tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21275177
13.06.2009
Hoài Anh
Hà Nội dưới bóng tượng bà Đầm xòe

(…) Ngoài phố, người và xe cộ thưa thớt. Người ta không vội vã. Ông ký ở gần sở thì thủng thẳng bước, một tay đút túi quần, hoặc hai tay nắm phía sau, mặt ngẩng cao. Ông phán ngồi xe nhà, trời nắng thì che mui. Trời không nắng lắm, ông ta không che mui, mà cầm ô trắng thoáng mát hơn. Ngồi trên xe nghiêm nghị, hai đầu gối khép lại, phủ áo dài lên trên cẩn thận.


Ô tô đi ngoài phố thì thật là lác đác và cũng chỉ ở vài phố như Điện Biên Phủ, Tràng Thi, Tràng Tiền, Trần Hưng Đạo bây giờ. Loại ô tô du lịch bấy giờ thường là nhãn hiệu Renault, Citroen, Peugeot, hình thù xe so với hiện nay thật là cổ lỗ và đơn điệu: xe thấp, phía đuôi xuôi hẳn xuống, phía đầu hai cái đèn ngồi trên cái chắn bùn. Phần lớn màu đen. Nếu đi ngược thời gian về những năm 1930-1935, thì ở Hà Nội xe ô tô loại sang của các “quan” cũng chỉ là cái xe giống loại bây giờ ta gọi là commăngca (xe của quân sự). Khi trời mát, các quan còn hạ mui xuống cho thoáng đãng. Thế cho nên sau này có xe kiểu du lịch, người ta gọi là “xe hòm” vì nó đóng kín, để đối chọi với loại xe mui vải bạt.


Ô tô, ngoài Tây đi, còn mấy nhà giàu sụ. Chứ người thành phố, nếu chưa phải giàu sụ, cũng chỉ và bằng lòng với cái xe tay nhà, xe đạp và... đi bộ, cho nên cái xe tay trở thành phương tiện giao thông quan trọng.


Có chủ xe tay, tỷ như ở phố Hàng Chiếu rất giàu, có hàng dăm bảy chục, trăm chiếc cho phu xe thuê. Không rõ bao nhiêu tiền nhưng thời hạn thuê là trọn một ngày, trọn một đêm hay trọn một ngày đêm. Phu phải đưa giấy tờ căn cước cho chủ giữ, giữ cả quần áo của mình. Nó đưa cho một bộ quần áo cu li, đó là một quần, một áo cánh bằng vải thô nhuộm xanh blơramin hay nhuộm chàm gì đó. Tuy là quần dài nhưng chỉ dưới đầu gối một tí, áo không có túi, phía lưng có một miếng vải trắng tròn bằng miệng bát loa, in nhãn hiệu hãng xe và số người phu nhận xe. Còn một cái nón, to hơn nón lính lệ một tí cũng sơn màu xanh tím. Dép thì tự túc, ai có gì đi nấy, không có thì đi chân không. Thường thường thì dùng đép da trâu bò như kiểu dép bà già nông thôn thời bấy giờ, có một quai ngang vòng qua mu chân, phía mũi có miếng da nhỏ vòng lấy ngón cái hay ngón thứ hai, vít xuống đế. Thật không có loại dép nào tiện và bền hơn đối với người kéo xe.


Được chủ thầu cho thuê không phải dễ. Đủ các thứ chửi mắng, đánh đập, hạch sách. Làm sao cho căn cước, làm sao nhận xe và trả xe cho đúng giờ, bảo quản xe cho tốt…


Loại xe đi trong thành phố riêng, loại ở ngoại ô đi ra ngoài mươi mười lăm cây số riêng. Nếu lẫn lộn không những nhà chức trách phạt mà giữa những người kéo xe có khi cũng có chuyện to tiếng.


