tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19003294
Tiểu thuyết
09.06.2009
Hoài Anh
Đất Thang mộc II - Sứ mệnh phù Lê

I- Sau khi vua Nguyên Hòa([1]) qua đời, thái tử Huyên lên nối ngôi mới mười lăm tuổi, Thái hậu Nguyệt Thu phải buông rèm nghe việc triều chính. Vua Thuận Bình vốn là người thông minh nhưng hiểm vì thể chất quá yếu đuối. Trước đây Nguyệt Thu đã phải săn sóc bệnh tình cho chồng thì đến nay lại phải chăm nom sức khỏe cho con, ngoài ra còn phải thay con phê các chiểu biểu, sớ tấu do triều đình đệ lên. Khi thái sư Trịnh Kiểm có ý kiến bất đồng, nàng phải tranh cãi quyết liệt để giữ vững chủ trương mà nàng cho là đúng đắn. Cũng vì thái độ cứng rắn của nàng mà Trịnh Kiểm không dám tự tiện chuyên quyền vì sợ mất lòng bá quan và trăm họ. Nàng biết mình vẫn có sự hỗ trợ của những bầy tôi trung chính trong đó có Vũ Sư Thước. Nhưng nếu nàng ra mặt trọng dụng Sư Thước, Trịnh Kiểm sẽ tìm cách ám hại chàng như vậy làm điều tốt mà hóa ra gieo vạ cho chàng. Tuy rất có cảm tình với Sư Thước nhưng nàng cũng không dám vời Sư Thước vào cung để bàn bạc vì e Trịnh Kiểm sẽ kiếm cớ vu khống là hai người có tình ý nên tư thông với nhau. Vẫn hay là lòng hai người trong trắng, nhưng biết làm thế nào bịt được miệng lưỡi dèm pha của người đời. Chuyện Lê Hoàn với Thái Hậu Dương Vân Nga, chuyện Trần Cảnh với Lý Chiêu Hoàng chẳng rành rành ra đó là gì. Dù tuổi còn xuân chưa dập tắt được dục tình, nhưng nàng đã quá yêu vua Nguyên Hòa nên không thể lỗi đạo với chàng. Vua Nguyên Hòa đã đưa nàng từ thân phận một cô gái quê mùa lên địa vị một bà hoàng hậu, cái ơn lớn lao như trời biển ấy bao giờ nàng quên cho được. Nàng nguyện suốt đời thủ tiết để giữ vẹn lòng chung thủy với nhà vua, nuôi dạy con thành một vị anh quân đủ đảm lược trị nước yên dân. Nhờ sự ân cần khuyên bảo của nàng nên vua Thuận Bình ngày càng tỏ ra sáng suốt, biết dùng người trung thần mưu lược để đánh họ Mạc, mưu thu phục cõi bờ của tiên vương. Nhà vua đối với mẹ cũng rất có hiếu, luôn luôn vâng lời mẹ dạy, thường vào cung vấn an sức khỏe, nên Nguyệt Thu cũng khuây khỏa tấm lòng vì nỗi vắng chồng. Nàng tự nhủ vua Nguyên Hòa để lại cho mình một đứa con trung hậu như vậy cũng đủ an ủi mình đến khi mãn chiều xế bóng. Từ nay nàng sẽ tựa vào con mà sống cho trọn những ngày tàn.


Chiếc nghiên bằng đá Thanh màu xanh như khói phản chiếu lấp lánh ánh chiều. Về ngòi bút lông trên lớp son tươi, Nguyệt Thu nhắc lên phê vào sớ tấu của đình thần. Bỗng Trịnh Kiểm từ ngoài bước vào, chắp tay vái:


- Kính mừng Thái hậu nương nương


Nguyệt Thu mỉm cười:


- Thái sư đó à? Thái sư vào gặp ta có chuyện gì vậy?


Trịnh Kiểm khôn khéo thăm dò:


- Tâu thái hậu, thần thấy lệnh bà lo việc nước bộn bề có phần vất vả, sao lệnh bà không bàn với triều đình cử một người lên làm phụ chính đỡ đần cho một tay có hơn không?


