tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19003256
Tiểu thuyết
23.06.2009
Hoài Anh
Đất Thang mộc II - Sứ mệnh phù Lê

Quân Lê do Nguyễn Hữu Liêu chỉ huy xông vào chém giết quân Mạc không biết bao nhiêu mà kể, số còn sống sót đều xin hàng. Thấy Vũ Sư Thước bị thương, nguyễn Hữu Liêu lo lắng chạy lại đỡ Sư Thước lên rồi băng bó vết thương cho chàng. Nguyễn Hữu Liêu hỏi:


- Tướng công có làm sao không?


Vũ Sư Thước gượng mỉm cười:


- Ta chỉ bị thương xoàng thôi, hiền đệ đừng lo lắng cho ta. - Rồi Sư Thước cầm lấy tay Hữu Liêu mừng mừng tủi tủi - Không ngờ chúng ta còn gặp được nhau. Hiền đệ hãy dìu ta đi bái yết hoàng thượng và tả tướng đi...


- Tướng công bị thương hãy nghỉ ngơi tĩnh dưỡng đã, tiểu tướng về báo tin thắng trận lên hoàng thượng và tả tướng cũng được...


Sư Thước cương quyết:


- Không, bao ngày xa cách ta muốn sớm gặp mặt vua và các tướng cho thỏa lòng mong mỏi. Nào, ta đi...


Nguyễn Hữu Liêu dìu Sư Thước đi. Bóng hai người hung vĩ hiện lên nền trời đầy khói lửa.


Sau khi tỉnh dậy, đọc bức thư của chồng để lại, Ngọc Lan rụng rời chân tay, đầu óc choáng váng tưởng chừng muốn ngất đi. Lát sau, dần dần trấn tĩnh lại, nàng tự nhủ nếu là người vợ hiền thì phải biết hy sinh để chồng làm tròn chí nguyện của mình. Nàng cũng biết rằng nếu còn sống bên cạnh nàng thì chỉ nguyên những nỗi dày vò đau khổ cũng đủ khiến chàng hao tổn tinh thần. Mà nếu chàng buồn rầu ủ rũ thì nàng cũng khó lòng mà vui cho được. Chẳng thà buông thả cho chàng ra đi để chàng thỏa chí tang bồng còn hơn. Có ai cản được cánh chim bằng một khi gió nổi?


Biết rằng sau khi chàng trốn đi, thế nào họ Mạc cũng sẽ bắt mình, nên nàng bàn với cô thị tỳ thân tín là Thu Cúc, bảo cô ta đưa nàng tạm lánh về quê cô ta để ẩn thân một thời gian rồi sẽ tính sau. Thu Cúc vốn là một người trung thành nên bằng lòng đưa nàng về quê mình lánh nạn. Nàng vội thu xếp vàng bạc của cải vào trong một khăn gói rồi ngay hôm đó cải trang thành một thị tỳ cùng với Thu Cúc về quê cô ta ở huyện Thanh Lâm trấn Hải Dương.


Thấy con gái dẫn Ngọc Lan về trú ở nhà mình, mẹ Thu Cúc vốn là người từ thiện nên sẵn lòng chứa chấp, bà lại nói với mọi người nàng là cháu họ của bà vì chồng chết nên về nương ngụ ở đây. Bà con xóm làng cũng là người tốt biết thương kẻ nghèo gặp bước long đong nên không ai nghi ngờ gì. Nhờ có số vàng bạc của cải mang theo, nàng cũng đủ sống qua ngày. Nàng lại hết sức giúp đỡ mẹ Thu Cúc những việc vặt trong gia đình nên được bà quý mến coi như con đẻ. Thấy nàng có mang, bà không để nàng làm những việc nặng nhọc, lại chăm nom săn sóc cho nàng được khỏe mạnh để dễ dàng khi sinh nở. Có tình người che chở đùm bọc, nên nàng cũng khuây khỏa, tạm nguôi nỗi nhớ mong. Nàng còn cảm thấy tự hào vì mình có một người chồng xứng đáng, không vì tình chăn gối mà xao lãng chí trai. Nàng thầm mong đứa con sắp sửa ra đời cũng sẽ anh hùng như cha nó, nối nghiệp dọng họ Vũ trung trinh nghĩa liệt, được như vậy nàng cũng phần nào rửa được tiếng xấu là người trong dòng họ Mạc bán nước hại dân.


