tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18982879
Tiểu thuyết
07.07.2009
Hoài Anh
Đất Thang mộc II - Sứ mệnh phù Lê

Phùng Khắc Khoan im lặng suy nghĩ. Ông vốn biết Hữu Khánh quá nặng lòng với chuyện công danh. Khi nhà Lê bắt đầu mở khoa thi để kén chọn nhân tài, ông đã bàn với Hữu Khánh: “Bọn ta chưa thi đỗ mà đã được làm quan to, e rằng các quan lại khác không phục. Hay là bọn ta cùng đi thi để chứng thực rõ ràng tài năng của mình, nếu thi đỗ thì không ai còn nói vào đâu được nữa”. Hữu Khánh thấy ngôi của mình đã tôn rồi nên không chịu đi thi, sợ rằng nếu không may thua kém người khác sẽ có hại cho địa vị của mình nên nói rằng: “Tôi không thèm ganh đua với bọn cử tử làm gì”. Phùng Khắc Khoan cứ đi thi, quả nhiên văn bài xuất sắc được chấm đỗ trạng nguyên, từ đấy ai cũng phải công nhận Khắc Khoan là chân tài thực học. Còn Hữu Khánh thường bày mưu kiến kế cho Trịnh Tùng nên được Tùn tin dùng, đưa lên chức Binh bộ thượng thư. Nghĩ vậy Khắc Khoan nói với Hữu Khánh:


- Đỗ Uông đem nộp sổ sách để triều đình có thể căn cứ vào đó thu thuế đinh thuế điền, đó là việc có ích lợi cho đất nước. Ông ta đã quen công việc Bộ Hộ, cứ để ông ta giữ chức đó cũng được chứ có sao? Vả chăng từ lâu đã có lệ nếu kẻ nào bỏ Mạc về với Lê sẽ được giữ nguyên chức cũ. Đó là chính sách thu phục nhân tài về với ta làm tan rã hàng ngũ họ Mạc. Tôi nghĩ ta nên vì nghĩa lớn chứ không nên bận lòng về quyền lợi riêng tư.


Hữu Khánh nghe Khắc Khoan nói tuy không vừa ý nhưng vẫn phải chịu vì sợ mất lòng Trịnh Tùng.


Trịnh Tùng sai Trà quận công Phạm Văn Khoái và bọn Liêm quận công, Vũ quận công đem 3.000 quân bộ và 2 con voi đánh dẹp sông Phả lại. Ba tướng chia quân đánh các huyện Yên Dũng, Vũ Ninh.


Trà quận công sai người qua sông Nhị lên huyện Phượng Nhỡn tra hỏi dân huyện lấy tin tức Mạc Mậu Hợp trốn tránh nơi nào. Dân chúng đều nói:


- Mới đây có vua Ngụy Mạc giả làm sư ẩn náu ở chùa Mô Khuê đã mười ngày nay.


Được tin báo, Trà quận công sai hai doanh Tráng nghĩa, Sùng nghĩa dẫn quân ập đến vây chặt chùa Mô Khuê, bắt thầy chùa đem ra xét hỏi họ tên quê quán. Mạc Mậu Hợp đáp:


- Bần tăng người huyện Thạch Hà xứ Nghệ An, bình sinh mến chuộng đạo Phật, cạo tóc đi tu, thán ngày vân du non biển, gối tuyết nằm sương, không can dự việc đời, xem phú quý tựa bụi trần, coi công danh như cỏ rác. Chỉ mong vẹn thành chính giác để cứu vật giúp người. Đối với hoàng triều không làm điều gì can phạm. Nay các ông bắt giữ bần tăng, chẳng hay vì cớ gì?


Quan quân nghe nói thế đã toan tha. Nhưng trong bọn có kẻ biết xét đoán, thấy dáng mạo ông sư chẳng phải người thường, lại ăn nói hoạt bát, trong bụng đã sinh nghi, bèn cứ trói tay giải nộp. Mậu Hợp tự liệu không thoát, bèn nghiêm giọng nói lớn:


- Ta chính là Mạc Hồn Ninh, vua muôn thặng([1]) thống trị cả nước. Nay không may sảy chân gặp bước đường cùng. Ta từng nghe kẻ làm vua thiên hẹ, gặp bước loạn ly, chết có điều gì oan uổng. Nay ta đến bước này, đó là vận số của ta như thế. Bọn ngươi chỉ là hạng tiểu tốt, không được làm nhục ta.


