tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19003280
Tiểu thuyết
10.06.2009
Hoài Anh
Đất Thang mộc II - Sứ mệnh phù Lê

II- Thể theo lời cầu xin của dân làng, Nguyễn Bỉnh Khiêm mở trường dạy học. Học trò mộ tiếng quan Trạng Trình nên đến theo học rất đông, trong đó có Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Dữ, Trương Thời Cử, Lương Hữu Khánh...


Lương Hữu Khánh là con quan Bảng nhãn Lương Đắc Bằng thày học của Nguyễn Bỉnh Khiêm trước đây. Hữu Khánh thông minh sớm, mười tuổi đã biết làm văn, mà sức ăn cực khỏe, thường ăn gấp ba bốn phần người thường mới no. Mẹ lắm khi phải nhịn đói để con ăn.


Thấy nhà mình nghèo, Hữu Khánh thưa mới nói với mẹ:


- Cho tôi khi xưa làm quan thanh liêm, đến nỗi con cháu không đủ cơm cháo mà ăn. Vậy mẹ cho tôi đi nơi khác, lấy đường kiếm ăn, kẻo để phiền đến bụng mẹ.


Mẹ buồn rầu:


- Mẹ con không nuôi được nhau, đến nỗi để con đi tha phương cầu thực, mẹ lấy làm đau xót ruột lắm.


Nói rồi ứa hai hàn nước mắt. Hữu Khánh từ mẹ đi ra, sang các nhà học trò bên cạnh huyện ngâm thơ làm phú để độ thân.


Một hôm đi qua bến đò sông Tam Kỳ, gặp năm, sáu nhà sư thấy Hữu Khánh có dáng đói, cho vài chiếc oản. Hữu Khánh từ chối:


- Học trò nghèo nhịn đói, đã mấy hôm nay, may gặp được Đại bồ tát, tưởng là có bụng bố thí làm sao, lại bủn xỉn cho được vài phẩm oản, thì ăn chả bõ dính mồm.


Có một nhà sư cười nói rằng:


- Thầy kia đã gọi là học trò, thì thử làm một bài thơ “Học trò đi thuyền chung với nhà sư”, hễ sang khỏi sông mà xong bài thơ, thì có bao nhiêu oản xin biếu cả.


Hữu Khánh ngồi trong thuyền, ngâm ngay một bài thơ như sau:


Một pho kinh sử níp kim cương,


Đây đẩy cùng thuyền khéo một đường.


Trong hội cỗ đàm người thỏa thích,


Trên ngôi đài các tớ nghênh ngang.


Chuyện xưa ngươi vẫn căm Hàn Dữ([1])


Việc trước ta còn oán Thủy hoàng([2])


Gặp gỡ mảy may rồi lại biệt,


Kẻ tròn quả phúc, kẻ vinh xương.


Chưa sang khỏi đò đã vịnh xong bài thơ. Nhà sư mừng rỡ, dốc cả đẫy oản ra cho Hữu Khánh. Hữu Khánh ngồi ngay đầu thuyền, ăn một lúc hết 80 phần oản. Người trong thuyền ai cũng ngạc nhiên, nhà sư lấy làm kỳ dị, lại tặng thêm một quan tiền nữa và nói:


- Thầy có tài như thế, nay tuy còn ở trong trần ai, nhưng tất có ngày làm nên hiển hách. Sư nghèo này xin dâng một bữa, ngày sau có đắc chí, đánh dẹp đốt phá ở đâu, thì xin chừa những nơi chùa chiền ra, mới là ân huệ.


Sang khỏi đò, Hữu Khánh từ bọn sư rồi đi. Bấy giờ đang lúc Lê Mạc đánh nhau, dân xã điêu tàn, Hữu Khánh đi đến đâu, không một kẻ nào nhìn đến, có khi ba ngày mới được ăn một bữa, thường vẫn phải làm mướn kiếm ăn.


