tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20783451
Những bài báo
12.06.2009
Ngô Minh
"Ba phút sự thật" của Phùng Quán

Tập ký Ba phút sự thật của nhà văn Phùng Quán, tập hợp mười lăm bài ký thấm đẫm nhân văn của cố nhà thơ nổi tiếng. “Ba phút sự thật” là bài viết ngắn về anh hùng dân tộc Cuba Ăng-tô-ni-ô Êch-xê-va-na đã vạch kế hoạch đánh chiếm Đài phát thanh Quốc gia để có 3 phút nói lên sự thật, vạch mặt chế độ độc tài Batista. Từng câu chuyện dù rất ngắn của Phùng Quán bao giờ cũng toát lên triết lý nhân văn sâu sắc, găm vào trí nhớ người đọc. Ví dụ, kết thúc bài viết ngắn “Ba phút sự thật”, anh viết: "Câu chuyện dạy tôi một bài học lớn về nghệ thuật ngôn từ. Cả những đề tài lớn lao nhất như sự thật, như chân lý, đều có thể diễn đạt trong vòng 180 giây đồng hồ với điều kiện tác giả phải sẵn sàng đem mạng sống trả giá cho những giây đồng hồ quý báu đó” (tr. 15). Vâng, để nói lên sự thật, viết về sự thật, chính Phùng Quán đã đánh đổi cả tuổi thanh xuân của mình! Vâng, Ba phút sự thật là sự thật của nhiều mảng đời buồn đau chưa từng được nói ra của những con người nổi tiếng tài hoa bạc phận.

Cuốn sách có xuất xứ từ tập bản thảo Chuyện Phùng Quán do tôi sưu tầm và tuyển chọn trong hai năm 2004-2005, gồm các bài viết của các nhà văn nhà thơ, bạn đọc cả nước về văn chương và cuộc đời Phùng Quán, cùng những bài viết của nhà văn Phùng Quán mới được sưu tầm và biên soạn từ chồng lai cảo anh để lại. Đầu năm 2006, tôi gửi bản thảo cho anh Nguyễn Đức Bình, giám đốc NXB Văn Nghệ. Trước đó năm 2002, tôi cũng đã sưu tầm và tuyển chọn tập Nhớ Phùng Quán dày 532 trang do NXB Trẻ và Công ty Văn hóa Phương Nam ấn hành. Tập Nhớ Phùng Quán cũng tập hợp nhiều bài viết xúc động của các nhà văn bạn bè anh Quán sau khi anh qua đời và tập hợp một số thơ và những bài ký của Phùng Quán. Cuốn sách được bạn đọc trong nước tìm mua và ca ngợi. Đọc tập bản thảo, anh Nguyễn Đức Bình điện ra Huế bàn với tôi rằng: “Tập Chuyện Phùng Quán rất xúc động, nhưng có kết cấu hơi giống với cuốn Nhớ Phùng Quán, nên sợ bạn đọc không chú ý. Nên chăng anh tập hợp cho nhà xuất bản cuốn sách gồm những bài viết của Phùng Quán về những nhân vật nổi tiếng, như thế chắc bạn đọc sẽ đón nhận hơn, còn các bài viết của bạn bè về Phùng Quán tôi cứ giữ đây, sẽ sử dụng sau”. Tôi đồng ý với anh Bình. Tôi điện ra cho chị Vũ Thị Bội Trâm; chị Trâm mừng lắm, vì chị muốn in một cuốn sách về những bài viết của anh mà không biết in ở đâu. Chị lụi cụi chép gửi vào cho tôi bài “Một năm lao động ở công trường Cổ Đam” và một số bài khác. Tôi tập hợp bài, viết lời giới thiệu, bản lý lịch văn học Phùng Quán, chú thích những chỗ cần thiết rồi gửi cho Nguyễn Đức Bình. Thế là bản thảo cuốn sách Ba phút sự thật của Phùng Quán được hình thành. Được sự đồng ý của chị Vũ Thị Bội Trâm, vợ nhà thơ, NXB Văn Nghệ đã tiến hành in ấn trong thời gian rất nhanh. Làm bản thảo tháng 3, đến cuối tháng 5 - 2006 sách đã in xong, Công ty Văn hóa Phương Nam nhận phát hành toàn bộ. Sau khi sách phát hành, Nguyễn Đức Bình điện ra bảo tôi nên nhờ một số nhà văn viết bài giới thiệu, vì anh sợ cuốn sách bị “đánh”. Quả thực, đọc từng bài viết của anh Quán, những “vấn đề” có thể bị chìm đi trong câu chuyện, nhưng khi tập hợp thành sách thì những “vấn đề” ấy lại cộm lên, nên Bình ngại là phải. Tôi động viên Bình, không sao đâu, vì tất cả các bài viết của anh Quán đều tâm huyết và rất trách nhiệm với cuộc đời. Nhà văn Nguyễn Khắc Phê ngay tức khắc viết bài giới thiệu trên báo Tuổi Trẻ. Đến nay sau khi sách ra được gần hai tháng, chị Bội Trâm và tôi nhận được rất nhiều cú điện thoại khen sách nay, chưa thấy có ai phê phán gì.

