tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19003244
Tiểu thuyết
22.06.2009
Hoài Anh
Đất Thang mộc II - Sứ mệnh phù Lê

Tháng mười, tướng của Mạc đem quân đánh nhau với quân Lê. Hai bên giao chiến ở địa phận sông các xã Bảo lạc và Long sùng. Các tướng Lê hay dùng kỳ binh, ngày thì cố thủ trong đinh, đêm thì đánh úp trại giặc để quấy rối quân địch. Từ đấy quan Mạc nhốn nháo kinh hoàng, quân thủ ngự nhiều người bị quân Lê chém đầu. Mỗi khi uân Lê chém cắt được tai giặc thì được thưởng bạc, nên quân lính nhiều người tự nguyện gắng sức, ban đêm ra đánh quân Mạc. Quân Mạc tuy nhiều nhưng nhiều người hoang mang bỏ trốn. Mạc kính Điển thấy đánh mãi không được, bèn lui về giữ đinh Hà trung. Lại hạ lệnh cấm nhân dân không được đem muối đến bán ở đầu nguồn mà giao thông với quân Lê. Sau có kẻ gánh trộm muốn vào lũy, bị quân Mạc bắt được đem chém để răn. Quân Lê lâm vào tình trặng thiếu muối ăn, nhiều người mắc bệnh phù thũng, vô cùng cực khổ.


Những ngày đầu chung sống với Sư Thước, Ngọc Lan như ngụp lặn trong hạnh phúc. Không ngờ đến tuổi trung niên nàng còn được hưởng niềm sung sướng lớn lao như vậy. Thật không uổng công nàng chờ đợi bao năm. Nàng chỉ mong chàng sếp bỏ cái mộng kiếm cung, về sống như một con người bình thường, vợ chồng hôm sớm có nhau. Nàng chạnh nhớ đến niềm hối tiếc của người thiếu phụ trong thơ Đường:


Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc,


Hối giao phu tế mịch phong hầu( [1])


Nàng muốn chàng treo ấn công hầu để về sống mãi bên nàng, chung hưởng cảnh gió gác giăng sân, cuộc cờ chén rượu, đêm xuân vợ chồng rủ nhau thức dậy, khêu ngọn đèn lên, bỏ thêm trầm vào lò hương rồi cùng nhau xướng họa văn thơ hay chuyện trò tâm sự.


Gần đây nàng cảm thấy mình có thai, nàng chỉ mong đứa trẻ sớm ra đời để gắn bó chàng với nàng thành một khối. Nàng tin rằng khi đã có con, sống trong cảnh gia đình đầm ấm, chàng sẽ nguôi lòng không nghĩ gì đến chuyện thanh gươm yên ngựa nữa...


Nhưng chẳng bao lâu nàng biết mình lầm. Có những khi đêm khuya thanh vắng, nàng đang chập chờn dở thức dở ngủ bỗng nghe thấy tiếng chàng thở dài não ruột. Có những đeme vợ chồng nằm cạnh nhau, nàng thấy chàng trằn trọc trở mình mãi không yên giấc. Lại có những đêm nàng thức dậy thấy chàng quên cởi áo bào ngồi bên ngọn bạch lạp, trang binh thư mở rộng trước mặt nhưng tay chàng quên giờ nhìn về phía xa. Có khi chàng buồn bực đứng ngóng trời, ngây nhìn một vệt sao rơi thoi thóp... Những lúc ấy nàng biết rằng chàng đang nhớ tới cuộc đời trận mạc. Thì ra giấc mộng chiến trường vẫn như than ủ trong lò chỉ một ngọn gió thổi qua là lại bùng cháy lên mãnh liệt hơn trước. Nếu ra trận giúp Mạc thì cũng không khó, đằng này nang linh cảm rằng chàng đang muốn bỏ Mạc để trở về với Lê. Nếu không thế thì sai trước đây chàng lại giao ước về với Mạc nhưng không bao giờ ra trận đường cự với quân Lê. Chàng lại giao ước nếu Mạc đối xử với chàng không tốt thì chàng hoàn toàn có quyền làm theo ý định của mình. Trước đây nàng nghĩ rằng tình yêu của nàng sẽ có sức mạnh cầm chân chàng lại nhưng bây giờ nàng đành buồn rầu mà thú nhận rằng mình bất lực.


