tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21078216
Tiểu thuyết
13.06.2009
Hoài Anh
Đất Thang mộc II - Sứ mệnh phù Lê

Nguyễn Bỉnh Khiêm gật gù:


- Xưa Khổng phu tử hỏi học trò về cái chí của từng người. Tăng Tử nói: “Con chỉ muốn mùa xuân cùng vài người trẻ tuổi tắm ở sông Nghi, hóng mát ở nền Vũ vu, rồi hát mà về”. Phu tử than rằng: “Ta cũng muốn được như Điểm vậy”. Nhưng trong lúc này ta chưa thể nào quên hẳn chuyện đời để gửi mình vào bến nước làng mây, âu là trong chuỗi ngày tàn còn dốc hết sức dóng dả người đời noi theo chính đạo. Các con có nhìn thấy cây đa già ở bến Trung Tân không? Ta nghĩ mình cũng như cây, vốn không có tài rường cột chống đỡ ngôi nhà lớn, hãy đem bóng mát che chở cho dân này. Người khác đừng so sánh với loài gỗ tạp tầm thường vì búa rìu làm sao có thể chặt được tính thiện chân...


Gió từ biển thổi lên làm râu tóc bạc trắng của ông bay lên phấp phới hòa lẫn một màu với lớp sóng biển đằng xa. Trông ông phảng phất như vị “địa trung tiên” như lời ông tự ví mình trong đôi câu đối ở am Bạch Vân giữa làng mây trắng.


Nghe tin Lương Hữu Khánh, con thầy học của của mình là người tài lạ, Vũ Sư Thước đã tâu vua nên sai người ra đón về giúp. Nhưng vì đường sá xa khơi, đi lại nguy hiểm, cho nên chưa có dịp nào mà đưa về được.


Khi Giáp Hải được phong chức thượng thư tước Kế Khê bá, cầm quyền chính nhà Mạc, sai người tìm Hữu Khánh thì gặp cả hai mẹ con ở huyện Lục Ngạn trấn Kinh Bắc đem về. Giáp Hải nghĩ tình bạn lưu ở trong nhà, cung đốn tử tế, và khuyên dỗ cho ra làm quan, nhưng Hữu Khánh biết cơ nhà Lê sắp trung hưng, có ý muốn phù nhà Lê, cho nên không ra làm quan với nhà Mạc.


Giáp Hải biết ý Hữu Khánh, muốn đuổi đi, nhưng không nói ra, nhân một bữa ở trong triều về, giả tảng nói:


- Tôi hôm nay phụng chỉ làm một bài phú, nhưng việc quan bận bịu lắm, nhờ anh làm giúp cho tôi.


Nói rồi, thò tay vào túi, lấy ra một mảnh giấy đầu bài, đưa cho Hữu Khánh. Hữu Khánh thấy đầu bài “Tần quan văn kế([1]) biết là ý muốn đuổi mình, lập tức dặn mẹ đi lẻn ra bến Hoàng Liệt về Thanh Hoa trước, mà mình thì mật đưa một bài biểu vào Yên trường, hẹn ngày ấy thì đem thuyền ra đón tại cửa Thần Phù.


Được vài hôm, làm xong bài phú, để trên đầu giường, rồi lẻn ra di gấp đường xuống cửa bể Thần Phù.


Khi Giáp Hải ở trong triều trở về, đến nhà học, không thấy Hữu Khánh đâu, cho đi hỏi khắp cả các nhà anh em bạn học, cũng không thấy tin tức gì cả. Xảy thấy trên đầu giường có bài phú, trong bài có câu: “Lưu khách hóa ra đuổi khách”. Giáp Hải ngạc nhiên nói:


- Anh này đi mất, triều đình con là nhiễu về anh này!


Lập tức sai quân đi các ngả đuổi theo bắt về. Khi Hữu Khánh đến cửa Thần Phù, thì vua Lê đã sai năm chiếc thuyền chiến và 1.000 quân ra đón. Hữu Khánh vừa bước chân xuống thuyền thì quân nhà Mạc đuổi theo vừa đến.


Hữu Khánh ngồi trong thuyền gọi to lên bảo rằng:


- Gửi lời các anh, về tạ ông Kế Khê, ngày sau ta sẽ xin đền trả ơn.