Ba phút sự thật là những trang kỷ niệm, hồi ức của nhà văn Phùng Quán về những người bà con thân thuộc, về đồng đội, đồng nghiệp văn nghệ sĩ nổi tiếng của mình như Tố Hữu, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Hữu Đang, Văn Cao, Hồ Vi, Trần Đức Thảo, Phùng Cung, Tuân Nguyễn, Văn Cao...; viết về những chiến sĩ cách mạng Cuba; những hồi ức về những chiến sĩ cảm tử quân trong những ngày đánh Pháp ở Huế, hồi ức về những ngày đi lao động cải tạo của nhà văn ở công trường Cổ Đam, Hà Nam, v.v... Đọc Ba phút sự thật ta càng hiểu thêm tâm trạng của Phùng Quán trong những ngày sau vụ Nhân văn-Giai phẩm, hiểu thêm về tình cảnh khốn khó của những người trí thức yêu nước một thời. Qua những trang ký cháy bỏng tâm can, ta càng hiểu thêm nhân cách cao thượng và lòng chung thủy như nhất của ngòi bút Phùng Quán. Đây là cuốn sách chân thực và xúc động từ trang đầu đến trang cuối.

Phùng Quán (1932-1995) là nhà văn để lại nhiều dấu ấn khó quên trong lịch sử văn học Việt Nam từ nửa sau thế kỷ XX. Anh là một nhà văn chiến sĩ trọn đời trung thành với lý tưởng mà mình đã chọn từ thuở thiếu thời: Đi theo Vệ quốc Đoàn chiến đấu vì Tổ Quốc, nhân dân; dù phải vượt qua vô vàn tai ương đau khổ suốt 30 năm trời từ sau vụ Nhân văn. Thế nhưng anh không hề thù oán ai, vẫn cặm cụi viết, và vẫn “viết ngay viết thẳng từ dòng đầu tới dòng cuối”, luôn xưng tụng đất nước, xưng tụng nhân dân, xưng tụng tình yêu bằng những tác phẩm văn chương cuốn hút, bốc lửa, thiết tha và nhân bản. Phùng Quán đã để lại trong lòng bạn bè, đồng nghiệp một nhân cách cao cả, một lòng tin yêu đồng đội sâu sắc, một tấm gương lao động hết mình... với gần trăm tác phẩm thơ, trường ca, truyện thơ, tiểu thuyết, truyện tranh được nhiều thế hệ bạn đọc mến mộ.

Nhắc đến Phùng Quán ai cũng nhớ tiểu thuyết Vượt Côn Đảo viết khi anh mới 22 tuổi, được tái bản gần chục lần, cho đến bộ tiểu thuyết ngàn trang Tuổi thơ dữ dội, được tái bản lần thứ năm (lần tái bản gần đây nhất là năm 2005, do NXB Kim Đồng thực hiện), được đạo diễn Vinh Sơn dựng thành phim cùng tên làm xúc động hàng triệu triệu khán giả Việt Nam trong và ngoài nước. Bộ phim Tuổi thơ dữ dội được giải bạc tại Liên hoan Phim Việt Nam năm 1990. Tuổi thơ dữ dội xuất hiện 32 năm sau sự kiện Nhân văn đã nhận được giải thưởng Hội Nhà văn, chứng tỏ sự kiên trung trước sau như một của ngòi bút Phùng Quán đối với con đường mà anh đã chọn! Nhắc đến Phùng Quán ai cũng nhớ những bài thơ gan ruột như “Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo” viết về chị Võ Thị Sáu, bài thơ “Lời mẹ dặn” nổi tiếng một thời:



Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu...



Và những bài thơ “Hôn”, “Chống tham ô lãng phí”, Trăng Hoàng cung, “Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe”... đọc lên như nghe lời kinh nguyện cầu cho thân phận nhà thơ, thân phận con người:



... Đã đi với nhân dân
Thì thơ không thể khác
Dân máu lệ khốn cùng
Thơ chết áo đắp mặt...



Ngoài tiểu thuyết, thơ, Phùng Quán là cây viết ký viết báo bậc thầy. Sinh thời những bài ký, bài báo của Phùng Quán bao giờ cũng thu hút người đọc; được các báo in đi in lại. Như bài “Đầu năm xông đất nhà thơ Tố Hữu”, tạp chí Cửa Việt của Hoàng Phủ Ngọc Tường in rồi, sau đó báo Tiền Phong in lại. Một số bài viết của anh đã được giới thiệu trên các báo, nhưng cũng có những bài viết chưa công bố bao giờ, nằm trong lai cảo, do vợ nhà văn cung cấp. Chuyện vô cùng cảm động về “Người bạn lính cùng tiểu đội”. Đó là thiên ký sự tài hoa, xúc động viết về một quãng đời đầy tai ương, khốn khổ của nhà thơ Tuân Nguyễn, một người bạn cùng quê, cùng đơn vị chiến đấu thân thiết nhất của Phùng Quán trong kháng chiến chống Pháp. Tuân Nguyễn là một nhà thơ rất mới mẻ. Từ những năm 60 của thế kỷ trước, anh đã có những câu rất lạ:



Sóng Sông Hồng bỗng xanh màu Danube
Nhạc bồng bềnh trôi tới các vì sao
Trời lung linh khẽ chao mình theo nhịp
Những người nước lạ phải lòng nhau.