Xe tay thường chở khách ở ga Đầu Cầu (Long Biên), ga Hàng Cỏ, bến xe ô tô Bến Nứa, trước cửa chợ Đồng Xuân, để chở cả các bà, các cô đi chợ mua thức ăn. Ở những nơi này có chỗ đỗ xe riêng, có biển quy định của Công chính. Thường là những người kéo xe chào mời: “Xe, bà?” khi thấy dáng vẻ người đi trên vỉa hè muốn dùng xe. Chờ khách xuống tàu ga Đầu Cầu là ở phố Hàng Khoai, người kéo phải lên dốc vào ga mời khách, mặc cả xong là xuống đi liền. Trong số khách xe lửa xuống có nhiều người ở nhà quê mới ra tỉnh lần đầu thường là sợ lạc nên sẵn sàng đi xe tay. “Bác xe tay” thì đâu mà chẳng biết. Nhưng ông nói giá cao vì “đến phố ấy xa lắm” rồi ông kéo quanh quẩn mấy phố ngõ cho có vẻ xa, sau đó mới quay lại cái phố mà khách yêu cầu, chỉ ở rất gần chỗ mặc cả. Như thế gọi là “xe nó bắt chẹt nhà quê”. Dẫu sao các cụ mới về Hà Nội “đường như bàn cờ, nhà như bát úp” cũng không bị lạc hay ít ra không phải hỏi thăm đường. Khách sang thường không mặc cả, khách lên xe và chỉ tay con đường phải đi, đến ngã ba, ngã tư anh xe phải quay đầu lại hỏi đi lối nào. Loại khách này trả tiền không bao giờ bằng hay kém cái giá thông thường mà chỉ có hơn. Có kỳ kèo chẳng qua anh muốn xin thêm mà thôi chứ không thiệt. Tây đi xe trả tiền cao hơn ta nhưng cũng có khi quỵt, quỵt thường là lính. Trường hợp này anh xe chỉ có ngước mắt cầu khẩn với mấy tiếng tuyệt vọng “Me sừ, me sừ” chứ đừng có làm gì khác mà ăn đòn. Trong khi đó, Tây thản nhiên đi giày lộp cộp, mặt không ngoái lại. Tây gọi xe với cái giọng ồm ồm của kẻ bóc lột: “Cao…su… u”. Nó gọi xe tay là cao su, đó là tiếng gọi tắt của xe tay bánh cao su (Tức là có săm lốp bơm hơi). Cách đó 15-20 năm xe tay đều bánh gỗ, dần dần thay bằng bánh cao su. Trong thời kỳ quá độ, có cả hai loại xe bánh gỗ và bánh cao su. Người ta thích đi xe bánh cao su, tất nhiên vì nó êm, không xóc. Về sau, ở Hà Nội hết loại xe bánh gỗ do chuyển về các phố phủ tỉnh lỵ nhưng bọn Tây vẫn gọi thế. Những bọn sang sau này thì có đứa gọi: pút…s.s ( tiếng Pháp pousse- pousse nghĩa là xe kéo).


Người Ta thì gọi: xe e e... Nghe gọi thường là có hai, ba xe cùng chạy đến, và mỗi người cố sao hạ càng xe lên hè trước mặt khách nhanh hơn người khác. Đang chạy nhanh mà dừng lại không phải dễ, một tay phải vít lên xà ngang, ở đầu càng xe, ghì lại, rồi bước chân lên hè, hạ chân xe xuống. Khi khách đã ngồi yên vị, lại cũng phải một tay nắm xà kéo trở lại, tức là đẩy xe ra lòng đường. Bắt đầu chạy, hai khuỷu tay nhô lên phía sau lưng, nhô lên nhô xuống theo nhịp chân bước bành bạch trên đường nhựa nóng bỏng mùa hè. Khi chạy đã thành đà thì hai bàn tay không cần nắm chặt càng xe, mà chủ yếu là đè xuống cho xe được cân bằng. Gặp bà khách béo thì càng phải đè mạnh cho ngang sức đè của bà ấy. Người ngồi thẳng lưng thì kéo còn nhẹ, gặp phải Tây hay ông nào thích vểnh râu, vắt chân chữ ngoéo, lưng tựa mạnh như ngồi cái ghế xa lông ở nhà, thì nặng quá, đầu phải hơi cúi xuống, hơi cúi thôi, nếu cúi hẳn thì không trông thấy đường mà tránh xe cộ. Muốn báo hiệu thì miệng kêu: ếp êếp... (chứ không có chuông). Khi khách xuống xe cũng vậy, sắp hạ càng mà khách đứng lên sàn xe ngay thì còn nhẹ, chứ ông ấy cứ ngồi ườn ra thì nặng phải biết.