Mấy tháng sau nàng lâm bồn sinh được một trai, đặt tên là Trần Phúc, lấy họ của cha Thu Cúc để đánh lạc hướn dò xét của tay chân họ Mạc. Từ đó Ngọc Lan dốc lòng nuôi con khôn lớn để mai sau nối được nghiệp nhà. Nàng càng vui mừng khi thấy con càng lớn lên càng thông minh, tính tình lại giống cha như đúc.


Năm Phúc lên sáu tuổi, Ngọc Lan cho con theo học thầy đồ trong làng. Phúc rất sáng dạ, học một biết mười nên ngày càng tấn tới. Thầy đồ dạy Phúc chẳng bao lâu đã kêu hết chữ để dạy, khuyên mẹ cậu nên tìm thầy giỏi hơn để cho con theo học. Năm Phúc mười tuổi, Ngọc Lan liền cho con đi theo học ông Nguyễn Nhân An ở huyện Chí Linh, trấn Hải Dương vốn là một ông thầy có tiếng hay chữ.


Trần Phúc đến học ít lâu sau đã nổi tiếng xuất sắc nên được thầy yêu bạn mến. Những bài văn Phúc làm đều được ông An khuyên son lia lịa và đem bình lên, nắc nỏm khen luôn miệng. Trong lớp Phúc chỉ thua kém một thiếu niên khôi ngô tuấn tú là Nguyễn Văn Duệ. Cậu có ngờ đâu rằng đó là một cô gái cải nam trang đi học.


Nguyên Nguyễn Thị Duệ - tên cô gái - người làng Kiệt đặc huyện Chí Linh, mới mười tuổi dã nổi tiếng vì đọc được nhiều sách vở, thông hiểu nghĩa chữ, lại cũng tập viết được những bài văn. Mặc dù thông minh sắc sảo nhưng tập tục thời đó vốn xem thường phụ nữ nên gia đình vẫn ngần ngại không dám cho Nguyễn Thị Duệ theo học ở các trường thầy đồ. Vả chăng, nếu có xin thì cũng chẳng ai muốn dạy.


Nhưng Nguyễn Thị Duệ cứ nằn nì, một mực đòi cha mẹ cho theo đòi nghiên bút. Cô bàn với bóo cho cô cải trang thành con trai, mặc quần áo nam giới, khong xâu lỗ tai, bịt khăn chữ nhất đúng với dáng thư sinh và xin sang trường làng khác theo học.


Suốt mấy năm trời ngồi học chung chiếu với các bạn trai mà cả thầy lẫn bạn đều không hay biết. Trong số bạn bè, cô có cảm tình đặc biệt với Trần Phúc, vì cậu vừa thông minh nhanh trí lại khôi ngô tuấn tú. Có lần Phúc rủ Duệ đi tắm chung ở ngoài sông nhưng cô không chịu đi, nói thác là phải cảm nên không dám tắm nước lạnh. Phúc hơi nghi ngờ liền ướm thử:


- Sao trông Duệ đẹp như con gái vậy? Tôi ước gì có một cô bạn gái đẹp như Duệ.


Duệ cười:


- Thì anh cũng đẹp trai chứ kém gì ai? Tôi chỉ thích cái đẹp cứng cáp như của anh, còn cái đẹp ẻo lả thì đâu có ra gì. Chẳng qua tôi sinh ra thiếu tháng lại yếu người từ nhỏ nên mới mảnh mai như thế thôi...


- Không, cái đẹp của Duệ có một vẻ mịn màng tươi tắn lắm, càng nhìn lại càng ưa...


- Anh nói có thật không hay là lại khen nịnh tôi đấy?


- Tôi nói thật đấy không phải là khen nịnh đâu. Tôi chỉ có một mình, cha tôi mất từ khi tôi chưa lọt lòng, mẹ tôi ở vậy một mình nuôi tôi. Cảnh nhà neo đơn lắm, nên tôi muốn nhận Duệ làm em nuôi, Duệ có chịu không?


- Làm gì chứ làm em thì tôi không làm...


- Thế Duệ muốn làm gì...


- Tôi chỉ muốn làm bạn với anh mà thôi... Một người bạn thân thiết nhất đời...