Một buổi sớm đến làng Vĩnh Trị, gặp một bà già ra chợ, gọi người thuê làm ruộng hoang. Hỏi mấy mẫu thì bà già đưa đến chỗ ruộng sâu, trỏ ra bảo:


- Chỗ ruộng kia nước sâu, mà cỏ mọc bùm tum, ước chừng năm mẫu.


Hữu Khánh nói:


- Bà cụ về nhà, thổi cơm độ mười người ăn, và đem sẵn tiền gạo thuê công đến bờ ruộng này, để tôi gọi giúp người làm cho.


Bà kia y lời ấy trở về làm cơm. Hữu Khánh mới cầm một con dao to lội xuống ruộng đọn cỏ, chưa đến buổi trưa, đã dọn quang cả 5 mẫu ruộng. Dọn xong, nằm ngủ dưới gốc cây, tiếng ngáy như sấm.


Một lát, bà già sai người nhà đem cơm đến, gọi Hữu Khánh thức dậy. Hữu Khánh ăn một lúc, hết cả hai mâm cơm, rồi lấy tiền gạo mà đi.


Mọi người tưởng là thần, dần dần mới biết là con quan Bảng nhãn, ai nấy phàn nàn không biết ngần nào.


Năm 18 tuổi nhớ lời cha dặn trước khi qua đời, Hữu Khánh đến xin học Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bấy giờ học trò quan Trạng Trình hơn 3.000 người, duy có Giáp hải ở làn Sính Kế, huyện Phượng Nhỡn là hay chữ nhất trường. Khi Hữu Khánh đến học, mời làm ba kỳ văn, đã đè trên Giáp Hải.


Nguyễn Bỉnh Khiêm thấy con thầy đến học, hay chữ như thế, có bụng quý trọng trăm phần, thường tư cấp cho để mà học.


Bấy giờ nhà Mạc mở khoa thi, Lương Hữu Khánh vốn không có bụng làm quan với nhà Mạc, nhưng ngặt vì nhà nghèo và còn mẹ già, bất đắc dĩ phải ra thi. Khi thi thì bốn kỳ cùng thứ nhất, mà văn Giáp Hải thì đỗ thứ nhì. Đến lúc hồi phách([3]) quan trường thấy Hữu Khánh là người Thanh Hoa, mới đánh xuống thứ nhì mà Giáp Hải lên thứ nhất vì bấy giờ tự Thanh Hoa trở vào thuộc nhà Lê, tự Ninh Bình trở ra thuộc về nhà Mạc. Hữu Khánh thấy xử thiên tư làm vậy, mới bỏ không vào ti đình nữa, vì thé Giáp Hải mới đỗ Trạng Nguyên.


Khi ấy, Hữu Khánh trọ ở hàng Bông, một hôm để dành được 6, 7 đấu gạo, và hai lọ nước mắm. Thổi cơm rồi trải chiếu xuống đất ngồi ăn, rung đùi đắc chí, cười vang lên nói rằng:


- Thế này chẳng kém gì mâm cơm nhà quan!


Xảy có một viên quan từ trong triều trở về, nghe thấy tiếng cười nói, dừng xe lại nhìn, lấy làm kỳ dị cho 5 quan tiền, rồi tiến lên với vua nhà Mạc.


Vua Mạc sai sứ đến nhà trọ, khuyên dụ trăm điều. Hữu Khánh nhất định không ra làm quan. Tự bấy giờ lại đi bơ vơ, nay đây mai đó, con một nơi, mẹ một nẻo, trông cảnh động lòng, lắm phen chua xót.


Sau khi đỗ Trạng nguyên, Giáp Hải được vào làm quan trong viện Hàn lâm.