Nói về người to béo ngồi xe tay, thì người ta hay nói đến hai người ngoại quốc: ông Quay Fong, người Tàu, chủ hiệu ở Hàng Bồ và lão Descours Cabaud chủ hiệu kim khí ở phố Hàng Khay. Hai người này ngồi xe, chỉ mớm mông đít vào mép đệm xe, nếu ngồi hẳn vào thì... chật, không vừa... Vì nó béo tròn béo trục. Bà con nói: Họ ăn lắm của nước mình... Và thường hai tay này nếu đi xe tay thường gọi là loại xe OMIC. OMIC là một nhà thầu xe tay có cả Tây và Ta chung vốn, thùng xe làm bằng nhôm rất nhẹ, đệm lò xo, có trải khăn trắng, sạch. Xe thấp, đi đỡ nghênh ngang, gácđờbu (chắn bùn) bằng sắt uốn lòng máng, trông đẹp hơn là xe khác chắn bùn bằng gỗ, trông thuỗn. Người kéo xe đội nón sơn xanh, mặc áo xanh có đính một mảnh vải trắng hình mặt trăng ở lưng áo, quần áo xanh đều viền trắng. Diện xe OMIC đắt gấp rưỡi xe thường.


Thợ thuyền ăn mặc xoàng xĩnh, có khi bẩn. Học sinh là loại ăn mặc sạch sẽ nhất, phần lớn đi bộ. Tiếng bác hàng phở cố định ở đầu phố rao ồm ồm, âm vọng. Bà “chai chè” giọng thấp, kéo dài, dịu. Tiếng mõ rao “sực tắc” thỉnh thoảng lại nổi lên một hồi giòn giã, thúc giục. Nói chung ở vỉa hè nghe tiếng  guốc nhiều hơn cả. Hầu hết phụ nữ, kể cả sang hèn, là đi guốc. Đàn ông, cả thanh niên, thợ, học sinh cũng đi guốc nhiều hơn là giày và săng đan. Còn lại đàn ông thanh lịch, mặc âu phục cũng có nhiều kiểu, mốt.


Về mùa rét, nếu mặc comlê (complet) thì gọi là diện ive (hiver là mùa đông). Comlê gồm có quần, gilê (gilet), véttông (veston) - ngoài ra còn cavát (cravate), mũ phớt (feutre, một loại dạ). Vải may comlê (tissus) ưa thích là Dormeuil và một vài thứ khác như Montagnard... May vải gì người ta thích biết tên vải đó. Thanh niên thích màu xanh chai, cho màu đó là trẻ (người già, đứng tuổi dùng màu gam nâu, màu xám). Người ta thích vải trơn, nếu hoa kẻ thì hơi già. Có người thích hoa ca rô (carrrau, kẻ vuông), nếu vải này thì hay may kiểu spo (sport, thể thao), nghĩa là vét tông có một đai ngắn ở lưng xẻ phía dưới lưng, túi khâu ra ngoài. Thanh niên thích lạ, nhưng có khi không đúng cung cách ăn mặc. Như cái quần tây kiểu gôn (golf), gấu quần cao lên trên mắt cá chân và túm lại, là để người phương Tây dùng đi ngoài thành phố, đi đường có tuyết. Thế mà có dạo, họ cũng ưa thích. Ve áo thì các bạn ấy thích dùng ve chữ B và cài cúc kiểu thẳng (droit), nhưng sau này lại chuyển sang mốt cúc cài bắt chéo (croisé). Ve chữ B có hai kiểu, ba cúc và hai cúc; kiểu ba cúc thường phải đi đôi với ve to bản. Vai áo - mà mốt cổ điển là vai vuông, tức là một đường thẳng ngang, ai có vai không vuông, thì thợ may làm vai giả đệm vào. Đến nay chuyển sang mốt vai xuôi, nghĩa là dốc xuống phía ngoài. Dốc xuống và bành ra một tí thì trông phần trên thân người to ra. Quần thì vào thời gian sau đi vào mốt hẹp ống. Áo vai xuôi, quần hẹp ống, mặc vào trông sẽ thấy phang phác hình thang (trapèze). Như thế ta biết các bạn ấy thích là một con người thể thao, nhưng là thể thao “vỏ”, vì một thân thể ngực nở, vai và bắp tay to, bụng thót có thực sự ở một người cởi trần, chứ không phải diện vào.