Nguyệt Thu nghĩ ngợi một hồi rồi nói:


- Lệ thường thì ấu chúa lên ngôi mới cần lập quan phụ chính, còn đương kim hoàng đế đã mười lăm, sắp đến tuổi trưởng thành, chỉ một hai năm nữa là có thể tự coi sóc việc nước, ta chỉ giúp đỡ người trong một thời gian ngắn nữa thôi. Thái sư hẳn không lạ gì, lập phụ chính sẽ dễ xảy ra cái vạ chuyên quyền, gương Hồ Quý Ly, Mạc Đăng Dung thừa cơ dòm dỏ ngôi tôn còn sờ sờ ra đó...


- Thế nếu như phụ chính không chuyên quyền lấn át vua như Chu Công Đán, Gia Cát Lượng, Tô Hiến Thành thì lệnh bà bảo sao?


- Tô Hiến Thành trung nhưng không đến nỗi mù quáng cho nên đã cẩn thận khi cất nhắc ngươi vào chức lớn. Thái sư hẳn nhớ khi bà Thái hậu hỏi nên tiến cử ai thay thế ông, Tô Hiến Thành tiến cử Trần Trung Tá. Bà Thái hậ hỏi: “Vũ Tán Đường hầu hạ ông rất đắc lực sao ông không tiến cử mà lại tiến cử Trần Trung Tá?” Tô Hiến Thành trả lời: “Thái hậu hỏi người hầu hạ thì tôi xin tiến cử Vũ Tán Đường, còn hỏi người giúp nước thì tôi xin tiến cử Trần Trung Tá”. Qua chuyện đó đủ thấy việc cử người tài đức kiêm toàn lên nắm chức lớn là việc có quan hệ đến vận mệnh quốc gia. Người làm phụ chính lại phải văn võ song toàn thì mới giúp vua lo toan cả chính sự lẫn binh bị...


Trịnh Kiểm cười nhạt:


- Tôi hiểu ý lệnh bà rồi. Phải chăng ý lệnh bà muốn nói trong triều chỉ có n gười tài đức lại văn võ song toàn như Trào quận công Vũ Sư Thước mới đáng làm phụ chính, còn những kẻ võ biển thô lỗ chỉ biết cầm quân đánh giặc thì không thể đảm đương chức vị ấy phải không?


- Ta chỉ nói chung người làm phụ chính phải có đủ điều kiện như vậy còn chưa chỉ định vào ai hết.


Trịnh Kiểm cười gằn:


- Thần hiểu... thần hiểu... Nhưng người làm tướng xông pha tên đạn, chém giặc cướp cờ, vào sinh ra tử, góp phần đắp bồi nghiệp lớn không phải để cho kẻ khác tha hồ vui chơi đàn đúm trong cảnh thần tiên, không đếm xỉa gì đến công lao huyết hãn của họ. Thần chỉ e lệnh bà tránh được cái vạ phụ chính tiếm quyền như Hồ Quý Ly, lại gặp phải cái vạ cường thần hiếp bức như Trần Thủ Độ. Xin lệnh bà nên cẩn thận đừng để thiên hạ đàm tiếu là quá sủng ái bầy tôi, e sinh chuyện không hay...


Nguyệt Thu nghiêm sắc mặt:


- Thái sư muốn nói gì thì cứ nói thẳng ra không nên dùng lời mơ hồ bóng gió như vậy. Ta tự xét mình không có điều gì đáng hổ thẹn, còn ai muốn nghĩ sao mặc lòng...


Trịnh Kiểm cười cười dàn hòa:


- Chết! Chết! Sao lệnh bà lại nghi oan cho thần như vậy. Thần vì lòng trung với hoàng gia và với lệnh bà nên mạn phép nhắc nhở lệnh bà một chút đó mà thôi. Thần trót phiền nhiễu làm lệnh bà mất nhiều thì giờ vàng ngọc, mong người lượng thứ. Xin lệnh bà cho phép thần được lui gót...


Trịnh Kiểm đi rồi Nguyệt Thu ngẩn người suy nghĩ rồi bỗng tủi thân ôm mặt khóc nức nở. Nước mắt rỏ xuống làm nhòe dòng chữ son vừa viết trên tờ giấy lệnh Bưởi, trông loang lổ hư những vệt máu.