Khi về tới cửa phủ Yên Trường, vua Lê mừng rỡ lắm cử làm Thị lang, cho tham tám việc quân cơ. Được gặp lại con thầy, Vũ Sư Thước vô cùng cảm động, hỏi thăm tin tức của Nguyễn Bỉnh Khiêm.


Lương Hữu Khánh đến được ít ngày thì Phùng Khắc Khoan cũng tới. Khắc Khoan là người làng Phùng Xá, huyện Thạch Thất, nghe tiếng Nguyễn Bỉnh Khiêm đến xin theo học. Bỉnh Khiêm hết lòng dạy dỗ cho Khắc Khoan trở thành một người kiêm cả văn chương, tài đức.


Khi ấy Khắc Khoan thuê nhà đến học Bỉnh Khiêm. Lúc học giỏi rồi, Bỉnh Khiêm đang đêm đến chơi nhà trọ, gõ cửa mà bảo:


- Gà đã gáy rồi, sao không đứng dậy mà thổi cơm ăn, còn nằm mãi đấy ư?


Khắc Khoan hiểu Bỉnh Khiêm có ý giục mình vào theo giúp nhà Lê. Khắc Khoan vội thu xếp hành lý, tìm đường vào Thanh Hoa, nhưng lại nương ngụ nhà bạn học là Nguyễn Dữ, chưa chịu ra làm việc với nhà Lê vì còn muốn tìm hiểu xem nhà Lê có thực lòng trọng dụng hiền tài không đã.


Trong thời gian này, Nguyễn Dữ đang viết cuốn sách “Truyền kỳ mạn lục”, có ý muốn lánh đời ở ẩn, không thiết gì công danh.


Nguyễn Dữ đưa cho Khắc Khoan xem bản thảo muốn nhờ bạn phủ chính cho. Khắc Khoan đọc xong, nói:


- Sách này tuy mượn tiếng là chuyện truyền kỳ nhưng đều thông qua đó mà nói đến chuyện thực trong cuộc đời. Nào người đàn bà dù ăn ở thủy chung với chồng thế nào cũng chịu một thân phận hèn kém: người nghĩa phụ ở Khoái Châu thì vì chồng thua bạc mà gán vợ, người con gái Nam Xương thì vì chồng ngờ vực hão huyền để vợ phải quyên sinh. Nào những cảnh loạn ly hỗn độn, thần mà cướp vợ người, thần mà giả danh thổ thần để quấy nhiễu người, hỏi còn thờ phụng làm gì? Vì đói thiếu mà hộ pháp phải đi ăn trộm, thì quan nhũng nhiễu như thế nào, dân cực khổ như thế nào, chẳng cần phải nói rõ nữa. Còn nói gì đến hành động bất chính của bọn đội lốt thày tu, tệ đục nước béo cò của bọn quan lại cường hào, thói dâm ô tàn bạo của kẻ quyền quý, giặc xâm lăng ngay trên cõi đời này. Đọc những truyện này lại nhớ đến hai câu trong “Kinh Thi”: “bỉ hà nhân tú, vi quỷ vi quắc”([2]) làm cho những người ưu thời mẫn thế đau đớn biết là chừng nào!


Nguyễn Dữ chắp tay:


- Xin đội ơn những lời khích lệ của hiền huynh:


- Nhưng đến chuyện “Câu chuyện đối đáp của người tiểu phu núi Na”, thì tôi vẫn còn có ý băn khoăn. Trong đó hiền huynh thác lời của tiều phu mà viết: “Ta là kẻ dật dân trốn đời, ông già lánh bụi, gửi tính mệnh ở lều tranh quán cỏ, tìm sinh nhai trong búa gió rìu trăng, ngày có lối vào làng say, cửa vắng viết chân khách tục, bạn cùng ta là hươu nai tôm cá, quẩn bên mình là tuyết nguyệt phong hoa, chỉ biết đông kép mà hè đơn, nằm mây mà ngủ khói, múc khe mà uống, bới núi mà ăn, chứ có biết đâu ở ngoài là triều đại nào, là vua quan nào”. Tôi trộm nghĩ, người tiều phu sống trong thời Hồ Quý Ly chẳng khác gì thời Mạc Đăng Dung cầm quyền thì lánh đời không chịu ra làm quan cũng là phải. Nhưng nay dòng dõi nhà Lê đã nổi lên khởi nghĩa diệt Mạc khôi phục cơ nghiệp ông cha, nếu ta cứ cố chấp ở ẩn một nơi không ra theo giúp, như vậy cũng là không phải. Đã sinh ra là con người còn có bổn phận với dân với nước, há có thể chỉ giữ cho riêng mình trong sạch mà thôi ư?