- Thế thì được rồi. Nhưng nếu là bạn trai thì mình phải đi chơi, đi tắm với nhau chứ sao Duệ lại cứ thẹn thùng khép nép với tôi như thế?


- Tôi đã bảo tôi bị cảm nen không đi tắm với anh được mà. Anh cứ đi với các bạn khác đi, lần sau tôi sẽ đi với anh... - Đôi má Duệ chợt ửng hồng lên.


- Lần sau Duệ đi thật nhé!


Duệ nghiêm trang gật đầu:


- Ừ!


Phúc vui vẻ rủ các bạn khác ra sông tắm. Duệ nhìn theo mỉm cười một mình. Anh chàng quả là tinh quái, hóm hỉnh nếu mình không khéo léo chống chế thì đã bại lộ tung tích rồi. Đồng thời Duệ cũng thấy mình có cảm tình đặc biệt với cậu thiếu niên đẹp trai hay chữ đó. Trước đây cô vẫn thường tỏ ý khinh thường bọn con trai học dốt hơn mình, nhưng đến khi gặp Phúc cô tự nhủ mình không thể coi thường. Từ khi có Phúc đến học, cô phải cố gắng lắm mới có thể làm văn bài trội hơn Phúc, hai người hình như có một cuộc ganh đua ngầm không ai chịu nhường ai.


Một lần thầy ra cho học trò làm bài phú nôm “Giặc đến nhà đàn bà phải đánh”. Bài phú của Duệ kể chuyện Bà Triệu khởi nghĩa đánh quân Ngô, được thầy chấm là xuất sắc nhất. Thầy sai một môn sinh tốt giọng bình lên cho cả lớp cùng nghe. Đến câu:


Trông bành voi, Ngô cũng lắc đầu, sợ uy Lê Hải Bà Vương, những muốn bon chân về Bác quốc,


Ngồi yên ngựa, khách đi hoài cổ, tưởng sự Lạc Hồng nữ tướng, có chăng thẹn mặt đấng nam nhi.


Thầy khen:


- Hai câu này đối âm rất tự nhiên: Voi với ngựa, ngô với khách, đầu với cổ, chân với mặt, bắc với nam, phần nhiều đối tiếng chứ không đối chữ, toát lên vẻ ngang tàng khí phách, càng đọc càng thấy hùng hồn khoái chá, tài của anh Duệ sau này chẳng trạng nguyên cũng tiến sĩ!


Khi ra về, Phúc nói với Duệ:


- Câu Duệ làm vừa rồi có ý bỉ mặt bọn nam nhi thua kém nữ lưu, Duệ nên tin rằng, gái tài thì trai cũng tài không ai chịu nhường bước ai đâu.


Duệ mỉm cười:


- Ủa, mới có thế thôi mà anh đã động lòng thì còn gì là lượng cả của đấng nam nhi. Duệ chỉ muốn nói rằng những kẻ làm trai mà hèn nhát trốn tránh phận sự với dân với nước thì thẹn mãi vưói đàn bà mà thôi, chứ có dám nói đến những bậc anh hùng trong giới tu mi đâu:


- Tôi hiểu rồi. Nhưng sao Duệ bênh vực đàn bà dữ vậy?


- Duệ bênh vực đàn bà vì thấy xưa nay sử sách thường hay buộc cho đàn bà như Đát Kỷ, Muội Hỷ, Bao Tự, Dương Quý phi cái tội làm mất nước mà không thấy trách nhiệm chính ở bọn hôn quân bạo cháu hoang dâm tửu sắc. Duệ ca ngợi tấm gương oanh liệt của Bà Trưng, Bà Triệu, thái hậu Ỷ Lan, cũng chính là để chứng tỏ gái cũng có những bậc anh hùng cứu dân cứu nước chẳng kém gì nam tử. Có phải Duệ dám khinh thường đàn ông đâu, vì Duệ cũng là con trai kia mà...


- Tôi thấy kiến giải của Duệ quả là sây sắc, không thể xem thường. Tôi thẹn mình đã thua kém Duệ...