Nếu chàng trở về với Lê thì nàng với chàng xa cách nhau mãi mãi còn mong gì có phen gặp lại. Rồi đây đứa trẻ thơ ra đời sẽ là đứa con không có bố hay sao? Nàng cố xua đuổi ý nghĩ đó nhưng sự nghi ngờ vẫn như bóng mây đen lởn vởn trong trí.


Nhiều khi đang ngồi âu yếm bên nhau, bỗng chàng nhìn đi đâu xa lắm. Nàng kéo tay chàng hỏi:


- Chàng nghĩ điều gì vậy?


Sư Thước giật mình quay lại:


- Không, ta có nghĩ gì đâu... À... ta đang nghĩ đến đứa con của hai ta. Không biết nó sẽ là trai hay gái nhỉ?


Chàng thích con trai hơn hay con gái hơn?...


- Trai hay gái cũng được cả, miễn là nó hiền lành hiếu thảo. Ta đã từng là đứa con bất hiếu, nên ta muốn cho con phải hiếu với mẹ, phụng dưỡng nàng về sau... thay cho ta...


- Chàng lại nghĩ đến chuyện xa thiếp nữa hay sao? Thiếp đã phải xa chàng bao năm đằng đẵng rồi. Giờ mà phải xa nữa thì thiếp không chịu nổi, thiếp sẽ chết vì mong nhớ chàng...


Sư Thước an ỉ:


- Không, ta sẽ không xa nàng nữa đâu...


- Chàng nói lời thì giữ lấy lời đấy nhé.


- Ta hứa với nàng sẽ không bao giờ xa nàng, chỉ trừ khi ta buộc phải cầm gươm ra trận...


- Thiếp sẽ nói với vua Mạc không bắt chàng ra trận. Tuổi xuân của chúng ta sắp tàn rồi, chỉ còn ít ngày chung sống với nhau, bù lại bao năm xa cách... sao ta không hưởng cho trọn vẹn. Xin chàng đừng nghĩ gì đến chuyện chinh chiến sa trường nữa, thiếp đã ghê sợ cái cảnh núi xương sông máu lắm rồi... Nhất tướng công thành vạn cốt khô...([2])


- Nhưng hai ta đâu có thể cam lòng sống yên vui khi máu người còn chảy...


Ngọc Lan cầm tay chàng ướm vào bụng mình:


- Chàng hãy quên chuyện đó đi, hãy nghĩ đến tương lai của con chúng mình... Lúc này em cảm thấy nó đang dãy đạp trong bụng thiếp dữ lắm. Nếu nó là con trai thì thiếp chỉ muốn cho nó học văn không cho nó học võ nghệ làm gì. Làm trai phải ra chiến trường như chàng thì nguy hiểm lắm, mũi tên hòn đạn có biết nể ai bao giờ. Chàng hẳn còn nhớ câu thơ Đường:


Khả liên Vô định hà biên cốt,


Đương thị khuê trung mộng lý nhân(2)


- Nàng tin ở ta. Ta sẽ lo lắng cho nàng, cho con trọn vẹn mọi bề. Ta quyết không phải là kẻ quên tình phụ nghĩa.


Một lần qua chợ Hoàng Mai, Sư Thước lại nhớ đến cái ngày chàng cùgn Lê Ninh uống rượu ở đây. Chàng nhớ cả lời dặn dò của vu Nguyên Hòa trước khi băng hà, phải làm cách nào trả nợ cho bà con ở đây. Bây giờ chàng đã trở lại Thăng Long, nhưng trong thận phận một kẻ đầu hàng, chàng có tư cách gì để gặp lại bà con. Mối thù cha, thù vua chưa báo, chàng còn mặt mũi nào nhìn thấy mọi người. Bà hàng rượu mà chàng cùng uống với Lê Ninh đã qua đời lâu rồi nếu bà còn sống nhận ra chàng ắt bà sẽ nhổ vào mặt chàng vì đã phản bội bạn bè. Những người từng cho Lê Ninh chịu tiền cũng không thấy người còn ở trên đời, bây giờ có muốn trả nợ cũng không còn ai mà trả. Chỉ còn món nợ nước vẫn nhức nhối trong lòng, không biết bao giờ mới trả xong. Đúng như câu thơ Đặng Dung: Quốc thù vị nhục đầu tiên bạch. Thù nước chưa trả xong mà tóc dã hoa râm chẳng bao lâu nữa thì đầu bạc.