- Tôi vì ghét nhà Mạc tham lam bạo ngược nên không chịu ra làm quan với Mạc, vào ẩn ở vùng rừng núi Thanh Hoa. Khi vào đây, lại nghe Trịnh Kiểm có nhiều tham vọng, muốn dìm người tài để mặc tình chuyên quyền độc đoán, tôi không muốn ra giúp nữa. Cũng vì thế tôi viết truyện “Câu chuyện ở đền Hạng Vương”, so sánh Hạng Vũ và Lưu Bang để đi đến kết luận: “So Sở với Hán thì Hán hơn, sánh Hán với bậc vương đạo, Hán còn xa lắm. Sở đã đành trái với nhân nghĩa, nhưng Hán cũng chỉ là giống với nhân nghĩa. Họ Hạng nước Sở không được là hạng bá giả mà vua Cao nhà Hán cũng là tạp nhạp. Kẻ trị thiên hạ nên tiến lên đến đạo thuần vương, còn Hán Sở nhân với bất nhân, hãy gác ra không cần bàn đến”. Qua đó tôi muốn nói họ Mạc đã đành là bạo ngược nhưng là bạo ngược ra mặt, còn Trịnh Kiểm tuy có cái danh là chính nghĩa nhưng trong lòng lại ích kỷ hiểm sâu, dùng thủ đoạn khôn khéo để che giấu mưu đồ của mình. Cũng vì vậy tôi quyết náu vết ở chốn núi rừng, không thể nào lại xắn áo mà lội nữa.


Dứt lời, Nguyễn Dữ cất tiếng ngâm “Bài ca thích ngủ”:


Ngô hà ái, ái duy miên,


Ái vị an thư tính thích nhiên.


Thiển mặc tướng thiêm tân phú quý,


Ủy đằng sàng kết cựu nhân duyên.


Mai chi hiên trúc chi viên,


U cư thú vị hữu lâm tuyền.


Thanh nô ủng hậu,


Hồng hữu la tiền.


Môi dẫn hắc điềm thắng,


Cảnh lương tử khinh tiễn.


Song yếm nhĩ hồng trần thế thượng,


Tiểu khúc quăng bạch ốc văn biên.([3])


Ngâm xong, Nguyễn Dữ nằm xuống chiếu cỏ ngủ, lát sau đã ngáy pho pho.


Khắc Khoan biết mình không lay chuyển nổi cái chí của bạn, nên sáng sớm hôm sau thức dậy cáo từ bạn lên đường đi đến cửa Yên trường. Vua Lê mừng rỡ, phong cho Khắc Khoan làm Ngự doanh ký lục, chuyên lo việc văn thư sổ sách. Vũ Sư Thước hỏi về Nguyễn Bỉnh Khiêm. Khắc Khoan cho biết Bỉnh Khiêm từng khuyên học trò nên vào Thanh Hoa theo giúp nhà Lê. Còn ông thì vì tuổi già lại quen thú thanh nhàn nên không thể ra gánh vác việc đời được nữa.


Khi ấy Trịnh Kiểm thấy Hữu Khánh chỉ giỏi về binh cơ mưu lược, còn Khắc Khoan chỉ giỏi về văn chương chính trị, chứ không phải là tướng lĩnh cầm quân giỏi võ nghệ như Vũ Sư Thước, nên không lo ngại là họ sẽ giành quyền binh với mình. Vì vậy Kiểm tỏ ra hết sức ưu ái Hữu Khánh và Khắc Khoan, trọng dụng hai người này để dốc lòng giúp mình. Hữu Khánh thì hàn vi nếm đủ mùi cay đắng, lòng nấu nung uất hận chỉ mong có cơ hội để thi thố tài ba mở mặt với đời, đền ơn mẹ già, làm rạng danh dòng họ, báo oán những kẻ từng vùi dập mình nên tận tụy bày mưu lập kế giúp đỡ Trịnh Kiểm. Còn Khắc Khoan là người tâm cơ trí lự, lại được Nguyễn Dữ khuyến cáo từ trước nên dè dặt gĩ mình khi tiếp xúc với Trịnh Kiểm, cốt sao được yên thân để lo bề công danh sự nghiệp. Trịnh Kiểm gặp hai người như cá gặp nước, giữ luôn ở bên mình làm người bàn bạc mưu cơ, soạn thảo văn thư, để thay thế vị trí của Sư Thước trong hàng ngũ quân Lê. Có người hỏi Sư Thước:


- Ông là vị huân thần sáng nghiệp. Tiết chế không trọng dụng ông mà lại trọng dụng những người mới đến như các ông Lương Phùng, vậy mà ông vẫn không phàn nàn giả cả, tôi lấy làm lạ thay cho ông...