Năm Canh Tý([4]) vua Gia Tĩnh nhà Minh theo lời bàn của đình thàn, cử Hàm ninh hầu Cừu Loang làm tổng đốc quân vụ, Mao Bá Ôn làm tham tán quân vụ mang quân sang mượn cớ hỏi tội họ Mạc cướp ngôi nhà Lê để mưu cướp lấy nước ta. Khi tới Quảng Tây, Mao Bá Ôn muốn thăm dò xem nước ta có nhân tài hay không, bèn làm một bài thơ “Bèo” gửi cho triều đình Mạc để sách họa. Thơ rằng:


Tùy điền trục thủy mạo ương châm,


Đáo xứ khan lan thực bất thâm.


Không hữu căn miêu, không hữu diệp,


Cảm sinh chi tiết, cảm sinh tâm.


Đô tri tụ xứ, ninh tri tán,


Đăn thức phù thì, ná thức trầm.


Đại để trung thiên phong khí ác,


Tảo quy hồ hải cảnh nan tầm([5])


Ý bài thơ có ý chê nước ta chẳng khác gì đám bèo không có rễ trôi nổi vật vờ chỉ một trận gió là quét sạch. Nhận được bài thơ, Mạc Phúc Hải lo lắng bàn với triều thần:


- Mao Bá Ôn gửi bài thơ sang triều đình ta sách họa, nếu không họa nổi sẽ mang quân sang đánh. Vậy các khanh có ai họa được bài thơ này để giữ quốc thể cho nước ta không?


Giáp Hải xin họa lại. Ông họa như sau:


Cẩm lân mật mật bất dung châm,


Đái diệp liên căn khởi kế thâm.


Thường dữ bạch văn tranh thủy diện,


Khẳng giao hồng nhật trụy ba tâm,


Thiên trung lãng đả thành nan phá,


Vạn trận phong suy vĩnh bất trầm.


Đa thiểu ngư long tàng nghiễn lý,


Thái công vô kế hạ câu tầm([6])


Mao Bá Ôn đọc bài thơ họa giật mình khen phục, biết là nước ta còn có nhân tài, muốn đánh cũng không phải dễ. Nhưng muốn giữ thể diẹn cho nước lớn nên bắt bẻ bài thơ có khẩu khí kiêu ngạo, buộc phải xin lỗi cầu hòa mới chịu rút quân về.


Mạc Phúc Hải vui mừng khen Giáp Hải:


- Xưa Lý Bạch làm một bài thơ mà lui được giặc, một ngòi bút của khanh cũng mạnh bằng trăm vạn quân.


Dứt lời, sai thảo chiếu phong cho Giáp Hải chức ngự sử.


Nguyễn Bỉnh Khiêm thích ngoa du đây đó, khi thì cùng họ trò bơi thuyền ở cửa biển Kim Hải và cửa biển Úc Hải, khi thì đi với một vài nhà sư chơi ở các núi Yên Tử, nú Ngọa Vân và núi Đồ Sơn. Đi đến đâu làm thơ ngâm vịnh đến đấy. Hoặc gặp chỗ nào có cây cối mát, chim kêu ríu rít thì lấy làm khoái chí lắm, nhởn nhơ cả ngày.


Khi qua cửa biển Kim Hải, phía đông dòng sông chính chảy từ xa đến, phía tây dòng sông Tuyết trong veo rót về. Cây ló trên bờ thấp thoáng hiện giữa lùm cây, chim chóc trên ngòi ríu rít kêu ngoài trời. Qua ánh sáng của sông cá nhảy lên nhảy xuống. Trong ánh chiều le lói, bóng núi giống như voi nằm ngang nằm dọc. Bỗng nghe nhà chài hát lên tiếng hò khoan, ông cảm hứng ngâm lên một bài rằng:


Lưu bôn trí lãi xứ,


Phong lợi gác phàm khinh.


Lãng thiếp long miên ổn,


Hàn đa hạc mộng kinh.


Tước khao nên thạch hổ,


Đãi nguyệt dạ triều doanh.


Tằng ký côn bằng hóa,


Nhàn tầm âu lộ minh.


Tĩnh quan trào tịch hậu,


Nội đắc cổ kim tình.