Từ khi Nguyễn Thiến và Lê Bá Ly bỏ Mạc về với Lê, Trịnh Kiểm thấy Nguyễn Thiến là bạn đòng khoa với Vũ Sư Thước, e hai người sẽ liên kết với nhau chống lại mình, nên không trọng dụng Nguyễn Thiến và Lê Bá Ly. Nguyễn Thiến lại bị ép theo quân của Trịnh Kiểm, không có dịp nào gặp gỡ Sư Thước để trao đổi bàn bạc, nên vừa nhớ bạn vừa buồn vì mình bị nghi kỵ.


Con trai Thiến là Nguyễn Quyện vốn là một tướng tài năng trí lự hơn người, lại đang trẻ tuổi vốn hiếu thắng, thấy ở lại với Lê bị Trịnh Kiểm chèn ép sẽ không cất đầu lên được, nên nói với cha:


- Thưa phụ thân, có câu “thà làm đầu gà còn hơn làm đuôi trâu”. Nay ta cứ khuất thân ở dưới người mãi thì biết đến thuở nào mới nở mày nở mặt được. Chi bằng ta bỏ nơi này về với Mạc, Mạc biết dùng ta, ta sẽ có cách giúp họ lui được quân Lê...


Nguyễn Thiến lắc đầu:


- Ta bỏ mạc theo Lê, nay lại bỏ Lê về với Mạc, Mạc giận ta đã phản lại họ, đời nào thu nạp lại ta, có khi ta đâm đầu vào chỗ chết cũng nên. Dù Mạc có dùng lại ta chăng nữa, cũng tránh sao khỏi bị thiên hạ mai mỉa chê cười. Âu là ta cứ ở lại đây cho vẹn tình vẹn nghĩa...


- Thưa phụ thân, phụ thân còn lạ gì, ở đời nếu thành công thì thiên hạ sẽ hết lời ngợi khen, còn thất bại thì mới bị chê cười nguyền rủa. Ta giúp họ Mạc thành công, dòng vua lưu truyền lâu dài thì đó tức là công nghiệp để lại nghìn thu rồi chứ gì. Nhà Lý, nhà Trần lấy được nước có phải là chính đáng cả đâu, vậy mà vẫn được coi là triều đại chính thống. Huống chi triều đình Lê đang lục đục chia rec, giữa Trịnh Kiểm và chú Sư Thước không hòa với nhau. Chú Sư Thước là người đưa được vua Nguyên Hòa và đây mà còn bị Trịnh Kiểm ghen ghét dìm tài, huống chi cha con mình. Cha có về với Mạc cũng không có lỗi gì với chú Sư Thước cả. Con tin rằng họ Mạc nhất định sẽ trọng dụng cha con ta, vì họ đang lúc nguy khống, cần có tướng tài để chống nhau với Lê...


Nguyễn Thiến nghĩ ngợi một hồi rồi nói:


- Con mới biết một đường chứ chưa biết hai đường. Nhà Lý nhà Trần tuy được nước không chính đáng cho lắm, nhưng lại đảm đương được nhiệm vụ chống ngoại xâm mà các triều trước không gánh vác nổi. Còn nhà Hồ thì đầu hàng cắt đất dâng cho nhà Minh đến nay họ Mạc cũng làm như vậy, quả là nhục nhã, không xứng đáng làm vua. Trước đây họ Mạc đã cử ta đi sứ Yên kinh dâng biểu đầu hàng, nhưng ta cáo bệnh không đi, vì thế vua Mạc nghi ngờ ta. Ta cảm thấy hổ thẹn về chuyện đầu hàng dâng đất cho nhà Minh, nên mới bỏ về theo Lê. Nay đã theo Lê thì cứ theo đến cùng, đừng nên bỏ dở nửa chừng, để khỏi mang tiếng là người thiếu tín nghĩa thủy chung.


- Thưa cha, con nghĩ nhà Mạc dâng biểu đầu hàng Minh đâu phải thực lòng, mà chỉ là quyền nghi cho quan chuyện, cốt sao nhà Minh đừng công nhận vua Nguyên Hòa là dòng dõi họ Lê mà thôi. Trước đây nhà Mạc không biết dùng cha nên Mạc suy yếu, nay ta về với Mạc, tất Mạc sẽ hối chuyện từng bỏ rơi ta mà trọng đãi ta hơn. Ta giúp Mạc cường thịnh rồi thì có lo gì Minh nữa. Cha con ta ở đây, Trịnh Kiểm chèn ép thì bao giờ mọc mũi sủi tăm lên được. Xưa Hàn Tín ở với Sở chỉ là Chấp kích lang mà về với Hán thì làm nguyên nhung. Con thấy Mạc Kính ĐIển là người sáng suốt biết người, con tin rằng ông ta sẽ tâu vua Mạc cất nhắc cha con ta.