Sau khi đánh thắng quân Mạc ở dinh Bút Cương, vua Chính trị lại sai Vũ Sư Thước chiêu tập quân cũ của huyện Thuần Hựu được hơn 1.000 người làm tiên phong, khiêu chiến quân Mạc ở bến đò sông xã Lôi Tân. Bọn Lại Thế Khanh, Lê Cập Đệ đánh Tống Sơn và Nga Sơn lấy được đất. Đi đến đâu là quân Mạc chạy tan, nhân dân đều trở về yên nghiệp.


Tháng mười hai năm ấy, Mạc Kính Điển thấy đánh mãi không được, bàn với các tướng rằng:


- Tiến quân đánh giặc mạnh, trải chín tháng mà không thành công. Vả lại, nay mùa đông rét sông cạn, lại thêm nước mùa xuân mới sinh, sắp có khí độc, quân không đủ ăn, người nào cũng nhớ quê, còn ai dốc lòng hết sức với ta nữa! Huống chi quân ta lại dần dần trễ biếng, cho bằng hãy tạm rút quân về để lần sau sẽ đánh quyết giành lấy toàn thắng. Nếu cứ giữ bền chỗ này sợ không có lợi gì cho sự cơ mà chỉ khiến cho quân địch chê cười thôi.


Các tướng đều tán đồng. Kính Điển bèn hạ lệnh nhổ trại mà về.


Bấy giờ Trịnh Cối và mẹ cùng vợ con với bọn Lại Thế Mỹ, Trương Quốc Hoa đã trót đầu hàng họ Mạc, không dám trở về nữa, bèn đem con em tra gái hơn 1.000 người ra ngoài biển theo Kinh Điển về Thăng Long đến bãi kiến Mạc Mậu Hợp. Những tướng đã đầu hàng Mạc như Vương Trăn đem quân đến cửa khuyết dập đầu xin chịu tội trước vua Lê. Nguyễn Sư Doãn đem con em về chiếm giữ huyện Tống Sơn, không chịu quy thuận. Vua Chính trị sai Lê Cập Đệ cùng các tướng đem quân tinh nhuệ đi đường tắt đến huyện Ngọc Sơn đánh úp. Sư Doãn đã biết trước, xuống thuyền đang đêm trốn đi đầu hàng họ Mạc.


Vua xét công đánh giặc mà phong tước, gia phong Trịnh Tùng làm thái úy Trường quốc công, Lê Cập Đệ làm thái phó, bọn Trịnh Bách, Trịnh Vĩnh Thiệu, Trịnh Mô, Lại Thế Khanh, Đặng Huấn đều thăng thiếu phó. Lại cho em ruột Trịnh Tùng là Trịnh Đỗ làm thiếu bảo Phúc diễn hầu, Trịnh Đồng làm Vĩnh họ hầu, Trịnh Ninh làm Quảng diên hầu. Đều sai đem quân đánh giặc để mưu khôi phục.


Tháng bảy năm Tân Mùi([1]), Mạc Mậu Hợp sai Kính Điển đốc quân đánh cướp­­ cách huyện ở Nghệ An. Bấy giờ dân Nghệ An sợ uy giặc đã lâu, địa thế lại xa cách, quan quân không thể cứu giúp được, nên phần nhiều đầu hàng họ Mạc. Bởi thế từ sông Cả vào Nam đều là đất của Mạc. Nguyễn Bá Quýnh trấn thủ Nghệ An nghe tin giặc đến thì kinh hãi thấy bóng đã trốn. Dung quận công cùng với tướng Mạc là Nguyễn Quyện chống cự với nhau, thấy thế không địch nổi, mới bỏ thuyền chạy vào châu Hóa bị giặc bắt được. Từ sông Cả về bắc lại là đất của Mạc. Từ đấy thế giặc lại hăng đi đến đâu dân đều trốn xa.


Tháng chín, vua cùng Trịnh Tùng bàn chia quân cho Trịnh Mô và Phân Công Tích đi cứu Nghệ An. Quân Mạc rút về, Nghệ An lại yên.


Tháng mười, vua sai Lê Cập Đệ đem quân đi dẹp miền Thiên quan, đều dẹp yên hết.


Tháng bảy năm Nhâm Thân([2]) Mạc Mậu Hợp sai Kính Điên đốc quân xâm lấn các xứ Thanh Hoa; Nghệ An. Vua và các tướng bèn sai quân nhân ở dọc sông các huyện đem sẵn tiền của súc sản vào rừng núi mà ở tránh đề phòng quân giặc. Tháng sau, quân Mạc quả nhiên kéo đến, bắt người cướp của dân địa phương, nhân dân các huyện dọc sông tản cư bỏ lại đất không.