Tuân Nguyễn làm biên tập ở Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, anh say mê Dostoevsky, Chekhov... và đang căm cụi viết cuốn tiểu thuyết quan trọng nhất của đời mình. Đang viết dở thì năm 1963, anh bị bắt vì tội “xét lại”, và bị tù 9 năm. Có một chi tiết vừa khôi hài vừa đau đớn được Phùng Quán kể lại. Khoảng năm 1963, Tuân Nguyễn còn sống độc thân. Để có tư liệu viết tiểu thuyết, anh năn nỉ xin Phùng Quán một đồng tiền vàng. Đồng tiền vàng là tên của một loại bao cao su do Tiệp Khắc sản xuất hồi đó, chỉ được bán phân phối trong của hàng mậu dịch. Tuân Nguyễn xin “xem thực tế” để miêu tả tính cách nhân vật trong tiểu thuyết. Phùng Quán không có, bèn nhờ một người bạn tìm cho Tuân Nguyễn một đồng tiền vàng. Cái ngày mà Tuân Nguyễn cầm được đồng tiền vàng trong tay, hồ hởi về phòng làm việc, là cái ngày mà anh bị công an bắt. Đồng tiền vàng trong túi quần, anh chưa kịp bóc ra coi thì bị còng tay và đồng tiền vàng bị tịch thu. 9 năm sau, khi ra tù, Phùng Quán hỏi, Tuân Nguyễn vẫn chưa hề biết đồng tiền vàng ấy mặt ngang mũi dọc thế nào! Thiên ký sự còn kể nhiều chuyện Tuân Nguyễn ở trong tù không khác gì Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn (tr. 140-197).

Bài “Đầu năm xông đất nhà thơ Tố Hữu”, Phùng Quán kể lại lần đầu tiên sau 32 năm cậu cháu quay lưng lại với nhau, kể cả khi cháu cưới vợ, cậu cũng không thèm tới. Bây giờ khi nhà thơ Tố Hữu đã không còn là phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nữa, vợ chồng Phùng Quán mới mạnh dạn đến thăm người cậu của mình. “Tết này trước cổng biệt thự của nhà thơ quang cảnh vắng teo. Không có chiếc ô tô con nào, không công an cũng chẳng lính cảnh vệ. Cái cổng sắt mọi ngày nom như hẹp lại, hai cánh cửa khép hờ, ai vào cứ việc đẩy cửa mà vào y như thể dân thường...”. Phùng Quán đề nghị cậu đọc thơ, Tố Hữu đọc cho cháu nghe một bài thơ mới viết với giọng thơ khác lạ, thể hiện tâm trạng của ông trước cơn lốc thị trường. “Đầu đề bài thơ là ‘Anh bộ đội mua đồng hồ’. Xin lưu ý là ‘anh bộ đội’ nghe - Có anh bộ đội mua đồng hồ / Thiệt giả không rành anh cứ lo / Đành hỏi cô nàng, cô tủm tỉm; - từ “tủm tỉm của tôi là đắt lắm đấy, - Giả mà như thật khó chi mô!” Cậu cháu trò chuyện vui vẻ. Khi tiễn vợ chồng Phùng Quán ra cổng, nhà thơ Tố Hữu nói với vợ Phùng Quán: “Thằng Quán nó dại...”. Khi ra gần đến cổng sắt, nhà thơ dừng lại, nói tiếp như vẫn không dứt dòng suy nghĩ của mình: “Mà cậu cũng dại...” (tr. 22). Chuyện “Bản hùng ca bị mối xông và 17 bộ hài cốt liệt sĩ” là những trang viết hào hùng và cảm động về Trung đội cảm tử Vệ quốc Đoàn của Trung đoàn Trần Cao Vân đã hy sinh tập thể rất cao cả trong những ngày toàn quốc kháng chiến khốc liệt ở thành phố Huế. Phùng Quán viết bài này khi nghe tin công nhân xây dựng đã đào được 17 bộ hài cốt Việt Minh khi xây dựng trụ sở Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Thừa Thiên Huế trên đường Hà Nội. Viết xong, Phùng Quán chép lại một bản chép tay nắn nót đề tặng: “Các bạn trẻ ở Uỷ ban Khoa học Kỹ thật Thừa Thiên Huế”. Không hiểu sao, nhà văn Nguyễn Khắc Phê lại giữ bản chép tay này. Biết tôi đang tập hợp bài cho cuốn sách của Phùng Quán, anh Phê đã bàn giao lại bài viết với nét chữ bút sắt chấm mực của Phùng Quán cho tôi quản lý.

Bài “Cuộc hàng trình cuối cùng của một triết gia” viết về nhà triết học Trần Đức Thảo, một người nổi tiếng, đã từng xuất bản nhiều tác phẩm triết học ở Pháp, ở Anh, ở Mỹ, Tây Ban Nha, ở Nhật, ở Đức, ở Hungari... “Năm 1952, triết gia đã từ bỏ tất cả vinh quang, tiền bạc, tiện nghi và phương tiện nghiên cứu học thuật, trở về Tổ Quốc theo con đường Paris-Luân Đôn-Praha-Moskva-Việt Bắc để cùng được ăn rau tàu bay với chiến sĩ và cùng run những con sốt rét rừng... Và triết gia đã từng nhận công tác tại văn phòng Tổng Bí thư rồi ủy viên Ban Văn Sử Địa - nay là Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, phó Tổng Giám đốc Trường Đại học Sư phạm Văn khoa, chủ nhiệm khoa sử Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, chuyên viên cao cấp của Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia. Ông mất ở Pháp, bình tro đưa về Hà Nội bằng máy bay.” “Về đến Hà Nội, vì không gia đình vợ con và không có cơ quan nào và trường đại học nào trước đây đã từng công tác và giảng dạy nhận về để nhờ hoặc để quản, nên triết gia phải tạm trú tới 50 ngày dưới một gầm cầu thang của nhà tang lễ thành phố” (tr. 45-46), cô đơn, lạnh lẽo, không có người phúng viếng nhang đèn… Nhiều lần đọc bài viết của Phùng Quán về nhà triết học Trần Đức Thảo, lần nào tôi cũng ứa nước mắt.