- Con cho rằng người tài ở với Sở thì Sở thắng, về với Hán thì Hán thắng, mà không biết rằng cốt yếu là ở chỗ ai có chính nghĩa, ai được lòng người thì cuối cùng mới dành được phần thắng. Hạng Võ tàn bạo làm mất lòng người nên cuối cùng thất bại, Phạm Tưng tài giỏi bày bao mưu kế cho Hạng Võ mà Hạng Võ không chịu nghe, cuối cùng uất quá len hậu bối mà chết, như vậy có phải là chỉ cần tướng tài là xoay chuyển được thời cục đâu. Dù Trịnh Kiểm có hẹp lượng thật, nhưng nhà Lê vẫn có chính nghĩa, hợp lòng dân, ta tin rằng cuối cùng sẽ chiến thắng họ Mạc. Ta không muốn như Phạm Tăng phù kẻ phi nghĩa để chết còn mang tiếng bất trí.


- Thưa phụ thân, nhưng cả Hàn Tín phù Hán mà sau khi thành công vẫn chết vì tay Hán kia mà.


Nguyễn Thiến nổi giận rút gươm ra:


- Ý ta đã quyết rồi, nếu kẻ nào còn nói đến chuyện về với Mạc nữa, ta sẽ chém ngay!


Nguyễn Quyện kinh hoảng lùi lại. Nguyễn Miễn vội chạy đến ôm chặt lấy cha, can ngăn:


- Anh con trót dại là trái ý cha, xin cha tha thứ cho anh một lần này...


Nguyễn Thiến ném thanh gươm xuống, buồn rầu:


- Thằng nghịch tử kia, biết đâu sau này dòng họ ta chẳng mang một vết nhơ vì mày!


Sau khi cáo quan về, Nguyễn Bỉnh Khiêm làm một cái nhà nghỉ mát ở mé dưới làng gọi là am Bạch Vân. Am ấy nửa dựa vào chợ quê, nửa dựa vào xóm làng. Trong đó có vườn, có ao khoảng hơn một mẫu. Trong chốn am quán thư nhà, ông cảm thấy mùa xuân mãi mãi không già, non sông như nhập vào bức họa, khiến ngòi bút sinh hương. Khi đánh đàn thì mượn tiếng vang của dòng sông làm cho tiếng đàn thêm nhuần. Khi ngủ trưa thì nhờ bóng rợp cổ thụ làm cho giấc ngủ được mát mẻ. Trồng cúc trước sân, khong có khách tục đến. Giặt áo ngoài khe, sẵn có dòng nước trong. Buổi sáng đến vườn rau, sương dính vào dép. Ban đêm chơi ở ghềnh xóm chài trăng rọi đầy thuyền. Cỏ thơm cung cấp ý xuân đầy đủ để ngâm vịnh. Bên cửa sổ mây che, tiếng chim gọi khách khoan thai. Khi thanh nhàn, ông vui theo cái tính tự nhiên của mình. Tuy vậy ông vẫn tự nhủ: muốn tìm cái chỗ vui của ta thì cần biết rằng ta được vui sau thiên hạ vì được lo trước thiên hạ. Ở nơi ẩn dật ông vẫn lo toan về vận nước. Lúc động lúc tĩnh, tự biết đánh cờ cũng có trù liệu. Khi cuốn khi mở, ai bảo câu cá không có quyền biến. Tự cười mình là thư sinh mà lại bàn luận về “tam lược”([2]) nhưng ở đời này trong nhà tối ai biết sợ chuyện “tứ trí”([3]) nên vẫn mặc sức làm điều tham nhũng. Khi trăng sáng dọi nước thu ở sông Hàn, nhìn vào đấy ông bỗng nhận thức được chỗ “nhất chân” tức là cái thuần nhất, chân thực tự nhiên đạt đến mắc lý tưởng khi con người hòa làm một với Tạo vật.