Quần tây bấy giờ đang thịnh mốt gấu lơvê (levé, gấu gấp lên). Thật ra chỉ là cái túi đựng bụi, vì dẫu giàu, cũng là thanh niên Hà Nội, cũng đều được hứng bụi thành phố chứ đâu như ông hoàng tử xứ Galles “ăn diện” có tiếng thế giới một thời. Họ kể một giai thoại: Một ông hoàng xứ Galles tên là Windsor là người từng “lăng xê” nhiều mốt mới. Một hôm ông ta đi dự khiêu vũ long trọng - Windsor sợ bẩn gấu quần nên bảo người hầu gấp hai gấu quần lên, ý đồ là nếu dính bùn là dính vào lần trong, khi vào đến nơi trịnh trọng, sẽ bỏ chỗ gấp đi và bên ngoài vẫn sạch. Đó là một ý định hay, nhưng khi vào nơi đón tiếp, tíu tít nên quên phứt việc bỏ thẳng gấu quần xuống; vả lại khi ấy người hầu phải đứng ở ngoài, nên không có người làm việc đó. Các vương tôn công tử có mặt ở đó để ý và thầm nghĩ đây là một mốt mới của Windsor. Chỉ mấy ngày sau, đi ngoài phố người ta đã thấy hầu hết các gấu quần đều lơ-vê.


Cavát trước thắt nút to, ít lâu sau mốt đó chỉ tồn tại ở người đứng tuổi. Bạn trẻ thắt nút nhỏ và thắt đúp (quấn hai lần). Cổ sơ mi trắng có cặp (pince-col) để cho nút cavát dô nổi ra. Còn cái cặp cavát (pince cravate) thì cũng còn dành cho các cụ già. Các ông viên chức khi ngồi bàn giấy hay làm việc gì phải cúi xuống, thì cặp cho nó khỏi lủng lẳng. Có thời gian nơ (noeud) kiểu con bướm thịnh hành, sau dùng nơ hai cánh dài ngang sang hai bên. Đầu tiên, cavát vải thường, sau các cửa hiệu bày cavát đều có chữ quảng cáo: cavát lụa thiên nhiên thuần túy (puce soie naturelle). Những khi trịnh trọng, người ta cài pốtsét (pochette) đó là một cái mùi soa nhỏ, trắng, có thể thêu ren, gấp lại để thòi một góc ra ngoài túi ngực. Đầu bóng thường chải bằng sáp, tóc phía trán phải bồng lên, trông nó mới trẻ (gọi là đầu bồng).


Về mùa hè - xứ này là nhiệt đới - thanh niên thường mặc quần trắng, hiếm khi quần màu và không có ai dùng quần kaki, cái hàng kaki này dùng cho các ông cai thầu. Áo sơ mi dét (chemisette, thân ngắn, hẹp, tay cộc) vải phin hay dệt kim. Dệt kim thường là hàng Tây, mà nổi tiếng là của hãng Pháp Valisère; sơ mi dét Valisère có vài màu, nhưng ưa chuộng là màu tím than. Khi ấy không có cách mặc sơ mi bỏ ngoài quần, kể cả những người lao động ăn mặc nhôm nhoam, vì đã gọi là “mặc Tây” thì phải quần, xanh tuya (ceinture) bó áo vào trong.