Ở trong triều Mạc, hàng ngày chàng cũng nhìn thấy bao cảnh chướng tai gai mắt. Tên Mạc Đình Khoa, kẻ từng đuổi theo cha chàng trước đây nay tuổi đã già vẫn ngồi chễm chệ trên ghế lót nhung đỏ dành cho các bậc thân vương, Mạc Mậu Hợp còn ít tuổi ngồi trên ngai phía sau có mẹ buông rèm thính chính. Nghe đâu mụ vẫn dâm ô với Mạc Đôn Nhượng nên Đôn Nhượng mới được vào làm phụ chính. Còn Trịnh Cối, Lại Thế Mỹ, Trương Quốc Hoa, Nguyễn Sư Doãn, Vương Trãn không biết nhục nhã vẫn đương dương tự đắc. Chàng không thẻ nhìn mặt những kẻ đê hèn vo sỉ như thế được huống hồ lại phải đứng chng hàng với chúng.


Một lần, Trịnh Cối nói với Sư Thước:


- Quận công trở về nhà Mạc, được ban thưởng ân huệ rất nhiều, cũng nên dốc lòng báo đáp mới phải. Tôi định phen này sẽ cầm đầu một đội quân đi đánh nhau với quân Lê, quận công có đi cùng với tôi không? Nếu phen này ta lập được công thì sẽ được gia phong quyền cao tước cả. Dịp may ngàn năm có một để lỡ thì thật uổng...


Sư Thước nói:


- Trước đây khi nhận lời kết duyên với công chúa Mạc, vua Mạc dã hứa là sẽ không bắt tôi ra trận. Xin hầu gia hãy để tôi về bàn bạc với tiện nội đã...


Trịnh Cối không biết nói sao đành nín lặng. Sư Thước biết rằng Mạc Kính Điển đã ép Trịnh Cối phải khuyên mình ra trận nếu mình không chịu ra, chúng sẽ tìm cách ám hại. Tình thế nguy cấp lắm rồi phải tính ngay một chước mới xong. Họ Mạc nuốt lời gia ước, đối xử không tốt với mình, mình làm theo ý định của mình, như vậy là hợp lẽ.


Đêm đó, đợi khi công chúa đã ngủ say, chàng bèn rón rén ngồi dậy tránh cho nàng khỏi kinh động thức dậy. Nhìn thấy nàng vẫn bình tĩnh ngủ, hơi thở đều hòa lồng ngực phập phồng the từng nhịp thở, đôi sợi tóc mây lòa xòa trên khuôn mặt đã điểm nét mệt mỏi nhất là khi nhìn thấy bụng nàng đã lớn lòng chàng vô cùng thương xót. Nhưng chàng phải cắn răng làm theo chí nguyện của mình, không thể vì tình riêng mà bỏ nghĩa lớn. Chàng lại ngồi bên bàn, viết một bức tân thư để lại. Thư lời lẽ như sau:


“Khi công chúa thức dậy đọc bức thư này thì tôi đã không còn ở Thăng Long này nữa. Tôi biết công chúa đối với tôi tình như non biển, nhưng kẻ làm trai phải đặt nghĩa lớn lên trên tình riêng. Công chúa thương tôi thì nên để cho tôi làm tròn chí nguyện của tôi. Công chúa hỹ mau lánh khỏi nơi này để tránh khỏi liên lụy. Tất cả vàng ngọc châu báu họ Mạc ban cho tôi tôi đều dành lại cho công chúa làm vật phòng thân. Nếu say này con chúng ta ra đời, thì công chúa hãy thay tôi nuôi dưỡng nó đến ngày khôn lớn, được như vậy thì tôi không còn mong ước gì hơn nữa. trời rộng đất dài thế nào sau này ta cũng còn có dịp gặp lại nhau”.


Viết xong thư, chàng niêm kín đặt trên mặt bàn lấy cái chặn giấy bằng ngọc thạch đè lên rồi thu xếp khăn gói lên đường. Trước khi ra cửa chàng còn ngoái nhìn côgn chúa ngập ngừng hồi lâu rồi mới cắn chựt hàm răng nén lòng cất bước.


VI


Bên trong cửa quan Yên Trường, lương thực đã hầu cạn, quân lính phải giết cả lừa ngựa mà ăn. Muối cũng thiếu vì dân chúng sợ lệnh Mạc không ai dám mạo hiểm mang vào bán. Quân lính sinh bệnh tật, chết khá nhiều, lòng người đã có phần nao núng.


