tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19728953
Tiểu thuyết
26.06.2009
Hoài Anh
Đất Thang mộc II - Sứ mệnh phù Lê

Phúc nhớ thương mẹ nhưng ngẫm nghĩ lời ông cụ nói cũng có lý, nếu chúng đã dò ra chỗ mình ở mà hại mình thì chắc là mẹ mình cũn đã lọt vào tay chúng rồi. Mình cứ theo ông cụ về núi đã rồi sau đó sẽ hay. Mình học võ thành tài thì lo gì không có cách cứu mẹ. Nghĩ vậy Phúc liền thưa:


- Nếu cụ đã có lòng như vậy thì cháu xin theo cụ.


Hoàng Vũ Kiếm mỉm cười, vác Phúc lên vai rồi trổ thuật phi hành chạy như bay. Đến một thị trấn, ông tìm một quán trọ còn sáng đèn, vào thuê một phòng để hai thày trò nghỉ ngơi, Hoàng Vũ Kiếm gọi mấy món ăn để Phúc ăn cho lại sức rồi giục đi ngủ. Qua một đêm thấy tinh thần Phúc đã hồi phục, Hoàng Vũ Kiếm liền dẫn Phúc lên đường, nhằm phía trấn Nghệ An mà cất bước. Vừa đi hai thầy trò vừa chuyện trò với nhau, qua lời Phúc kể về mẹ mình, ông càng tin chắc đây đúng là con của Vũ Sư Thước và công chúa Ngọc Lan. Ông tự nhủ phải làm sao đào luyện Phúc thành tài để sau này trả thù cho cha và cứu mẹ.


Ngày đi đêm nghỉ, chẳng bao lâu hai thầy trò đã tới gần núi Hồng Lĩnh. Phúc đưa mắt nhìn thấy đó là một rặng núi non man mác với nhiều ngọn ca ngất từng mây chạy dài về phía chân trời. 99 đỉnh chon von cao thấp đứt nối, có ngọn núi giống hình đầu ngựa, đầu voi, sư tử, hàm rồng, mỏ phượng, mỏ gà... có ngọn núi giống hình người cụt đầu. Hai thầy trò trèn lên núi thấy nhiều khe suối chảy róc rách, những hồ tự nhiên, những vực sâu không đáy...


Dãy Hồng Lĩnh lắm đỉnh nhiều khe, ao, vực mà vẫn thông các lối trong ngoài, chưa kể đường thiên lý xuyên từ bắc đến nam Hồng Lĩnh, từ cây đa Kẻ Lách men theo tây núi về qua núi Bạch Tượng và con đường phía tây cũng từ Kẻ Lách đến Cương Gián, ở giữa các núi các động có lắm lối mòn, từ phía đông có đèo có lối thông với phía tây, có đèp ghép bằng đá.


Hai thầy trò men theo chân Hồng Lĩnh từ cây đa Kẻ Lách cho đến Kẻ Treo, khoảng sườn núi phía tây bắc này núi thoai thoải, chân núi có nhiều bãi đất rộng. Quá bãi Vọt về phía nam là Kẻ Treo, thuộc xã Độ Liêu, một đỉnh của Hồng Lĩnh, có tên gọi là Bạch Tượng, vì đứng xa trông giống một thới voi trắng phủ phục. Có khe Độ Liêu vốn hứng nước Đụm Sơn từ trong Hồng Lĩnh. Trèo lên đỉnh cao thấy trên đó có một động đá, Hoàng Vũ Kiếm mở cửa động dắt Phúc di sâu vào bên trong. Lúc đầu qua một cửa chật hẹp tối om nhưng đi thấy sáng dần vì có nhiều hốc đá lộ thiên đón ánh nắng mặt trời rót xuống.


Vào sâu trong động thấy nhiều phiến đá được gọt đẽo nhẵn nhụi làm bàn làm giường. Hoàng Vũ Kiếm bảo Phúc nằm nghỉ trên giường rồi đá rồi ông ra bên ngoài bắn một vài con thú rừng mang về nhóm lửa nướng chín, thầy trò cùng ăn với nhau. Ăn xong lại có trái cây dại trưong rừng để tráng miệng. Tuy hang đá lạnh lẽo, nhưng nhờ có đống lửa vừa nướng thịt sưởi ấm lên Phúc vừa nằm xuống giường chốc lát đã ngủ thiếp đi. Hoàng Vũ Kiếm lấy mấy chiếc đệm đan bằng mây đắp lên cho Phúc ngủ yên giấc.