Quân lính nghe nó thế liền phi báo cho Trà quận công và Liêm quận công biết. Hai người mừng, cử Vũ quận công lấy voi chở Mậu Hợp cùng hai kỹ nữ đem về Kinh sư dâng tù.


Tới nơi Mậu Hợp không chịu quỳ. Trịnh Tùng nghiêm giọng mắng:


- Ngươi là kẻ bề tôi tiếm đoạt ngôi vua, tội ngươi so tầy núi biển. Nay ngươi bị bắt, đó là đạo trời báo ứng, còn muốn nói gì mà không chịu quỳ?


 Mậu Hợp cất tiếng đáp lại:


- Ông nói sai rồi. Ông không biết các đời Hạ, Thương, Chu, Hán, Đường, Tống kế tiếp thay nhau hay sao? Huống chi nhà Lê lên ngôi nhân lúc họ Trần hết vận, nhà Mạc kế trị khi nhà Lê suy tàn, đó là lẽ phế hưng thông thường. Tuy là tiếm đoạt, nhưng ai là vua đó chăng, ai là bề tôi đó chăng?


 Mậu Hợp nói xong ngửa mặt lên trời cười vang.


Trịnh Tùng nghe xong cả giận mắng:


- Tên nhãi nhép điên rồ không biết ơn nuôi dưỡng còn khua môi múa lưỡi!


Nói đoạn hạ lệnh sai quân dẫn Mậu Hợp đi bêu sốn ba ngày, rồi chém ở bến Bồ Đề, gửi đầu về hành tại Vạn lại ở Thanh Hoa, đóng đanh vào hai mắt bỏ ở chợ.


Ngày 25 tháng chạp, Trịnh Tùng sai các dinh cơ dời cả hành dinh Thảo Tân vào ở phường Phúc Lâm phía nam thành Thăng Long.


Khi thất thành Đại La đã bị san bằng, Đỗ Uông hỏi Trịnh Tùng:


- Bẩm tiết chế, vì sao ngài lại cho san bằng thành lũy đi như vậy?


Trịnh Tùng nói:


- Nguyễn Quyện hiến kế với ta nên san phẳng thành đi để quân Mạc không có chỗ vào đóng nữa.


Đỗ Uông kêu lên:


- Thôi chết rồi, ngài lầm mưu của tên quỷ quyệt ấy rồi.sở dĩ y khuyên ngài san phẳng thành đi để làm kế hoãn binh cho họ Mạc để dư đảng Mạc có đủ thì giờ xây dựng căn cứ ở mạn Cao Bằng Thái Nguyên đấy thôi. Nay quân ta trở về Thăng Long, mà thành ngoài đã bị san bằng thì khó mà có thể phòng thủ được. Chưa biết chừng quân Mạc ở mạn Cao Bằng, Thái Nguyên kéo về đánh Thăng Long cũng nên.


Trịnh Tùng nghe xong nổi giận, truyền bắt Nguyễn Quyện giam vào ngục. Nghe nói Đỗ Uông tố cáo mình với Trịnh Tùng, Quyện suy nghĩ: trước đây Đỗ Uông từng xu nịnh mình để dựa vây cánh thế lực, khi mình thất thế thì hắn cũng là kẻ đầu tiên bán đứng mình. Lòng dạ tiểu nhân, vì tham bả danh lợi mà phản bạn, âu cũng là thói thường xưa nay. Chỉ trách mình tưởng đã khôn ngoan rất mặc mà cuối cùng lại đâm ra dại dột tin vào kẻ gian trá. Thế mới biết câu thơ cụ Trạng Trình quả là chí lý: “Lưỡi thế gẫm xem mềm tự lạt, Miệng người toan lại sắc như chông. Ăn cùng, hốt khác nhiều điều dữ, Nói thực. Làm hư những chước vòng”.