Rồi chuyện ông Nguyễn Hữu Đang trong bài viết “Những ngày cuối năm tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập” rất xúc động. Nguyễn Hữu Đang là người chỉ huy dựng Lễ đài Độc lập 2-9-1945, Trưởng Ban tổ chức Lễ ra mắt của Chính phủ Hồ Chí Minh, sau thời gian đi tù ở cao nguyên Hà Giang (sau vụ Nhân văn-Giai phẩm), ông được tha về quê ở Thái Bình suốt 15 năm không gia đình, vợ con, phải đi nhặt từng chiếc vỏ bao thuốc lá để “làm hàng đối lưu” đổi cho trẻ con lấy từng con cóc để giết thịt, băm nhỏ, bỏ vào chai để ăn dần bồi dưỡng tuổi già. Người “trai tân” 80 tuổi này đi nhặt cái xô tôn thủng đáy, tấm gỗ dán, hai cái vại muối dưa sứt miệng người ta vứt ngoài bờ tre về làm bàn ghế. Ông bảo: “Hai cái vại còn tốt như thế này mà đem quẳng bụi tre... Tôi nhặt về cọ rửa sạch sẽ, lật đít lên, làm thành cái ghế ngồi vừa vững chãi lại vừa mát. Chú ngồi thử mà xem, có khác gì ngồi trên đôn sứ đời Minh?” (tr.127). Rồi bao chuyện oái oăm, cảm động về nhà thơ Hồ Vi, về Phùng Cung, Đoàn Phú Thứ, Văn Cao…, những trí thức đi theo cách mạng bị loại ra ngoài lề cuộc sống!

Hồi ức “Một năm lao động ở công trường Cổ Đam” (Hà Nam) giúp bạn đọc hiểu thêm những năm tháng Phùng Quán đã trải qua nỗi đau đớn cả về thể xác lẫn tinh thần như thế nào. Câu chuyện được kể với giọng văn hài hước, làm cho người đọc cười ra nước mắt. Thời gian sau khi bị Nhân văn-Giai phẩm, Phùng Quán phải đi cải tạo lao động ở rất nhiều nơi. “Từ năm 1958, tôi đã phải đi nhiều đợt lao động ở hợp tác xã nông nghiệp Thái Lai (Thái Bình), công trường nhà máy đường Việt Trì (Phú Thọ), nông trường cao su-cà phê Thắng Lợi ở Thọ Xuân (Thanh Hóa)... Đợt nào tôi cũng gặp phải chuyện trục trặc, oan ức, đều bị cơ quan quản lý nhận xét là ‘chưa tiến bộ’, ‘chưa khắc phục được tư tưởng Nhân văn’, đôi khi còn có ‘ý định ngóc đầu dậy’”... “Năm 1964 cho đến đầu năm 1965, tôi tiếp tục được Hội Văn nghệ cử đi lao động cải tạo ở công trường trạm bơm điện Cốc Thành, Cổ Đam. Trạm bơm điện Cốc Thành vào loại lớn nhất miền Bắc ngày đó... Tôi phải lao động ở đội mộc rồi chuyển sang đội bê tông. Lao động nặng mà không có tiền ăn sáng, tôi đói mềm người. Tôi lại xấu máu đói. Hễ đói là tay chân bủn rủn, mồ hôi vã ra như tắm. Mặc dù lúc nào tôi cũng đinh ninh trong dạ là phải hết sức cố gắng, phải thật quyết tâm phấn đấu để mau chóng thoát khỏi cái cảnh trợ cấp 27 đồng một tháng. Nhưng rồi tôi lại gặp phải vài chuyện trục trặc không đâu, làm mất toi công sức lao động hơn một năm trời. (tr. 95-98).

Xin trích một câu chuyện “trục trặc không đâu” ấy:

“Hường (đội trưởng đội mộc - cốp pha - NM) có cái thú là mê sáng tác ca khúc. Nghĩa là đặt lời mới theo một số làn điệu dân ca quan họ. Hường khoe với tôi... bài hát theo điệu ‘Trèo lên trái núi Thiên Thai’. Hường hát luôn: ‘Ra đường phải thắt xanh tuya này xanh i í i ì tuya...’.

Ngày Tết sắp đến. Công trường thông báo sẽ tổ chức một đêm văn nghệ quần chúng, tiết mục tự biên tự diễn. Hường say sưa sáng tác bài hát cho đêm văn nghệ. Nội dung bài hát là ca ngợi đội mộc đóng cốp pha đúng kỹ thuật, năng suất cao. Bài hát theo điệu ‘Tình bằng có cái trống cơm’.

Đã lâu quá rồi tôi không còn cả bài hát, chỉ nhớ câu đầu: ‘Tình bằng có cái búa đinh, khen ai khéo gõ ấy mới đinh nên đinh, ấy mới đinh nên đinh...’. Nhưng rồi hình như công việc đặt lời cho bài hát của anh không được suôn sẻ, gặp phải chỗ bí. Tôi để ý, nhiều lúc đang làm việc Hường bỗng ngẩn ra, buông đục, bỏ cưa, bỏ rìu, rút trong túi áo ra tờ giấy nhàu nát, trải lên mặt tấm ván, nhấm nhấm nước bọt cây bút chì thợ mộc vót nhọn hoắt mà lúc nào anh cũng cài trên vành tai, cúi xuống tờ giấy gạch gạch xóa xóa, miệng lẩm nhẩm hát cái gì đó tôi không nghe rõ lời, trán cau lại.

