thôi, ví chẳng như lời, có đất trời soi.


 




([7]) Thân Bao Tư và Ngũ Tử Tư là hai người bạn thân. Khi Ngũ Tử Tư định sang giúp vua Ngô mang quân về đánh nước Sở để trả thù cha, Thân Bao Tư nói: “Nếu ngươi định làm cho Sở mất, thì ta quyết sẽ làm cho Sở còn. Nếu ngươi định là cho Sở nguy, thì ta quyết sẽ làm cho Sở yên”.




([8]) Năm 1583.




([9]) Năm 1584.




([10]) Năm 1585.




([11]) Dịch: Con chuột lớn kia sao mày bất nhân. Vùng trộm thêm nhiều âm mưu độc hại. Đồng nội có ma không. Kho đụn không thóc thừa. Vất vả, nghèo khổ, người nông phụ than vãn. Đói và gầy, trên ruộng đồng kêu khóc. Sinh mệnh của dân chúng rất là trọng. Tàn hại sao mà quá thảm khốc. Chốn thành xã dựa vào mà làm điều gian. Cả thần và người đều oán chứa đầy bụng. Mi đã làm mất lòng thiên hạ. Tất sẽ bị thiên hạ giết chết. Phơi xác mi, ở chốn riều thị. Quạ và diều rỉa thịt mi.




([12]) Trên thông thiên văn, dưới hiểu địa lý, giữa biết nhân sự.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 24.03.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
Hòn đất - Anh Đức 14.03.2017
Một chuyện chép ở bệnh viện - Anh Đức 14.03.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 09.03.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 09.03.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.03.2017
Hồi ký điện ảnh - Đặng Nhật Minh 14.02.2017
xem thêm »