Vũ Sư Thước mỉm cười:


- Ông hẳn biết chuyện trong Tam kiệt của Hán Cao tổ, Tiêu Hà, Hàn Tín theo giúp Hán là để mưu công danh sự nghiệp, còn Trương Lương theo giúp Hán trước hết là để trả cái thù Tần diệt nước Hán. Tôi theo nghĩa quân là để trả mối thù của cha, của vua và giúp dân giúp nước, chứ không màng đến tước vị. Muốn sự nghiệp phù Lê chóng thành thì phải có nhiều người đóng góp, tôi mong các trung thần nghĩa sĩ ghé vai gánh vác việc lớn mà đến nay vẫn chưa được mấy, lẽ nào lại đi ghen ghét đố kỵ với những người thành tâm sốt sắng đến với ta. Cơ nghiệp này là của chung mọi người chứ có phải của riêng một người đâu...


Người kia tấm tắc khen:


- Ông quả là người quân tử “hao nhi bất tranh”([4]) thật đáng kính phục!


III


Cũng vì thể chất yếu đuối nên làm vua được 8 năm, vua Thuận Bình lại mắc bệnh nặng lần này nguy kịch hơn những lần trước. Nguyệt Thu hết sức săn sóc thuốc thang cho con như đối với chồng trước đây nhưng vẫn không có hiệu quả gì. Nàng còn lo lắng hơn khi vua Nguyên Hòa lâm bệnh vì dù sao cũng còn có con nối dõi, đằng này vua Thuận Bình lại chưa có con, nếu có mệnh hệ nào thì lấy ai nối nghiệp nhà Lê? Lỡ ra Trịnh Kiểm nhân cơ hội đó mà tự lập mình lên làm vua thay nhà Lê thì sao? Chẳng lẽ bao nhiêu cố gắng, bao nhiêu kỳ vọng của vua Nguyên Hòa đều hóa nước lã ra sông hay sao?


Vũ Sư Thước cũng rất lo lắng về chuyện này nên thường xuyên vào vấn an nhà vua. Mỗi khi Sư Thước vào, Nguyệt Thu đều phải lui vào sau rèm giữ đúng lễ nghi nên hai người vẫn không có dịp trao đổi với nhau. Hai người biết rằng thám tử của Trịnh Kiểm vẫn rình rập chung quanh, nếu có gì khác ý là báo ngay cho Kiểm biết để tìm cách đối phó.


Được ít hôm, vua Thuận Bình chuyển bệnh nặng rồi băng hà. Nguyệt Thu đau đớn đứt từng khúc ruột. Lúc trước nàng không thể chết theo chồng vì còn có bổn phận thay chồng nuôi dạy con, nay con cũng qua đời, nàng thấy mình không còn sinh thú gì nữa. Ban đầu nàng định uống thuốc độc chết theo con, nhưng sau suy nghĩ lại nàng thấy mình còn phải sống để tìm cách bảo toàn cơ nghiệp nhà Lê. Nếu vua Thuận Bình không có con nối dõi thì cũng phải tìm một người dòng họ Lê lập lên làm vua chứ không thể để Trịnh Kiểm lên thay, vì nàng thừa biết Trịnh Kiểm là người có nhiều tham vọng và nhẫn tâm.


Nàng liền lánh ra sơn lăng để chăm sóc lăng mộ chồng và con, nhưng vẫn theo dõi tình hình triều chính xem có biến động gì không?


Vua Thuận Bình mất được triều thần dâng tôn hiệu là Vũ hoàng đế, miếu hiệu là Trung Tông.


Trịnh Kiểm bàn cùng với bọn đại thần rằng nước không thể một ngày không có vua. Trong khi đó, Kiểm thừa biết rằng dòng trực hệ của Lê Thái Tổ đến nay không còn ai cả, vì đã bị họ Mạc giết hết từ trước.