Ngoài cánh cửa gỗ suốt ngày mở, ông để đôi câu đối:


Cao khiết thùy vi thiên hạ sĩ,


An nhàn ngã thị địa trung tiên([4])


Có lần Nguyễn Bỉnh Khiêm mời các cụ gì đi dạo chơi ở bến giữa. Ngắm ra phía đông là biển đông, ngó về phía tây là Kinh Thày, phía nam xa nhìn ngòi Liêm Khê, thấy các làng Trung Am, Bích Động đây đó tiếp giáp nhau, phía bắc cúi nhìn sông Tuyết, chợ Hàn, đò Nhật phải trái vây bọc. Một con đường lớn chạy ngang ở giữa, in dấu ngựa vết xe, không biết là mấy nghìn dặm nữa.


Bỉnh Khiêm ngoảnh lại bảo các cụ già trong làng rằng:


- Những gì mà các ông trước đây sửa sang xây dựng như các cầu Nghênh Phong, Thẩn Xuân... đẹp thì đẹp đấy, nhưng chưa bằng nơi thắng địa này, há lại không giúp vào một chút làm nơi nghỉ ngơi cho người qua đường hay sao?


Các cụ già nghe lời bèn quên gíp tiền của để xây đắp quán, sai bọn Trương Thời Cử trông nom công việc. Khi quán xây xong, Nguyễn Bỉnh Khiêm đề ở trê nlà quán Trung Tân.


Có người hỏi tên quán như thế có nghĩa gì. Nguyễn Bỉnh Khiêm bèn làm bài “bi ký quán Trung Tân”, trong có bài minh khắc vào đá như sau:


“Trời cao ban xuống tấm lòng thiện, con người có đầy đủ đạo thường. Kẻ nào tự ràng buộc vào bẩm khí, chạy theo dục vọng thì trở nên nguy hại. Chìm chìm nổi nổi, co co rúm rúm, bừa bãi gian tà, không biết cái gì là sai trái. Sang thì đi đến chỗ kiêu ngạo, giàu thì đưa tới chỗ xa xỉ. Sự tô điểm nhà cửa thì vẽ tranh chạm ngọc. Sự xa xỉ ở nơi bếp núc thì lấy sáp thay củi, bùi béo ngon ngọt. Say rượu nồng, no chất tươi, mặc áo nhẹ, cưỡi ngựa béo. Thấy người đói ngã lăn xuống ngòi rãnh thì một đồng tiền không cho. Thấy người đi đường màn trời chiếu đất, thì một bát gạo chẳng giúp. Chỉ có cái lợi là thấy rõ như điên như dại. Đầu mối của việc thiện, có ai nói rộng mà rút ra đâu.


Quán mang tên là Trung Tân, ý nghĩa là ở chỗ nào? Trung là cái chính giữa của tính thiện. Tân là cái bến bãi để về theo. Biết mình đậu ở chỗ nào đã có định trước, gặp lúc gieo neo nhất cũng không rời bỏ. Đi trên mặt phẳng, noi theo đường chính, không làm lẫn rẽ sang lối khác. Làm việc của mình, đối đãi với người, nghĩ về chỗ đó ở vào chỗ đó. Thờ cha hết lòng hiếu, thờ vua chớ dối trá. Làm chồng thì xướng xuất, làm vợ thì noi theo, chơi với bạn thì giữ vứng chữ tín, thiết tha gắn bó. Lo đi trên đường thiện, chẳng cho là của riêng ta. Người khác có tài, cũng coi như là chính ta có tài.


Thánh hiền là người thế nào? Đó là người dục vọng thì ít, theo đến chỗ cực đúng, là nhờ ở chỗ suy xét về điều mình làm. Lời giáo huấn của đời xưa rất sáng rõ, lấy lòng thành làm chỗ dựa cho ta. Chớ cho rằng điều thiện nhỏ mà không làm vì việc làm điều thiện nhỏ là chú yếu để mở đường làm thiện. Chớ cho rằng điều ác nhỏ mà cứ làm vì không làm điều ác nhỏ là cẩn thận trong từng cái nhỏ nhặt. Một đằng là trí, một đằng là ngu, một là phục hồi tính thiện, một là theo đường mê muội. Bậc quân tử có hiểu biết, nỗ lực trong việc làm, chín chắn trong suy nghĩ. Thuận theo danh nghĩa ấy, sẽ không hổ thẹn với tấm bia này”.