Cũng là người sáng tác nên tôi thông cảm ngay. Điệu này là anh ta đang bí đây. Tôi thấy thương anh, muốn giúp anh gỡ bí. Bước đến gần, tôi hỏi: ‘Sáng tác gặp khó khăn à? Thử nói xem anh bí chỗ nào, tôi có thể giúp anh được không? Tôi không rành sáng tác bài hát lắm, nhưng việc đặt lời cho bài hát nói cũng gần với văn thơ’. Anh chỉ đầu bút chì vào tờ giấy, nói: ‘Mình đang vấp cái chỗ: lội, lội, lội sông ấy mấy đi tìm..., không biết đặt cái tiếng gì vào đó cho đúng giọng. Mình muốn dùng chữ đóng, đóng, đóng hay cưa, cưa, cưa, nhưng đều không đúng điệu dấu nặng. Nghĩ nát cả óc mà không ra. Tôi góp ý: Hay anh dùng chữ đẽo, đẽo, đẽo. Nếu hát lên thì đẽo có thể hát thành đẹo, người nghe cũng hiểu.

Anh gật gù: ‘Đúng, đúng. Ý kiến của cậu hay’. Vượt qua được chỗ bí, anh hoàn thành được bài hát ngay chiều hôm đó...

Đêm văn nghệ, bài hát của đội mộc làm cho mọi người cười vỡ trời vì khi hát đến chỗ đẹo, đẹo đẹo, khán giả ngồi bên dưới sân khấu liền rộ lên hát theo đéo, đéo, đéo muốn vỡ hội trường. Ban tổ chức phải la hét đến khản cổ mới giữ lại được trật tự, nhưng không sao giữa yên được hoàn toàn. Thỉnh thoảng bên dưới khán giả vẫn rúc rích: đéo, đéo, đéo...

Hường bị giám đốc công trường gọi lên xạc cho một trận tơi bời, kết tội anh là cố ý phá rối đêm văn nghệ chào mừng thắng lợi của công trường. Hường hoảng quá phải thú thật: ba tiếng đẽo, đẽo, đẽo ấy là cậu Phùng Quán nó góp ý kiến cho tôi. Lúc đầu tôi định đặt là cưa, cưa, cưa, nhưng hẳn bảo hát là đẽo... nó đúng điệu hơn...

Giám đốc công trường gầm ghè: ‘Đấy đồng chí cứ khen hắn là hiền nữa đi. Nó xỏ mũi đồng chí mà đồng chí không biết. Tôi đã cảnh giác với đồng chí nhiều lần mà đồng chí đều bỏ ngoài tai, không nghe!’’’

Tất cả những áng văn ấy được Phùng Quán viết với một giọng văn tự sự pha hài rất chuyên nghiệp, lão luyện, kết cấu đầy kịch tính, dẫn người đọc đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Đọc Ba phút sự thật của Phùng Quán bạn đọc sẽ hiểu thêm số phận bi tráng mà cao thượng của những người trí thức; càng hiểu thêm sự nhân hậu của cây bút Phùng Quán “một đời lao lực, một đời cay cực, một đời thơ”.

Để có được cuốn sách, chị Vũ Thị Bội Trâm, người vợ thủy chung, người mà khi yêu Phùng Quán, gia đình và cơ quan can ngăn, đã khẳng khái: “Tôi tin anh ấy là người tốt, thời gian sẽ trả lời”. Chị Bội Trâm năm nay 75 tuổi, cách đây hơn 20 năm chị bị ung thư vú, thế mà đêm đêm giương mục kỉnh, lục tìm, đọc và chép lại từng tờ di cảo của chồng giúp cho người làm sách. Riêng bản thân tôi, từ hơn 11 năm nay, có tư liệu nào về Phùng Quán, của Phùng Quán là sưu tầm cho bằng được, rồi cất giữ, chờ ngày công bố. Chúng tôi tin rằng cuốn Ba phút sự thật sẽ mang đến cho bạn đọc nhiều chi tiết mới mẻ, cảm động về đời thường của những nhân vật “nổi tiếng” mà lâu nay chúng ta ít có điều kiện tìm hiểu. Đọc sách chúng ta càng trân trọng tài viết ký và tấm lòng thủy chung như nhất với cuộc đời của nhà thơ Phùng Quán.

Cuốn sách còn có 40 trang Phụ lục, gồm các bài viết về gia đình của Phùng Quán ở Huế, về chị Bội Trâm, người vợ nhà văn yêu chồng đến tận cùng, những giai thoại về Phùng Quán, những bức ảnh quý giá về cuộc đời nhà văn; đặc biệt có phần “Phùng Quán - tiểu sử văn học” tương đối đầy đủ để bạn đọc hiểu thêm nhà văn yêu mến của chúng ta đã sống và viết cật lực như thế nào.

Cám ơn Nhà xuất bản Văn nghệ đã mang đến cho bạn đọc một cuốn sách quý.




Phụ lục

Phùng Quán - Tiểu sử văn học

Họ tên khai sinh đồng thời là bút danh văn học: Phùng Quán. Tuổi nhỏ ở làng thường được gọi là Bê. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam thế hệ đầu tiên 1956. Năm 1958, tham gia Nhân văn-Giai phẩm, bị kỷ luật. Đến ngày 3-2-1988, Phùng Quán được Hội Nhà văn Việt Nam ra văn bản “phục hồi Hội tịch”.

Sinh: Tháng 1 năm 1932 (Tân Mùi), tại làng Thanh Thủy Thượng, tổng Dạ Lê, nay là xã Thủy Dương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên-Huế.