Từ hôm sau, Hoàng Vũ Kiếm bắt đầu dạy phúc luyện tập võ nghệ. Vốn thông minh sáng dạ nên chẳng bao lâu Phúc đã nắm vững các yếu quyết của môn Thái cực quyền và Thái cực kiếm như cha cậu ngày trước. Hoàng Vũ Kiếm vui mừng lại dạy về thương pháp, côn pháp, đao pháp... không môn gì cậu không thành thạo. Ông hài lòng khi thấy Sư Thước đã có đứa con noi theo chí nguyện của cha.


Một hôm, Hoàng Vũ Kiếm nhân lúc thư nhàn nói với Phúc:


- Cha con xưa là người văn võ kiêm toàn, ta chỉ có thể dạy cho con và con về võ chứ còn văn thì ta không dạy nổi. Ở đỉnh Lân Sơn cũng trong dãy Hồng Lĩnh này có một vị ẩn sĩ tên là Trần Bảo Tín thi đậu bảng nhãn nhưng không chịu làm quan với nhà Mạc mà về chân núi mở trường dạy học. Âu là ta gửi con cho Trần tiên sinh dạy, con có làu thông kinh sử mới nối chí của cha con được.


Phúc thưa:


- Thưa sư phụ, trước con đã theo học thầy Nguyễn Nhân An võ vẽ đôi chút chữ nghĩa, nhưng bị kẻ gian bắt nên đàh dang dở. Nay sư hụ cho con tiếp tục sự học, con xin nguyện gắng học cho giỏi để khỏi phụ lòng người trông cậy.


Hoàng Vũ Kiếm gật đầu, hôm sau dẫn Phúc sang thụ nghiệp Trần bảng nhãn. Nghe giới thiệu Phúc là con trai Thám hoa Ngô Sơn Khoái tức Vũ Sư Thước và cháu nội Trạng nguyên Vũ Duệ. Trần Bảo Tín giật mình:


- Thế ra cháu cũng thuộc dòng danh giá thế phiệt, ông nội cháu khi xưa với ta là bậc ân sư. Ta sẽ cố rèn luyện cho cháu thành tài, để đền ơn ông nội cháu trước đây đã tác thành cho ta...


Từ đấy cứ sáng sáng Phúc đến chân núi Lân Sơn học văn, chiều về lại luyện thêm võ nghệ. Trần Bảo Tín ra sức hun đúc cho dòng máu của trạng nguyên Vũ Duệ lòng yên nước thương nòi, căm ghét hôn quân bạo chúa. Phúc thầm hứa mình phải học sao cho thành tài kiêm văn võ để trả thù cho ông cha và khôi phục nghiệp cũ nhà Lê.


Mạc Mậu Hợp đến tuổi trưởng thành lại có tính dâm ô, hành lạc bao nhiêu cũng không chán. Mặc dầu có chính phi là Vũ Thị Hoành, con gái của Cẩm y thự vệ sự Phú sơn hầu Vũ Văn Khê và tam cung lục viện, y vẫn dâm loạn cả với những cung nữ cũ của cha.


Ngày 21 tháng 2 năm Mậu Dần([1]), Mậu Hợp bị sét đánh ở trong cung, thành bệnh bán thân bất toại các ngự y chữa mãi không khỏi. Y vô cùng lo lắng cho là vì tội loạn luân nên bị trời trách phạt, y vừa làm lễ cầu khấn xin trời tha tội, vừa sức cho khắp các địa phương đâu có thày lang giỏi đều phải tiến dẫn vào Kinh để chữa bệnh cho y. Lệnh ban xuống, các thày lang khắp nơi đều lũ lượt vào Kinh, mong chữa khỏi bệnh cho vua sẽ được ban thưởng trọng hậu. Nhưng đã bao nhiêu thầy lang khoe tài Hoa Đà, Biến Thước, dùng hết phương này đến phương khác, tốn không biết bao nhiêu tiền của mà thuốc vẫn không hiệu nghiệm. Không những thế bệnh lại có phần trầm trọng thêm. Y tức mình ra lệnh chém đầu những thầy thuốc nào không chữa khỏi bệnh cho y. Từ đấy trong cung vắng bóng thầy thuốc, không ai dám liều lĩnh bén mảng đến nữa.