Tấm bia khắc xong dựng ở trước quán, thiên hạ kéo đến xem đông nườm nượp, ai cũng khen ngợi. Nhiều người nguyện noi theo lời dạy bảo để sửa mình làm điều thiện, tránh điều ác.


Nguyễn Bỉnh Khiêm thường ra ngắm cảnh ở quán lúc mặt trời xế bóng, vấn khăn vải để lộ vầng trán mà cười ngạo với gió đông. Hơi lạnh từ lưng trời đưa lại làm cho cảnh vật thêm mát mẻ. Trời tạnh ở hai bờ sông, đậm vẻ cây xanh nẩy nở rườm rà. Lúc hứng trào lên, mối tình quê chỉ ưa riêng cúc. Khi say khướt, mắt già lão dẽ đổ đom đóm. Bỉnh Khiêm vui vì sống gần dân, ông già trẻ thơ đều quen biết họ tên của mình, chỉ gọi nôm na là cụ Trạng Trình chứ không kèm theo quan tước. Bỗng nghe vẳng tiếng sáo trên sông của ông chài, một khúc “lạc mai” dạo lên những âm thanh mới lạ, khiến tâm hồn lâng lâng bay bổng:


- Năm Tân Hợi([5]), Trịnh Kiểm sai hàng tướng Mạc là Lê Bá Ly cùng với bọn Vũ Văn Mật tiến quân đến sát Thăng Long. Mạc Phúc Nguyên chạy về Kim Thành, lưu Mạc Kính Điển làm đô tổng súy, đem quân chống giữ.


Sang năm Nhâm Tý([6]), Trịnh Kiểm đem quân đi đánh dẹp miền Tây nam. Tây đạo tướng thái úy Đoan quốc công của Mạc là Nguyễn Khải Khang đem quân quy thuận. Đi đến Yên Trường, vua Chính trị yên ủi và thưởng cho Khang, vẫn được giữ chức tước cũ. Sau đó vua đời hành tại đến xã Yên Trường. Còn Trịnh Kiểm đến xã Biện Thượng. Quân khí thêm mạnh, hiển sĩ bốn phương nhiều người quy phục.


Tháng tám năm Ất Mão([7]), họ Mạc si Kinh Điển đem quân vào đánh Thanh Hóa, cho Thọ quận công tiết chế quân Nam đạo đem hơn 100 chiến thuyền làm tiên phong, tiến đến cửa biển Thần Phù đóng dinh.


Ngày hôm sau, Kinh Điển đem quân hội ở sông Đại lại sai Thọi quận công đốc suất quana bản bộ đi trước, đóng dinh ở núi Kim Sơn.


Trịnh Kiểm họp tất cả các tướng, bàn rằng:


- Giặc cậy nhiều quân khinh ta, ta dùng kế phục quân mà đợi, có thể bắt được.


Bèn sai người đi trước rao bảo nhân dân hai bên bờ sông không được sợ hãi náo động, cứ việc ở yên như cũ. Lại sai hoạn quan là thái úy Hùng quốc công Đinh Công đốc thúc các tướng đầu hàng là bọn Lê Bá Ly, Nguyễn Khải Khang, Nguyễn Thiến, Lê Khắc Thận với quân và voi bản bộ phục trước ở phía nam sông, trên từ núi Yên Định, dưới đến núi Quân Yên. Trịnh Kiểm thân đốc đại binh phục ở phía bắc sông, trên từ núi Bạch Thạch, dưới đến núi Kim Sơn. Lại sai Quảng quận công Phạm Đốc đem quân thủy và đốc các hàng tướng là bọn Nguyễn Quyện đem hơn 10 chiếc thuyền chấn giữ phía thượng lưu từ sông Hữu Chấp đến sông Kim Bôi, cứ đi đi lại lại, để làm thế giúp đỡ nhau.


Ngày hôm sau giờ tỵ, binh thuyền của Mạc đi qua núi Kim Sơn đến chợ Ông Cung. Trong thuyền chiến nghe tiếng đàn sáo ca hát như vào nơi không người.