Trùng ức ca Giang Hán,


Hà thời tẩy giáp binh.


Hồi đầu hồng nhật cận,


Y cựu nhất luân minh([7])


Nghe xong bài thơ, Nguyễn Dữ chắp tay:


- Thưa thày, lời thơ của thày quả là lâng lâng siêu thoát, con chỉ muốn suốt đời được theo hầu thầy đi du ngoạn khắp nơi vui thú cảnh lâm thuyền...


Nguyễn Bỉnh Khiêm cau mày:


- Kẻ sĩ mỗi người có cái chí của mình, ta không ép buộc. Nhưng tài trai ở đời phải lo lập công danh sự nghiệp giúp dân giúp nước mới khỏi uổng phí ngày xanh. Nay các con đã học thành tài, ta khuyên các con nên tìm đường vào Thanh Hoa theo giúp nhà Lê...


Phùng Khắc Khoan ngạc nhiên:


- Nếu thầy khuyên chúng con như thế, sao trước đây thầy lại ra làm quan với nhà Mạc?


Nguyễn Bỉnh Khiêm ôn tồn:


- Khi ta ra thi với nhà Mạc thì đã 45 tuổi rồima nhà Lê mới nổi lên, thế lực còn yếu, phải nhiều năm nữa mới có thẻ thành công. Vì vậy ta quyết định cứ ra làm quan với Mạc tìm cách khuyên vua Mạc nên nới tay với dân chúng, như vậy cũng bớt được nỗi khổ của dân một phần nào. Khi đó vua Minh Đức([8]) nhường ngôi cho vua Đại Chính([9]) và rút về làm thái thượng hoàng. Vua Đại Chính là một người tỏ ra có ý chí và đảm lược nhưng không tán thành việc cắt đất dâng cho nhà Minh. Nhưng vua Đại Chính lại băng vào đầu năm Canh Tý và vua Quảng Hòa([10]) lên nối ngôi. Vua Quảng Hòa nghe lời ông nội chịu cắt đất đầu hàng nhà Minh. Thấy trong triều có nhiều kẻ chuyên quyền, tham nhũng ta đã noi gương Chu An, dâng sớ xin chém mười tám tên lộng thần, nhưng vua Mạc không nghe, nên ta mới cáo quan về. Đến đời vua Quang Bảo([11]) lại càng xa hoa dâm đãng. Việc xây dựng Dương Kinh ở Cổ Trai([12]) với cung điện, dinh thự để vua Mạc ăn chơi hưởng lạc, việc xây đắp thành lũy, chế tạo khí giới quân trang để cung dốn cho cuộc chiến tranh đã làm hao tổn nhân lực, vật lực, tài lực của dân. Nạn bắt phu, bắt lính, chồng về thì vợ thay, anh chưa hết lần thì em đã đến lượt, liên miên kéo dài hàng mấy chục năm khiến đồng ruộng bỏ hoang, bách công đình đốn. Nạn cường hào, địa chủ lấn chiếm ruộng đất của dân, bóc lột tô thuế nặng nề, khiến dân phải xiêu tán đi tha phương cầu thực. Trước tình trạng này, thầy tự thẹn mình tuỏi già không làm nổi việc phù nguy cứu khốn, nên muốn khuyên các con vào Thanh Hoa theo nhà Lê để giúp dân giúp nước. Thầy có một người bạn đang ở trong doanh trại quân Lê đó là ông Vũ Sư Thước, thầy sẽ gửi gắm các con cho ông ta...


Lương Hữu Khánh thưa:


- Con xin vâng lời thầy dạy.


Nguyễn Bỉnh Khiêm mỉm cười:


- Hay lắm! Con không hổ thẹn là dòng dõi Lương bảng nhãn, tôn sư của ta và của Vũ đệ. Khi nào các con gặp chú Sư Thước, thì nói là ta có lời hỏi thăm chú nghe không?