Vua Chính trị đang lo buồn không biết có cách gì đánh lui được quân Mạc thì túc vệ vào báo có ngkười lạ mặt xin vào dâng ngự lãm một bức mật thư. Vua liền cho vào. Khi vào tới nơi, người lạ mặt lạy chào rồi lấy trong người ra một viên sáp dâng lên. Bửa viên sáp ra thấy bên trong có một tờ giấy bản vo viên, vua giở ra vuốt thẳng để đọc thì thấy lời lẽ trong thư như sau:


“Thần là Vũ Sư Thước xin dập đầu chịu tội với triều đình. Lần trước bị hãm ở Hà Trung, thần muốn bỏ bản dinh vào cửa quan Yên Trường theo hầu thánh thượng nhưng các tướng sĩ muốn hàng với Mạc không chịu theo, thần phải dùng kế quyền nghi trá hàng với Mạc để chờ cơ hội về với triều đình. Trước khi về với Mạc, thần đã giao ước sẽ không giao chiến với quân Lê và nếu Mạc đối xử không tốt thì thần có quyền làm theo ý định của mình. Hiện nay thần đã chiêu tập lại được năm trăm quân thất tán về đóng ở đồn cũ Linh Trường nhưng vẫn giữ cờ hiệu Mạc chiến khiến chúng khỏi nghi ngờ. Xin bệ hạ cất quân đánh đồn trại quân Mạc ở dinh sông Bút Cương, thần sẽ giả vờ mang quân đến tiếp viện cho quân Mạc, trong đánh ra, ngoài đánh vào, chắc chắn là giành được phần thắng. Thần Vũ Sư Thước bái”.


Vua Chính trị đọc xong thư cả mừng, trọng thưởng cho người đưa thư, bảo về nói với Sư Thước là đúng ngày 21 tháng mười sẽ kéo quân đánh đồn Bút Cương, để Sư Thước liệu đem quân tiếp ứng.


Vua bèn họp các tướng bàn bạc chia quân làm ba đạo cùng tiến. Sai bọn An quận công Lại Thế Khanh, Đoan vũ hầu Lê Cập Đệ, Văn phong hầu Trịnh Vĩnh Thiệu, Tấn quận công Trịnh Mô đem quân ra đường phía tả, từ huyện Yên Định qua Vĩnh Phúc, đánh lấy huyện Tống Sơn.


Gia phong Trường quận công Trịnh Tùng làm tả tướng tiết chế các xứ thủy bộ chư dinh tướng sĩ. Vua tự làm đô tướng thống đốc đại binh ra đường giữa, từ các huyện Thụy Nguyên, Yên Định thẳng đến huyện Đông Sơn đóng đinh.


Bọn Vinh quận công Hoàng Đình Ái, Nghĩa quận công Đặng Huấn, Lai quận công Phan Công Tích, Vệ dương hầu Trịnh Bách đem quân ra đường phía hữu, từ các huyện Lôi Dương, Nông Cống, đánh lấy miền Quảng Xương.


Sau khi đến Đông Sơn đóng dinh, vua sai người làm cầu pha ở phía hạ lưu sông An Liệt qua Kim Bôi. Vua cùng Trịnh Tùng đem đại binh sang sông, đến xã Kim Tử tắt qua huyện Thuần Hựu để tiến đánh dinh của Mạc.


Nửa đêm, quân Lê người ngậm tăm, ngựa bỏ nhạc kéo đến mai phục chung quanh dinh Bút Cương. Bỗng một tiếng súng báo hiệu nổ vang, quân Lê do Nguyễn Hữu Liêu chỉ huy đánh vào. Mạc Kính Điển đang ngủ nghe quân vào báo hốt hoảng tỉnh dậy, nhỉna thì thấy quân Lê đã kéo vào đánh úp vội đôn đốc bọn Nguyễn Quyện, Mạc Ngọc Liễn cố sức chống giữ. Quân Mạc bị bất ngờ luống cuống chống đỡ, bị quân Lê dùng gươm giáo chém giết, thiệt hại rất nhiều.


Giữa lúc tình thế quân Mạc đang nguy ngập thì bỗng thấy một toán quân mang cờ hiệu Mạc kéo đến. Mạc Kính Điển mừng rỡ:


- Viện binh đã đến quả là cứu tinh của ta.


Kính Điển cử Mạc Ngọc Liễn dẫn một toán quân ra đón tiếp viện binh. Không ngờ khi toán quân đó kéo đến thì lại xông vào chém giết quân Mạc tiếp sức cho quân Lê. Mạc Ngọc Liễn nhìn thấy Vũ Sư Thước cầm đầu toán quân đó thì nổi giận mắng:


- Ngươi về với Mạc, triều đình đãi ngươi không bạc cớ sao lại phản bội?