Bỗng một hôm có một cụ già râu tóc bặc trắng như cước xưng là thầy lang xin vào chữa bệnh cho vua. Nội thị mừng rỡ vội đưa thầy vào trong cung cấm. Mậu Hợp nói: - Nếu thầy chữa khỏi cho ta, ta sẽ ban thưởng vàng bạc rất hậu, còn nếu không khỏi ta sẽ chém đầu, thầy có chịu như vậy hay không?


Thầy lang ung dung thưa:


- Tâu bệ hạ, thần cam đoan chữa khỏi bệnh cho bệ hạ, nếu khỏi thần không xin ban thưởng gì mà chỉ xin bệ hạ ưng cho một điều kiện...


- Điều kiện gì, thầy cứ nói...


- Mấy năm nay, dân vùng thần ở chịu thuế má quá nặng, dân nghèo không đóng nổi, bị bắt bớ đánh đạp, nhiều người phải xiêu tán đi nơi khác, số dân trước mười nay chỉ còn một hai. Ruộng nương bị bỏ hoang, làm nơi cho chó sói lợn lòi sinh tụ. Thần chỉ xin bệ hạ ban ơn xá thuế cho dân vùng thần ở, được như vậy thần sẽ chữa cho bện hạ khỏi bệnh:


- Được, ta ưng cho, nhưng nếu không chữa khỏi thì thầy sẽ phải nộp mạng.


Nhờ thầy lang giỏi chữa mát tya, nên bệnh của Mậu Hợp không bao lâu đã thuyên giảm. Mậu Hợp vui mừng, xá thuế cho dân trong vùng thầy ở và giữa thầy ở lại làm ngự y, nhưng thầy kiên quyết chối từ.


Nhân bệnh khỏi, Mậu Hợp lấy đó làm điềm lành, nên đổi niên hiệu năm ấy làm Diên Thành năm đầu.


Khỏi bệnh rồi, Mậu Hợp chứng nào tật ấy cứ ăn chơi hành lạc như cũ.


Một hôm Mậu Hợp xa giá đến chơi nhà Nguyễn Quyện. Nguyễn Quyện gọi các con trai con gái ra lạy chào. Trông thấy con gái đầu của Quyện là Nguyễn Thị Nguyệt nhan sắc xinh đẹp, lấy làm thích, bèn ép Quyện đem nàng dâng vào cung. Quyện không bằng lòng nhưng vẫn phải chiều, vì sợ nếu trái ý vua sẽ bị trở ngại cho con đường công danh sau này.


Thấy vậy, em Quyện là Nguyễn Miễn liền nói với anh:


- Ngày xưa Ngô Khởi giết vợ để cầu làm tướng, nay anh cũng đành lòng dâng con gái, như vậy chẳng phải là điều sỉ nhục cho môn phong nhà ta hay sao?


Nguyễn Quyện lắc đầu:


- Chú mới biết một mà chưa biết hai. Chính phi của nhà vua hiện giờ là con gái quan coi ve Cẩm y làm việc canh giữ trong hoàng thành. Nếu ta trái ý vua thì lúc nào ông ta cũng có thể cho quân vây dinh thự để bắt giết ta. Ta tiến cử cháu Nguyệt vào cung, nhà vua say mê nhan sắc của nó, ắt sẽ lập nó làm chính phi thay cho Vũ thị và cách chức của cha thị. Khi đó ta sẽ dựa vào thế lực của cháu ở trong cung mà cử người trong nhà nắm lấy quyền canh giữ hoàng thành. Nhà vua đã nằm trong tay ta thì ta muốn thao túng quyền hành thế nào cũng được. Thế chẳng hơn để quyền sinh sát nằm trong tay người khác, đến nỗi chỉ cần mấy tên vệ sĩ cũng bắt trói ta được hay sao?


Nguyễn Miễn nghe xong gật gù phục anh là cao kiến.


Quả nhiên vào cung chưa bao lâu, Nguyễn Thị Nguyệt nhờ có nhan sắc diễm lệ lại khéo biết chiều lòng đón ý nên được Mậu Hợp phong làm chính phi. Còn chính phi Vũ Thị Hoành bị gián xuống làm tư dung. Mậu Hợp lại cách chức Vũ Văn Khê, cho con trái Nguyễn Quyện là Nguyễn Trù thay chức Cẩm y thự vệ sự, cai quản quân túc vệ canh giữ hoàng thành.