Mũ, thì đầu mùa hè cũng không dùng, mà đầu trần đã bắt đầu thành mốt. Cái mũ cát (casque) thường dùng ở các bạn mặc Ta, hoặc mặc Tây nhưng ở các ông thầu khoán, cai kíp, người đứng tuổi. Nói về cái mũ cát cũng không phải chỉ có một kiểu, kiểu phổ thông giống như bây giờ, khi ấy gọi là kiểu Bảo Đại (chả hiểu tại sao). Lại còn kiểu rất dày, chóp hơi dẹt, loại này có khi bọc kaki vàng (các loại khác thường là vải thô, trắng). Trắng thì hay bẩn, và thỉnh thoảng phải đánh phấn. Loại bọc kaki vàng như thế cũng dùng ở người già, thầu khoán. Cũng cần viết trong dấu ngoặc là cái ông thầu khoán sao mà hay có chuyện trong cách ăn mặc vậy? Nó có “tính lịch sử” của nó. Chả là những vị này là những người Việt Nam đầu tiên làm việc Tây, nên cũng là những người đầu tiên mặc Tây. Mà cái gì là đầu tiên bao giờ cũng bao hàm cái cũ, cái “cổ” một khi mà thời gian trôi đi, và người ta so sánh với cái hiện tại. Khi đã có những mốt mới thì các ông này cũng không nghĩ tới, không thích cái mốt, hay là không có thì giờ để mà nghĩ, vì cái thì giờ vàng bạc của ông ấy là đúng cả nghĩa bóng và nghĩa đen.


Mùa rét người ta dùng giày da. Phổ cập là màu nâu, ít người dùng giày đen. Mùa thu hay mùa hè, giày đơ culơ (deux couleurs, hai màu). Mùa nóng, thanh niên đi giày vải là phổ biến. Hiệu giày có nhiều nhưng ưa thích là giày Tiệp Khắc Ba Ta ở phố Hàng Đào. Đến khi có Đại chiến thứ hai thì hàng bên Tiệp không sang được, chủ hiệu đặt cho các cửa hàng giày đóng theo quy cách và nhất là theo kiểu của nó.


Cho đến năm 1940 thì mặc Ta còn khá nhiều ở thanh niên. Từ năm ấy trở đi thì giảm dần, rồi giảm nhanh.


Nữ thanh niên học sinh mặc áo dài các màu, nhưng là màu trơn, không mấy khi dùng hoa, mà có lẽ vải hoa cũng ít có. Vải hoa phổ biến là hàng Bombay bán ở các cửa hiệu “Tây đen” phố Hàng Ngang, Hàng Đào. Lúc đầu là cái áo tứ thân cổ điển thu gọn lại, nên còn rộng, gấu khâu to.


Từ năm 1920 mốt mặc áo màu và khăn san đã ra đời. Đến năm 1930 chẳng những cái áo vân Tàu, cái quần lĩnh Bưởi đã bị các bà các cô chôn chặt mà cả cái áo hàng thâm, cái quần tía bông cũng bị các bà các cô ruồng bỏ nhường chỗ cho cái quần trắng áo lam.


Năm 1935, một họa sĩ tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương là Nguyễn Cát Tường, chủ một cửa hàng mốt phụ nữ tân thời lớn nhất thời đó ở 16 phố Lê Lợi - Hà Nội đã có sáng kiến đưa ra một kiểu áo dài ceintré thắt lưng ong, gấu viền nhỏ, vê tròn, chiếc áo được may bó sát người làm nổi lên những đường cong hấp dẫn trên cơ thể phụ nữ, khiến thân hình như cao hơn, mảnh mai hơn. Chiếc quần được may bằng lụa hay sa tanh trắng hơi bó sát mông và đùi để mở rộng từ đầu gối xuống, làm cho đôi chân như dài hơn trên đôi dép cao gót. Kiểu áo này gọi là kiểu Lơmuya (Lemur là tường), được đăng trên báo Ngày nay.