Vũ Sư Thước không nói không rằng vung gươm xông vào chém. Hai bên giao chiến một hồi.


Mạc Ngọc Liễn vung thương đâm tới theo thế “Tứ đi phục”, đây là phép Trung bình thương, biến diệu vô cùng, cổ chí kim, các loại khí giới khác khó lòng đương nổi mũi nhọn của thức này. Vũ Sư Thước biết gặp đối thủ lợi hại bèn đi thế “Chỉ nam châm” đây là pháp Thượng bình thương để dụ thức của Ngọc Liễn. Ngọc Liễn lại biến hóa sang thế “Tỳ diện mai phục”, thức này thuộc về Hạ bình thương, kỵ trương cũng như Thượng bình thương, nhưng trong đó nhiều cơ xảo không kém trung thức, các thức khác khó lòng đối địch với nó. Sư Thước lại dùng thế “Thanh long lượn trảo”, thương pháp ở trung thế từ trung vụt ra đâm ngay bả vai Ngọc Liễn. Ngọc Liễn hốt hoảng vội lùi lại theo “Biên lan”, đây là phép “Bả môn phong kế”, cốt để thủ, tay thương như ôm đàn tỳ bà. Sư Thước bèn dùng thế “Thiết phiên can”, đây là thương pháp “Hoàng long điểm can”, trước cầm mũi thương chúc xuống đất theo thế “Khóa kiếm”, đây là phương pháp “Quần lan”, làm ra vẻ hở hang để dụ địch tới. Sư Thước ngồi thụp xuống, đầu gối trước hơi con, chân phải thấp xuống dùng thế “Phổ địa cẩm”, đây là thương pháp “Địa xà”, hờm sẵn tay để đợi đâm mau, địch đánh cao thì khó đánh, mà thấp thì mình phản ứng dễ dàng. Ngọc Liễn liền cầm thương giương thẳng lên theo thế ‘Triều thiên”, đây là “thượng cảnh hạ thủ”, giống như cầm cờ sắp quét đất, biến hóa dễ dàng không sợ ngụy kế của địch. Sư Thước bèn dùng thế “Thiếu ngưu canh địa”, ghìm mũi thương chạm đất đâm tới rồi thâu về rất mạnh. Ngọc Liễn bèn dùng thế “Trích thủy” thuận tay mà đâm xuống, tiến tới thì dùng thức “Kỵ long” như vạch cỏ tìm sâu rồi lui về theo thế “Biên lan” mà tự che chở, mũi thương trông giống như chiếc thoi đưa. Sư Thước khen thầm bèn cầm thương giơ ngang quá đầu theo thế “Bạch viên đà đao”, đây là thương pháp trá hồi có thể trở ngược thành thức “Kỵ long”, vừa ngăn được thương của địch vừa phá thức thương trung bình của địch ở bên mình. Ngọc Liễn bèn ngồi xuống theo thế “Linh miêu tróc thử”, đây là thương pháp “Vô trung sinh hữu” bước tới là bước giả, bị thương đâm thì vụt lên mà xung đả. Nhưng Sư Thước đã nhảy lùi lại đà cầm thương đưa cao rồi vụt xuống theo thế “Thái sơn áp noãn”, đây là thương pháp “Ưng tróc thố” mũi thương quét trúng ngực làm rách một màng dài khiến Ngọc Liễn hốt hoảng phải chạy tránh. Lợi dụng cơ hội đó, Mạc Kính Điển tìm đường chạy thoát. Thấy chủ tướng đã thoát, Mạc Ngọc Liễn dùng thế “Mỹ nhân nhận châm”, đâm một nhát kiếm vào bả vai Sư Thước rồi mở một đường máu thoát khỏi vòng vây.


(còn tiếp)


Nguồn: Đất Thang mộc II – Sứ mệnh phù Lê. Tuyển tập Truyện Lịch sử của Hoài Anh, Quyển 7. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


 







([1]) Đầu đường bỗng thấy xanh tơ liễu. Hối để chồng đi kiếm tước hầu.




([2]) Một tướng công thành thì vạn nắm xương khô.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 26.04.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 16.04.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
Hà Nội xưa và nay - Bạch Diện Nguyễn Văn Cư 04.04.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 30.03.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
Hòn đất - Anh Đức 14.03.2017
Một chuyện chép ở bệnh viện - Anh Đức 14.03.2017
xem thêm »