Tham gia Vệ quốc Đoàn tháng 1-1946 tại một đơn vị trinh sát thuộc Trung đoàn 101 Trần Cao Vân, tỉnh Thừa Thiên. Tham gia nhiều trận đánh ác liệt ở địa phương. Sau đó gia nhập thiếu sinh quân Liên khu IV, đoàn Văn công Liên khu IV, giữ chân hậu cần, bếp núc, kéo phông màn và đọc thơ diễn tấu cho bộ đội nghe. Thời gian này Phùng Quán được đi học thiếu sinh quân và Trường Quân chính, tham gia đoàn phóng viên quân đội về Sầm Sơn, Thanh Hóa để thông tin về sự kiện trao trả tù binh. Nhờ chuyến đi này, Phùng Quán có tư liệu quý để viết tiểu thuyết đầu tay Vượt Côn ĐảoTrường ca Võ Thị Sáu. Năm 1954, được điều về cơ quan sinh hoạt Văn nghệ Quân đội, thuộc Tổng cục Chính trị, tiền thân của tạp chí Văn nghệ Quân đội, 4 Lý Nam Đế, Hà Nội.

Sau vụ Nhân văn, Phùng Quán bị kỷ luật, ra ngoài biên chế nhà nước, bị khai trừ khỏi Hội Nhà văn, rời tạp chí Văn nghệ Quân đội, được Hội Nhà văn trợ cấp 27 đồng/ tháng (lương tối thiểu công chức lúc đó là 36 đồng), đi lao động cải tạo tại các nông trường, công trường và địa phương ở Thái Bình, Nam Hà, Thanh Hóa, Việt Trì... Năm 1964, sau khi hoàn thành chương trình “lao động cải tạo”, Phùng Quán được chuyển về công tác tại Phòng Tuyên truyền (Bộ Thủy lợi), Vụ Văn hóa Quần chúng (Bộ Văn hóa), Nhà Văn hóa Trung ương. Ở Bộ Văn hóa, nhiều năm anh được phân công đi tăng gia sản xuất tại rừng núi Bắc Thái. Về hưu 1985.

Năm 1962, Phùng Quán lấy vợ là Vũ Thị Bội Trâm. Sau khi lấy nhau cho đến năm 1981 (20 năm) hai vợ chồng vẫn ở hai nơi: anh ở tại nhà mẹ nuôi tên là Trưởng Dơi ở làng Nghi Tàm, xã Quảng An, Hà Nội. Mẹ Trưởng Dơi có một người con là liệt sĩ, mẹ đã được công nhận Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng. Hàng ngày Phùng Quán viết văn rồi mượn tên thân hữu bạn bè để in, lấy nhuận bút và câu trộm cá Hồ Tây bán lấy tiền nuôi con. Từ năm 1978-1980, Phùng Quán ở trong một căn phòng nhỏ 4 m2 do Bộ Văn hóa phân ở 80 Lê Văn Hưu, Hà Nội, còn vợ vẫn ở nhà bố mẹ là ông Vũ Huy Ngọ và bà Nguyễn Thị Minh ở 3 phố Hàng Cân, Hà Nội. Từ năm 1981 đến nay, thường trú tại Khu tập thể Trường Chu Văn An, 10 Thụy Khuê, Hà Nội. Căn nhà nguyên là cái xưởng trường, Sở Giáo dục Hà Nội, Ban giám hiệu và Công đoàn Trường Chu Văn An cấp cho chị Vũ Thị Bội Trâm. Ở đây Phùng Quán đã tự tay đục đẽo dựng một cái “Chòi ngắm sóng” bằng gỗ, lợp lá gồi. Đây là chỗ mà hằng ngày anh tiếp đón bạn bè, uống rượu đọc thơ. Trên chòi ngắm sóng có dán, treo rất nhiều thơ, tranh ký hoạ của các nhà thơ, họa sĩ trong cả nước tặng Phùng Quán. Từ năm 2003, khu “chòi ngắm sóng” bị giải tỏa. Gia đình chị Vũ Thị Bội Trâm được cấp một khu nhà tại chung cư Vĩnh Phúc, Phòng 204, Khu D3, Chung cư Vĩnh Phúc, Quận Ba Đình, Hà Nội. Đây là căn hộ đàng hoàng nhất mà chị Bội Trâm được ở trong cuộc đời của mình, nhưng anh Phùng Quán không còn nữa...

Cha: Phùng Văn Nguyện, học Đệ Tam niên Trường Quốc học, tham gia truy điệu cụ Phan Châu Trinh, đòi thả cụ Phan Bội Châu, tham gia bãi khóa, biểu tình chống Pháp năm 1926. Sau đó bị bắt giam, bị kết án 2 năm tù treo, bị bồi thường 3 năm tiền học bổng. Ông trốn vào Sài Gòn, đổi tên là Phùng Quý Đông, thi đỗ vào ngành công chức Pháp, làm việc ở Kho bạc Sài Gòn mấy năm, sau đó tưởng yên, xin chuyển về quê công tác để lấy vợ, nhưng bị phát hiện và bị mật thám Pháp bắt và bị giam ở nhà lao Đà Nẵng, bị tra tấn chết trong tù vào năm 1932, khi con trai Phùng Quán mới biết bò.

Mẹ: Công Tằng Tôn Nữ Thị Tứ, thường gọi là bà Phán (vì chồng làm thông phán), dòng Hoàng phái (theo đế hệ triều Nguyễn: Miên Hường Ưng Bửu Vĩnh... thì bà thuộc hệ Bửu). Bà là một phụ nữ có nhan sắc và chữ nghĩa. Mới lấy chồng sinh con chưa được 1 năm, thì chồng bị Pháp giết, bà ở vậy nuôi con cho đến khi con đi theo Vệ quốc Đoàn, rồi thờ chồng, đợi con cho đến lúc chết ở Cố Đô Huế năm 1970, ngày giỗ là ngày 2 tháng Giêng âm lịch.