Một số họa sĩ khác như Lê Phổ cũng có những đóng góp về chi tiết, lúc đầu các họa sĩ đưa ra nhiều kiểu cổ áo như “cổ bánh bẻ”, “cổ lưỡi dao”, “cổ viền”, tay áo hẹp nhưng cổ tay lại xòe cánh sen, nhưng đến những năm 1940 chỉ còn một kiểu cổ đứng. Nó chỉ còn thay đổi khi thì lên cao gần sát mang tai, gần giống kiểu cổ áo Thượng Hải của người Trung Hoa, khi lại xuống thấp hơn.


Bạn gái thời đó đi guốc là chính, và guốc thì thấp gót là phần đa. Ít người đi guốc cao gót, và không có ai đi dép (tất nhiên cũng chưa có sản xuất dép nữ). Những dịp trịnh trọng thì đi giày cườm (kiểu mõm nhái). Nếu là cưới, thì đi hài. Hai kiểu giày nữ này thường do hiệu “Quận Chúa” (cái tên vương giả) ở phố Hàng Đào sản xuất và bán. Phụ nữ đi ngoài phố thường là ở tay không mang gì cả. Sắc tay (sac à main) cũng ít người dùng.


Về cái răng cái tóc. Năm 1939 hãy còn những cô gái ngoài 20 tuổi răng đen (nếu ở vùng quê thì không nói làm gì). Tuy vậy lúc cần thiết vẫn đánh phấn má hồng, môi son và mặc “tân thời” (cái từ ngữ “tân thời” từ năm 1940 người ta không dùng nữa). Rồi dần dần những hàm răng đen cũng biến thành trắng, chứ nếu trên khuôn mặt, ngoài màu hồng và màu trắng ra, lại có màu đen nữa, trông ngang phè. Có lẽ đó cũng là một trong những “bối cảnh” để xuất hiện một cái “Mỹ viện Amy” ở phố Hàng Than, với bảng quảng cáo: Cạo răng đen - Uốn tóc - Kẻ lông mày. Cắt và nhuộm móng tay - Uốn vẩu. Vậy thì cái Mỹ viện Amy này có thể đi vào “lịch sử”: Nó là một trong vài hiệu uốn tóc nữ đầu tiên. Đa số “con gái” còn kẹp tóc. Đến khi lấy chồng thì búi, đến lúc nạ dòng thì quấn tóc quanh đầu. Kiểu vấn khăn trần thường dùng ở phụ nữ chừng 30 trở đi. Khi cưới (ở những nhà “lịch sự”) thì cô dâu làm tóc theo kiểu mà người ta gọi là “Nam Phương hoàng hậu” - có lẽ nhìn ảnh mà bắt chước cái khăn của bà Bảo Đại khi ấy chăng?


H.A.


www.trieuxuan.info



 








1 Tiểu sử văn học của Hoài Anh đã in trong Văn chương Hồn Việt số 1. NXB Văn học, 4-2009. Bạn đọc có thể truy cập mục Tác giả trên trang web văn học www.trieuxuan.info.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Chuyện nhân thế đời thường, chuyện facebook - Triệu Xuân 04.12.2017
Thăng Long Hà Nội, ngàn năm Văn hiến (1010 – 2010) - Nguyễn Xuân Tư 02.12.2017
Quê mình Hà Nội – Văn viết cho tập Thơ: Kinh thành cổ tích - Nguyễn Nguyên Bẩy 02.12.2017
Về xứ Bốn Ngàn - Nguyễn Hồng Lam 27.11.2017
Món riêu của Bà - Lê Phương Liên 18.11.2017
12 người lập ra nước Nhật (12): Matsushita Konosuke - Kinh doanh kiểu Nhật và triết lý kinh doanh - Sakaiya Taichi 10.11.2017
Sơn Nam - Hơi thở của miền Nam nước Việt - Tạ Tỵ 10.11.2017
Dương Nghiễm Mậu - Tạ Tỵ 10.11.2017
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
xem thêm »