Mùa thu năm Tân Tỵ([2]), Mạc Mậu Hợp bàn định giao cho phụ chính Ứng vương là Mạc Đôn Nhượng thống lĩnh binh quyền, họp quân các đạo vào xâm lược các huyện dọc sông ở Thanh Hoa.


Đôn Nhượng đem quân vượt đường biển đến huyện Quảng Xương, đóng quân ở núi Đường Nang. Trịnh Tùng sai Hoàng Đình Ái thống lĩnh các tướng đem quân chống giữ. Đình Ái họp các tướng chia làm ba đạo, sai Nguyễn Hữu Liêu làm tiên phong, Đình Ái tự đốc đại binh làm chính đội, tiến quân đối trận với quana Mạc, bọn Trịnh Bính, Hà Thọ Lộc làm tả đội, chống nhau với Nguyễn Quyện, bọn Trịnh Văn Hải làm hữu đội, chống nhau với Mạc Ngọc Liễn, bọn Trịnh Đồng, Trịnh Ninh làm hậu đội.


Ngày hôm ấy đều tiến quân đánh nhau to với quân Mạc. Quân Lê nhuệ khí rất mạnh, không người nào không một ình địch trăm người. Quân của Chấn quận công Nguyễn Công bên Mạc thua lớn phải chạy lui về phía sau trận. Chấn quận công chưa chạy được mấy bước thì bị tướng Lê là Diễn quận công đuổi kịp, bát sống đem về nộp. Phù bang hầu bên Mạc cũng bị bứt tại trận tiền. Quân Mạc thau to, chạy tan, quân Lê đuổi theo chém được hơn 600 thủ cấp. Đôn Nhượng và tướng sĩ các đạo sợ đến vỡ mật, thu tàn quân trốn về Thăng Long. Quân Lê toàn thắng trở về, đến hành dinh dâng tù honư vài trăm người vừa tướng vừa quân.


Chấn quận công Nguyễn Công là cháu gọi Nguyễn Hữu Liêu bằng cậu ruột, nên Trịnh Tùng tha tội cho, giao về cho Hữu Liêu vỗ nuôi, sau lại phong làm Tung quận công. Còn Phù bang hầu và vài trăm người bị bắt đều cấp cho cơm ăn áo mặc tha về quê quán. Mọi người đều thân cảm ơn to. Từ đấy binh uy lừng lẫy, quân Mạc không dám lại dòm ngó ngữa, dân Thanh Hoa Nghệ An mới được yên nghiệp.


Một buổi, Nguyễn Hữu Liêu đang nồi trong bản doanh thì quân hầu vào báo có một thiếu niên nói là có việc cơ mật muốn gặp đích thân Dương quốc công mới dàm bày tỏ. Nguyễn Hữu Liêu ngạc nhiên bèn cho đòi vào.


Thiếu niên vào tới nơi vừa trông thấy Nguyễn Hữu Liêu đã vội vàng sụp lạy:


- Tiểu điệt xin lạy chào thúc phụ.


Nguyễn Hữu Liêu hỏi:


- Cậu là ai sao lại gọi ta là thúc phụ?


Thiếu niên òa khóc:


- Thưa thúc phụ, cháu là con của ông Vũ Sư Thước, mẹ cháu là Ngọc Lan bị vua Mạc hãm hại, chúng lại toan bắt cháu, nhưng cháu chạy thoát được vào đây bái kiến thúc phụ, mong thúc phụ nghĩ tình cha cháu ngày trước mà che chở cho cháu xin muôn vàn đội ơn...


Nguyễn Hữu Liêu giật mình:


- Nếu cháu là dòng máu của Trào quận công thì không những ta mà cả triều đình nhà Lê có bổn phận phải cưu mang đùm bọc cho cháu. Nhưng cháu hãy kể ta nghe đầu đuôi câu chuyện ra sao, mẹ cháu và cháu lánh nạn ở đâu vì sao chúng lại phát giác được?