Nhân cơ hội này, Trịnh Kiểm có ý muốn thay nhà Lê lên làm vua, nhưng sợ dân chúng không phục, nên trong bụng hồ nghi không biết nghĩ ra thế nào. Trịnh Kiểm biết chắc rằng những người như Vũ Sư Thước sẽ phản đối mình nên đem việc này dò ý Lương Hữu Khánh.


Lương Hữu Khánh vốn là người nhiệt thành với công danh nghĩ rằng nếu Trịnh Kiểm lên làm vua thì mình sẽ chóng thăng quan tiến chức, nên nói với Kiểm:


- Xua Tống Thái Tổ chỉ là một lão làm ruộng mà còn lên làm vua được huống hồ Thái sư.


Trịnh Kiểm lấy làm đắc ý nhưng vẫn sợ rằng thiên hạ vẫn ngưỡng mộ nhà Lê vì nhớ đến công lao của Lê Thái Tổ diệt giặc Minh ngày trước nên vẫn phân vân chưa dám quyết. Hỏi Phùng Khắc Khoan, Khắc Khoan cũng không biết thế nào cho phải. Nếu khuyên Kiểm nên giành ngôi nhà Lê thì e sẽ mang tiếng xấu là kẻ xu phj mà khuyên Kiểm không nên giành ngôi thì sẽ bị Kiểm thù ghét, Khắc Khoan nghĩ ra được một kế bèn thưa:


- Bẩm thái sư, thầy tôi là Nguyễn Bỉnh Khiêm vốn là người cao kiến, âu là ta nên cử người đến hỏi ý ngài xem ngài chỉ dạy ra sao, khi đó sẽ quyết định.


Kiểm nghe lời bèn sai người đi lẻn ra Hải Dương để hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm.


Người của Trịnh Kiểm đến gặp Nguyễn Bỉnh Khiêm, thuật lời của Trịnh Kiểm hỏi ý ông. Ông không nói câu gì, chỉ ngoảng lại bảo người đầy tớ rằng:


- Năm nay mất mùa, thóc giống không tốt, chúng mày nên tìm giống cũ mà gieo mạ.


Nói rồi, sai tiểu quyét dọn đốt hương, để ông ra chơi chùa. Tới chùa, ông bảo tiểu rằng:


- Giữ chùa thờ Phật thì ăn oản.


Sứ giả về nói với Trịnh Kiểm. Kiểm hiểu ý Nguyễn Bỉnh Khiêm có ý khuyên mình tìm lấy dòn dõi nhà Lê mà lập nên mà phải cứ giữ đạo làm tôi ăn mày Phật thì mới được hưởng phúc.


Kiểm bèn sai người đi tìm con cháu họ Lê mà lập nên. Mãi mới tìm được cháu bốn đời của Lam quốc công Lê Trừ - anh ths hai của Lê Thái Tổ - là Lê Duy Bang ở hương Bố về huyện Đông Sơn, đón về lập làm vua, tức là vua Chính trị.


(còn tiếp)


Nguồn: Đất Thang mộc II – Sứ mệnh phù Lê. Tuyển tập Truyện Lịch sử của Hoài Anh, Quyển 7. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.







([1]) Nghĩa là cửa ải nhà Tần nghe tiếng gà gáy. Ngày xưa Mạnh Thường Quân ở nước Tần trốn về Tề, về đến cửa ải thì cửa ải còn đóng. Trong bọn tân khách có người giả làm gà gáy. Các gà cạnh đấy tưởng là trới sắp sáng, đua nhau gáy theo. Lính canh mới mở cửa, Mạnh Thường Quân vì thế chạy thoát.




([2]) Những người nào kia, làm ma làm quái.




([3]) Dịch: Thích gì? Ta thích ngủ thôi. Vì chưng ngủ được,  trong người sởi sang. Nhân duyên xe chặt giường màn. Trúc mai, rừng, suối muôn vàn cảnh thanh. Quanh mình rượu đỏ gối xanh. Giấc ngon bừng tỉnh thâm linh nhẹ vào. Bưng tai chuyện thế eo sèo. Khoanh tay ngất ngưởng nằm khoèo bên mây.




([4]) Người quân tử hòa với mọi người mà không tranh giành.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
xem thêm »