Vợ: Vũ Thị Bội Trâm, sinh năm 1932, giáo viên dạy văn trường Chu Văn An từ năm 1970. Về hưu năm 1985. Hiện sống thờ chồng với đồng lương hưu.

Con gái đầu: Phùng Đỗ Quyên, sinh năm 1963, lấy chồng là cán bộ Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, hiện ở Viên Chăn, đã có 2 con. Con trai út: Phùng Quân, sinh năm 1968, hiện ở với mẹ.

Nhà văn Phùng Quán mất lúc 16 giờ 50 ngày 22 tháng 1 năm 1995 (giờ Canh Thân), tức ngày 22 Tháng Chạp (ngày Quý Sửu) năm Giáp Tuất tại nhà riêng với căn bệnh hiểm nghèo xơ gan cổ trướng, thọ 64 tuổi. Mộ của anh nằm tại quê vợ, thôn Kiều Mai, xã Phú Diễn, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Đã được chị Vũ Thị Bội Trâm xây cất đàng hoàng bằng tiền nhuận bút Tuổi thơ dữ dội do Nhà xuất bản Kim Đồng tái bản 1997.


Tác phẩm chính đã xuất bản



  1. Vượt Côn Đảo. Tiểu thuyết, 1954: Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân 1954, tái bản 4 lần; Nhà xuất bản văn học Thiếu nhi Liên Xô dịch 1956; Nhà xuất bản Thuận Hóa tái bản lần thứ 5, 1987, in 50.200 bản; Giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam (1954- 1955).

  2. Võ Thị Sáu. Trường ca, 1955. Tái bản 3 lần. Giải nhất cuộc thi sáng tác hưởng ứng Đại hội Liên hoan Thanh niên Sinh viên Thế giới ở Warszawa (Ba Lan). Nhà xuất bản Phụ nữ Việt Nam 1955.

  3. Tôi muốn mời đến Tổ quốc tôi. Thơ, 1955. Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, 1955; Báo Phụ nữ Liên Xô dịch và in, 1957.

  4. Cuộc đời một đôi dép cao su. Truyện thiếu nhi, NXB Thanh niên, 1956.

  5. Thạch Sanh cháu Bác Hồ. Truyện thiếu nhi, NXB Thanh niên, 1955; Nhà xuất bản Thượng Hải (Trung Quốc) dịch và in năm 1956.

  6. Bên bờ Hiền Lương. Bút ký, Nhà xuất bản Văn nghệ, 1955; Nhà xuất bản Thượng Hải (Trung Quốc) dịch và in năm 1956.

  7. Như con cò vàng trong cổ tích. Tập truyện thiếu nhi, (tác phẩm ký bút danh Vũ Quang Khải, em trai vợ, lúc đang làm cán bộ ở Diễn Châu, Nghệ An); Giải nhất cuộc thi sáng tác văn học nghệ thuật kỷ niệm 100 năm ngày sinh Lenin do hãng Thông tấn Nôvôxti (Liên Xô) tổ chức năm 1970; Sở Văn hóa Thông tin Bình Trị Thiên xuất bản, 1987.

  8. Em gái nhỏ và chim bồ câu. Truyện thơ

  9. Vĩnh Linh, lịch sử văn hóa (ký tên tác giả là Nguyễn Huy). Nhà xuất bản Văn hóa, năm 1982. In 6.100 bản.

  10. Dũng sĩ chép còm. Truyện thiếu nhi; Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 1987, đang in với bút danh Trần Vỹ Dạ (do nhà thơ Thanh Tịnh chuyển). Khi Phùng Quán được phục hồi hội tịch mới đổi lại tên Phùng Quán (in 40.000 cuốn), tái bản tại NXB Kim Đồng.

  11. Tuổi thơ dữ dội. Tiểu thuyết; Nhà xuất bản Thuận Hóa in lần đầu 1983, với tên sách Buổi đầu thử thách, tập 1 (ký tên Đào Phương), in 5.150 bản. In lần thứ 2 năm 1988 đổi lại tên Tuổi thơ dữ dội thành 3 tập, 800 trang, số lượng in mỗi tập 20.000 bản. Nhà xuất bản Kim Đồng tái bản lần thứ nhất năm 1997, thành 6 tập khổ 10,2 x15,2 cm. Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh tái bản lần 2. Đến nay bộ tiểu thuyết này đã được tái bản 5 lần. Giải thưởng (giải A) Hội Nhà văn Việt Nam 1987; Xưởng phim Giải phóng dựng thành phim Tuổi thơ dữ dội do đạo diễn Vinh Sơn thực hiện. Phim được Huy chương Bạc tại Liên hoan Phim Việt Nam tại Nha Trang, năm 1990 và được Tổng cục Chính trị Bộ Quốc phòng tặng giải thưởng nhân kỷ niệm 50 năm ngày Thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam 1994.

  12. Người du kích hói đầu. Truyện thiếu nhi, 1990.

  13. Tiếng đàn trong rừng thẳm. Truyện thiếu nhi, 1991.

  14. Đôi bạn tật nguyền kỳ lạ. Truyện thiếu nhi, NXB Thuận Hóa, 1991, in 4000 cuốn.

  15. Trăng Hoàng cung, tiểu thuyết thơ, Thanh Vân xuất bản, California, 1993.

  16. Bản hùng ca về 17 Vệ quốc Đoàn. Tủ sách Tuổi hồng, NXB Trẻ, 1993.

  17. Thơ Phùng Quán. Tập thơ, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1995. Tái bản có bổ sung phần di cảo (300 trang), NXB Văn học, năm 2003 do vợ nhà thơ bỏ vốn ra in.