Phùng Khắc Khoan vội thưa:


- Chúng con đã đwọc nghe danh Vũ thúc từ lâu, nghe nói đã có thời ngài làm quan trong chiều Mạc phải không ạ?


Nguyễn Bỉnh Khiêm vuốt râu:


- Chính đó. Chú đã khuyên vua Đại Chính không nên cắt đất đầu hàng nhà Minh, vì bại lộ tung tích nên phải trốn vào Thanh Hoa theo giúp nhà Lê. Còn anh Giáp Hải, tuy ra làm quan với Mạc nhưng đã họa bài thơ “Bèo” của tướng Minh khiến chúng phải nể sợ nhân tài nước ta mà không dám đem quân sang đánh. Khi nghe tin ấy ta đã gửi một bài thơ cho anh Giáp Hải, trong đó có câu:


Miễn lục vọng công phù đế thất,


Du nhàn tiếu ngã láo Vân am([13])


Nguyễn Dữ nói:


-          Thầy đối xử với mọi người đều quang minh chính đại, trọn tình trọn nghĩa, quả là một bậc đạo cao đức trọng, xứng đáng làm tiêu biểu cho sĩ phu thời nay. Con nguyện trọn đời đi theo hầy thầy để được nghe những lời vàng ngọc.


(còn tiếp)


Nguồn: Đất Thang mộc II – Sứ mệnh phù Lê. Tuyển tập Truyện Lịch sử của Hoài Anh, Quyển 7. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


 







([1]) Hàn Dũ đời nhà Đường, xin hủy tượng Phật và đốt sách Phật.




([2]) Thủy Hoàng chôn học trò và đốt sách nho.




([3]) Quyển thi rọc tên ra, gọi là rọch phách. Đến lúc chấm văn xong lại dán tên lại, gọi là hồi phách.




([4]) 1540




([5]) Dịch: Mọc theo ruộng nước nhỏ như kim. Rễ bám nơi nào cũng chẳng thâm. Nào có căn miêu nào có lá. Dám sinh chi tiết, dám sinh tâm. Tụ rồi đã chắc không khi tán. Nổi đó nào hay có lúc chìm. Đến độ chièu trời hơi gió lạnh. Quét về hổ biển hẳn khôn tìm.




([6]) Dịch: Mau ken vẩy  gấm khó luồn kim. Cành rễ liền nhau mà rất thâm. Tranh với bóng mây trên thủy điện, Há dung vầng ni lọt ba tầm. Nghìn trùng sóng đánh thường không vỡ. Muôn trận phong suy cũng chẳng trầm. Nào cá rồng trong đó ẩn, Có câu Lã Vọng biết đâu tìm?




([7]) Dịch: Xiết dòng biết là thác. Mạnh gió thấy thuyền nhanh. Sóng êm rồng yên giấc. Lạt gắt, hạc giật mình. Giữa bùn đá, mọc cỏ. Đêm triều dâng chờ trăng. Côn hóa bằng chuyện cũ. Âu lộ cung thệ minh. Ngắm nước triều đêm trước. Hiểu được cổ kim tình. Nhớ lời Giang Hán, ngày nào rửa giáp binh. Ngoảnh đầu hồng nhật cận. Như xưa đỏ một vành.




([8]) Tức Mạc Đăng Dung




([9]) Tức Mạc Đăng Doanh




([10])Tức Mạc Phúc Hải




([11]) Tức Mạc Phúc Nguyên




([12]) Quê hương Mạc Đăng Dung nay thuộc ngoại thành Hải Phòng.




([13]) Khuyên ai, việc nước ra tay giúp. Cười tớ, am mây nhàn cảnh già.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 26.04.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 16.04.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
Hà Nội xưa và nay - Bạch Diện Nguyễn Văn Cư 04.04.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 30.03.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
Hòn đất - Anh Đức 14.03.2017
Một chuyện chép ở bệnh viện - Anh Đức 14.03.2017
xem thêm »