Thiếu niên thưa:


- Thưa thúc phụ, sau khi cha cháu trốn về Thanh Hoa, mẹ cháu cũng tìm đường về lánh nạn ở làng Hội Xá huyện Thanh Lâm, nương nhờ nhà cô Thu Cúc vốn là thì tỳ của mẹ cháu. Được mấy tháng, thì mẹ cháu sinh ra cháu. Năm cháu lên sáu, mẹ cháu cho cháu theo học thầy đồ trong làng, đến năm mười tuổi, cháu lại đến thụ giáo thầy Nguyễn Nhân An ở làng Trâu Sơn, huyện Chí Linh. Bọn chúng phát giác ra tung tích, liền về bắt mẹ cháu giải lên kinh, lại cho người đến Chí Linh bắt cháu, khi đến một khúc sông cháu liền nhảy xuống nước lặn dưới đáy sâu rồi luồn sang bờ bên kia chạy thoát...


Nguyễn Hữu Liêu thấy câu chuyện thiếu niên kể phù hợp với lưòi Vũ Sư Thước lúc sinh thời đã kể cho mình nghe, cũng như những tin tức mình thu thập được về vợ con Sư Thước sau khi ông qua đời, nên tin lời thiếu niên là đúng sự thật. Ông đem việc này bảm với Trịnh Tùng, Trịnh Tùng cũng mừng vì đã tìm thấy dòng máu của Vũ Sư Thước, giao cho Nguyễn Hữu Liêu chăm nom săn sóc thiếu niên như con đẻ của mình. Từ đó theiéu niên ở ngay trong dinh của Nguyễn Hữu Liêu. Thấy thiếu niên thông minh nhanh nhẹn lại thông thạo chữ nghĩa, ông giao cho thiếu niên việc chép những tờ lệnh gửi cho các tướng lĩnh dưới quyền. Thiếu niên làm việc rất là chăm chỉ, tận tâm nên Hữu Liêu rất hài lòng, định bụng có dịp sẽ cất nhắc lên chức cao, cũng là để đền ơn Sư Thước đã hết lòng truyền thụ võ nghệ cho mình. Thấy thiếu niên võ công tầm thường, thỉnh thoảng Hữu Liêu cũng truyền dạy cho vài đường quyền kiếm, nên chẳng bao lâu theiéu niên đã sử dụng được môn Thái cực quyền và Thái cực kiếm như Sư Thước ngày trước. Hữu Liêu vui mừng tin rằng sau này thiếu niên sẽ nối được nghiệp nhà.


Những lúc nhớ đến người bạn cũ, Hữu Liêu lại gợi chuyện về Sư Thước và Ngọc Lan, hỏi đến đâu thiếu niên trả lời đến đấy. Cũng có lúc thiếu niên hơi ngắc ngứ, Hữu Liêu đoán rằng trong khi đang lánh nạn Ngọc Lan cũng không dám tiết lộ hết cho con biết về thân thế của mình e tại vách mạch dừng sẽ đến tai quan quân họ Mạc. Vì vậy ông cũng bỏ qua không nghĩ gì đến chuyện ấy nữa. Thiếu niên lại biết cách chiều chuộng ông, nói năng lễ độ, kính cẩn nên ông càng thêm quý mến và tin cậy.


Có những viên hàng tướng nhà Mạc đã từng biết mặt Ngọc Lan công chúa, ông hỏi dò họ về hình dáng tính tình của Ngọc Lan thì họ cũng nói đúng như lời thiếu niên đã tả. Câu chuyện về Vũ Sư Thước ở trong triều đình Mạc ra sao cũng đúng như lời thiếu niên kể không sai một mảy may. Ông sai người ra Thăng Long bí mật thăm dò tin tức của Ngọc Lan thì người đó báo về là Ngọc Lan đã bị quân Mạc bắt đưa về kinh sống chết ra sao chưa rõ. Chỗ Ngọc Lan lánh nạn đúng là nhà của mẹ thị tỳ Thu Cúc ở làng Hội Xá huyện Thanh Lâm, còn đứa con bà trọ học ở làng Trâu Sơn huyện Chí Linh bỗng dưng mất tích. Ông càng tin thiếu niên là thành thực.


(còn tiếp)


Nguồn: Đất Thang mộc II – Sứ mệnh phù Lê. Tuyển tập Truyện Lịch sử của Hoài Anh, Quyển 7. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


 


 







([1]) Năm 1587.




([2]) Năm 1581.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 19.06.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 27.05.2017
Evghenhi Ônheghin - ALEKSANDR Sergeyevich Pushkin 15.05.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 11.05.2017
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 08.05.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 05.05.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
xem thêm »