Gần trưa, nghe ở núi Quân Yên phát một tiếng súng, dọc hai bờ phát liền bảy tiếng súng. Trịnh Kiểm tung quân ra đánh. Voi ở hạ lưu đã qua sông. Binh thuyền của bọn Phạm Đốc, Nguyễn Quyện cũng thuận dòng mà xuống. Quân và voi ở hai bên bờ ra sức tranh nhau tiến lên trước. Quân giặc liền cầm ngược giáo và vất áo giáp bỏ thuyền nhảy xuống nước để trốn.


Thọ quận công toan chạy trốn thì Vũ Sư Thước đã xông tới chặn lại. Thọ quận công liền vung đao chém tới theo thế “Hộ kiên đao”, Vũ Sư Thước dùng đao gạt băng đao của Thọ quận công ra theo thế “Cốn thử thích trát”, Thọ quận công lại giơ đao chém xuống theo thế “Cử hỏa thiêu thiên”, Vũ Sư Thước tránh đỡ rồi thuận đà chém đưa đao ra phía sau theo thế “Uất trì lạp tiêu”, Thọ quận công nhảy lùi lại để tránh rồi phạt đao từ trái sang phải và từ trên xuống dưới đồng thời chân trái bước tới trước, bước chân phải sang ngang, lại bước chân trái tới trước, mỗi lần chuyển lại là một lần phạt đao, liên tiếp ba nhát. Vũ Sư Thước bước chân phải lên hai chân chụm lại, đao hớt từ dưới lên trên và từ phải sang trái theo thế “Dại xoa thám hải”. Thọ quận công vung đao chém xuống rồi lại phạt ngang theo thế “Phượng hoàng toàn oa”, Vũ Sư Thước hai chân khuỵu thấp, vung đao qua đầu rồi quét ngang dưới thấp từ trái sang phải, theo thế “Kim tỏa trụy địa”, gạt băng đao của Thọ quận công đi. Thọ quận công nhảy xuống sông, Vũ Sư Thước nhảy xuống theo, hai bên ôm nhau vùng vẫy ở dưới sông một hồi, cuối cùng Thọ quận công bị Sư Thước túm chặt lấy dìm xuống nước mấy lần cho sặc nước rồi giơ cao ném cho quân sĩ trói lại.


Trận này, quân Lê bắt sống được tướng giặc lớn nhỏ vài mươi viên. Quân của giặc chết lấp kín sông, nước sông đều sắc đỏ. Lấy được khí giới không xiết kể. Quân giặc hơn vài vạn chết gần hết. Kinh Điển sợ vỡ mật, thu nhặt tàn quân về Thăng Long, Trịnh Kiểm dâng biểu báo công thắng trận. Lại đem chém hết tướng giặc là bọn Thọ quận công vài mươi viên ở núi Đồng Lộc.


Trong tiệc mừng công, vua Thuận Bình thân rót một chén ngự tửu ban cho Sư Thước và nói:


- Trận này công đầu thuộc về khanh, trẫm ban cho khanh chén rượu này để đền công khó nhọc.


Trịnh Kiểm nhìn thấy có vẻ không bằng lòng nhưng vẫn tươi cười chúc mừng Sư Thước.


(còn tiếp)


Nguồn: Đất Thang mộc II – Sứ mệnh phù Lê. Tuyển tập Truyện Lịch sử của Hoài Anh, Quyển 7. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.










([1]) Tức Lê Trang Tông, Tôn Ninh, tục gọi là Chúa Chổm. 




([2]) Tam lược: chỉ phương pháp, mưu lược của nhà binh gồm thượng lược, trung lược, hạ lược.




([3]) Tứ trí: bốn hay, bốn kẻ hay biết. Thời Hậu Hán, có người đem mười cân vàng đến biểu Dương Chấn để cầu cạnh, nói rằng: “Đêm khuya, không ai biếviệc này”. Chấn từ chối nói: “Trời biết, đất biết, người biết, sao lại bảo là không ai biết”.




([4]) Trong sạch trên đời ai kẻ sĩ, An nhàn giữa cõi ấy ta tiên.




([5]) 1551




([6]) 1552




([7]) 1555



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 26.04.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 16.04.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
Hà Nội xưa và nay - Bạch Diện Nguyễn Văn Cư 04.04.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 30.03.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
Hòn đất - Anh Đức 14.03.2017
Một chuyện chép ở bệnh viện - Anh Đức 14.03.2017
xem thêm »