Tháng chín, vua sai Lại Thế Khanh, Trịnh Mô, Phan Công Tích đem quân đi cứu Nghệ An. Khi đến nơi quân Mạc rút lui.


Nghệ An tuy tạm yên nhưng ở các huyện đồng điền bỏ hoang, năm ấy không thu được hạt thóc nào. Dân đói to lại bị bệnh dịch, chết đến quá nửa. Nhân dân nhiều người xiêu giạt, hoặc tản đi miền Nam, hoặt giạt về Đông bắc, trong hạt tiêu điều. Tình cảnh chẳng khác gì ở địa hạt Thanh Hoa năm trước.


Thấy tình thế khó khăn, Lê Khắc Thận sinh lòng làm phản vượt lũy về hàng họ Mạc. Trịnh Tùng bắt được con Thận là bọn Tuân, Khoái, Thẩm đều giết chết.


Khi đó tướng trốn đi ở Bố chính là Tiên quận công dẫn đường, dẫn tướng Hải dương là Lập quận công đem binh thuyền hơn 60 chiếc, đi đường biển vào đánh các xứ Thận Hóa, Quảng Nam. Người thổ trước nhiều người đầu hàng. Từ đây thế giặc lại to.


Trấn thủ Nguyễn Hoàng lập mẹo dụ Lập quận công đến giữ sông rồi tung quân ra chém giết. Quân giặc tan vỡ, vượt biển trở về, chợt gặp gió bão, chết hết ở ngoài biển. Tiên quận công trốn về châu Bố Chính, lại về với họ Mạc. Đất Thuận Quảng lại được yên.


Hoàng trị nhậm đất này, chính lệnh khoan hòa, thường ban ơn huệ, dùng phép công bằng, khuyên răn quân bản bộ, ngăn cấm những kẻ hung ác. Dân hai trấn đều đội ơn mến đức, thay đổi phong tục, chợ không nói thách, dân không có trộm cắp, cổng ngoài không phải đóng. Thuyền buôn nước ngoài đều đến buôn bán, đổi trao phải giá. Quân lệnh nghiêm cẩn, mọi người đều dốc lòng ra sức. Từ đấy quân Mạc không dám dòm nom, trong cõi được yên ổn làm ăn.


Tháng 11 năm Nhâm Thân([3]), vua Chính trị sai Lại quận công Phan Công Tích đi kinh lý, yên ủi các tướng sĩ. Khi đến cõi, Công Thích rất để ý đến Nguyễn Hoàng. Nguyễn Hoàng cũng đem quân đến họp, đặt tiệc thiết đãi, kể hết tình cũ ngày xưa, rất vui là vui vẻ.


Khi Công Tích về, Hoàng thân đi tiễn. Trước lúc chia tay, Công Tích nói nhỏ với Nguyễn Hoàng:


- Đức vua có dặn tôi nói với quận công rằng: nếu trong triều có xảy ra chuyện gì, thì quận công phải kịp đem quân về hội giá. Người đặt hết lòng tin tưởng vào quận công sẽ hết lòng khuông phù để thất chống lại kẻ cường thần...


Nguyễn Hoàng dè dặt đề phòng nên chỉ nói:


- Xin đại nhân về tâu lại với Ngài Ngự, khi nào có chiếu chỉ tuyên triệu, tôi sẽ thân vào chầu.


Khi trở về, Phan Công Tích đem lời vua Chính trị nói với Nguyễn Hoàng báo lại cho Trịnh Tùng biết, để đối phó.


(còn tiếp)


Nguồn: Đất Thang mộc II – Sứ mệnh phù Lê. Tuyển tập Truyện Lịch sử của Hoài Anh, Quyển 7. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


 







([1])  Năm 1571.




([2]) Năm 1572.




([3]) Năm 1572.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 26.04.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 16.04.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
Hà Nội xưa và nay - Bạch Diện Nguyễn Văn Cư 04.04.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 30.03.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
Hòn đất - Anh Đức 14.03.2017
Một chuyện chép ở bệnh viện - Anh Đức 14.03.2017
xem thêm »