  18. Ngàn cánh hạc giấy. Truyện tranh, lời Phùng Quán, tranh màu Lê Anh Vân, NXB Văn hóa Dân tộc in 10.000 bản năm 1992, được sự tài trợ của tổ chức The Japan Foundation. Đây là truyện tranh duy nhất Phùng Quán ký tên mình.

  19. Chiếc cối giã trầu bằng thép. Truyện tranh, 1984, tranh Huy Toàn, truyện Phùng Quán, ký tên Thanh Tịnh, NXB Văn hóa Dân tộc 1988.

  20. Thần hổ Chăm Pa. Truyện tranh, ký tên Thanh Tịnh, tranh Trương Hiếu, NXB Văn hóa Dân tộc 1986.

  21. Tượng A Vooc Hồ bằng gỗ trầm hương. Truyện tranh, ký tên Thanh Tịnh, tranh Đỗ Xuân Doãn. NXB Văn hoá Dân tộc 1986.

  22. Tiếng đàn đá. Truyện tranh, ký tên Thanh Tịnh, tranh Huy Toàn, NXB Văn hoá Dân tộc 1986.

  23. Chuyện Tây Nguyên bên bờ Đanuyp xanh. Truyện tranh, ký tên Thanh Tịnh, tranh Huy Toàn, NXB Văn hóa 1986.

  24. Pắc Bó đón Bác về. Truyện tranh. Ký tên Thanh Tịnh, tranh Nguyễn Bích, NXB Văn hóa Dân tộc.

  25. Ba phút sự thật. Ký, NXB Văn nghệ, 5-2006, sách dày 280 trang, ịn 2000 cuốn.


Ngoài các tác phẩm nêu trên, Phùng Quán còn có khoảng 60 truyện tranh ký tên khác (không mượn tên) trong đó có các tên sách như sau: Ông già giết voi dữ, NXB Văn hóa 1982; Chiếc thuyền buồm bay, NXB Văn hóa 1984; Siêu Ly trở về, NXB Văn hóa 1984; Dòng suối mang tên em, NXB Văn hóa 1982; Tiếng đàn trong đêm khuya, NXB Văn hóa 1984; Người phụ nữ Tày dũng cảm, NXB Văn hóa 1978; Vàng A Sìn kể chuyện đánh giặc, NXB Văn hóa 1978; Tòng Văn Kim và đồng đội, NXB Văn hóa 1978; Thiên tình sử Điện Biên, NXB Văn hóa 1984; Dòng sông mất tích, NXB Văn hóa 1986; Hạt muối đỏ, NXB Văn hóa 1985; Như những dũng sĩ trong truyền thuyết, NXB Văn hóa 1980; Tiếng chuông Thiên Mụ, NXB Văn hóa Dân tộc 1987; Tên thám báo và hai em bé, NXB Văn hóa 1981; Từ cõi chết trở về, NXB Văn hóa 1986; Người cầm cờ lệnh của Vua Quang Trung, NXB Văn hóa 1986; Bức chân dung Lenin, NXB Văn hóa Dân tộc 1987; Một mình vào hang cọp, NXB Văn hóa 1986; Ngày gặp gỡ, NXB Văn hóa 1985; Chàng Ná, NXB Văn hóa 1980; Bốn anh em tài giỏi, NXB Văn hóa 1988, v.v… Theo hồi ức của Phùng Quán thì nhà văn còn viết một thiên hùng ca Huyệt lửa chôn chung với 1000 câu thơ về Trung đội cảm tử Huế năm 1946, đã bị mối xông. Năm 30 tuổi anh viết tác phẩm Nước ta có một người mù, ký tên khác, NXB Thanh Niên định in, nhưng phát hiện ra là Phùng Quán viết nên không in. Sau khi được phục hồi Hội tịch Hội Nhà văn, Phùng Quán hỏi thì NXB cho biết đã làm thất lạc bản thảo (!?).

Phùng Quán còn có nhiều tác phẩm khác viết về nghệ thuật sáng tác và diễn tấu, truyện ngắn, truyện thiếu nhi ký tên những người quen biết như Thanh Tịnh, Phương Văn, Vũ Quang Khải v.v… và nhiều bài báo cảm động, in trên các báo Văn nghệ, Người Hà Nội, NXB Văn hóa, NXB Văn hóa Dân tộc, Tiền phong… mà chúng tôi mới sưu tầm được một phần.

Gác Phổ Minh, những ngày World Cup tháng 6-2006.


Ngô Minh.


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tác phẩm mới cần đọc ngay: Nhà Triệu - Mấy vấn đề lịch sử - Nguyễn Khắc Mai 19.10.2017
Chuyện Đông chuyện Tây và chuyện An Chi chưa kể hết - Tư liệu 17.10.2017
Con chim trong tay ta đây còn sống hay đã chết? - Nguyễn Quang Thiều 16.10.2017
Về hệ thống Trường học sinh Miền Nam ở Miền Bắc - Nhiều tác giả 16.10.2017
Xót thương Đinh Hữu Dư – nhà báo trẻ đầy tâm huyết vừa đi xa - Tư liệu 16.10.2017
Tác phẩm: Nhà nước Xích Quỷ từ huyền thoại tới hiện thực - Trương Sỹ Hùng 13.10.2017
Kỷ nhà Triệu & Triệu Vũ Đế trong dòng chảy lịch sử - Vũ Truyết 12.10.2017
Cái “tôi” của người Việt - Từ Thức 12.10.2017
Không thể được! Thưa Tổng thống Pháp! - Nguyễn Huy Toàn 12.10.2017
Hãy tha cho hai chữ “nhân dân”! - Ngô Minh 11.10.2017
xem thêm »