Trong ngục, lúc đầu Nguyễn Quyện còn đắc chí cho là mình đã làm được việc tốt để đền ơn trị ngộ của họ Mạc. Nhưng nghĩ đi nghĩ lại, càng ngày Quyện càng nhận ra là mình dại dột. Nếu mình cứ nhẫn nại, chịu đựng gian khổ ở lại với Lê có phải mình cũng được thơm lây hay không. Bỏ về với Mạc, không những đã không được công cán gì, còn mang tiếng nhục nghìn thu là kẻ phản bội. Thì ra nếu chỉ lựa gió phất cờ, thấy kẻ mạnh nhất thời là theo ngay, chưa chắc đã phải là người trí lực. Bây giờ y mới thấm thía những lời cha y nói với y trước đây: “Con cho rằng người tài ở với Sở thì Sở thắng, ở với Hán thì Hán thắng, mà không biết rằng cốt yếu là ở với ai có chính nghĩa, ai được lòng người thì cuối cùng mới dành được phần thắng”. Y theo Mạc cũng chẳng khác gì Phạm Tăng bày bao mưu kế cho Hạng Võ mà cuối cùng vẫn thất bại, uất quá lên hậu bối mà chết. Phải chăng y cũng là kẻ chết mà vẫn mang tiếng bất trí như Phạm Tăng. Bây giờ y mới hiểu, nếu không có chính nghĩa, không được lòng dân thì dầu có tài giỏi bao nhiêu cũng khó lòng xoay chuyển được thời cục. Thì ra hợp lòng dân cũng chính là hợp lòng trời, đó chính là cái cơ trời màu nhiệm mà trước đây vì đầu óc tham lam ích kỷ, y đã không dễ dàng nhận ra được.


Vì quá lo buồn, Nguyễn Quyện sinh bệnh nên chẳng bao lâu chết ở trong ngục. Trước đây con Quyện là Nhuệ quận công Nguyễn Tín, Thọ Nham hầu Nguyễn Trù và con của Phù hưng hầu Nguyễn Miễn là bọn Đô Mỹ, Vân Bảng, Nam Dương, An Nghĩa, Nhân Trí, thấy vua Mạc bị bắt, bèn chịu khuất quy thuận, sau đó lại mưu phản, việc phát giác, bọn Nguyễn Tín, Đô Mỹ, Vân Bảng, Nhân Trí đều bị giết, bọn Nam Dương, An Nghĩa, Thọ Nham lại trốn đi theo dư đảng họ Mạc.


Vì kinh thành bị đốt phá hết, nên Trịnh Tùng phải sai thợ dựng cung điện làm hành tại ở phía tây nam thành Thăng Long phía bắc Cầu Dừa, tức là chỗ Cẩm đình trước, một tháng làm xong. Rồi sai các đại thần và quan văn võ bày cờ xí, chỉnh đốn quân và voi, để chuẩn bị đón thánh giá. Tháng ba năm Quý Tỵ([2]) vua Gia thái ra đi từ hành tại Vạn lại qua đò đến thành Tây Đô, tiến thẳng theo đường Quảng Bình ra Thiên Quan, qua các huyện Mỹ Lương, Chương Đức, đi một tháng đến huyện Thanh Oai thì đóng quân. Trịnh Tùng đem các quan văn võ đến huyện Thanh Oai đón giá, cử nhã nhạc cùng đi về kinh.


Ngày 16 tháng 4, vua lên chính điện trăm quan chầu mừng. Tháng sau, Nguyễn Hoàng từ Thuận Hóa thân đem tướng sĩ voi ngựa thuyền ghe đến Kinh lạy chào và đem sổ sách về binh lương tiền lụa, vàng bạc, châu báu, kho tàng của hai trấn Thuận Hóa và Quảng Nam dâng nộp.


Trịnh Tùng xin vua sai tướng đi đánh dẹp dư đảng họ Mạc như bọn Mạc Kính Chương, Mạc Kính Cung, Mạc Kính Khoan cùng Mạc Ngọc Liễn đang chiếm đóng một số vùng rừng núi để thu phục lại toàn bộ đất nước.


Lần này, khi hành quân qua huyện Thanh Lâm, Trần Phúc vào làng Hội Xá, thăm lại nơi mẹ chàng và chàng nương ngụ trước đây. Tới nơi thì thấy nhà cửa tiêu điều, trong nhà tối tăm ẩm thấp. Gọi mãi mới thấy một bà già từ trong buồng ra, Trần Phúc hỏi:


- Thưa cô, cô có phải là cô Thu Cúc ngày trước đó không?


Bà già nói:


- Tướng quân là ai, sao lại biết tên tôi?


Trần Phúc reo lên:


- Đúng là cô Thu Cúc của cháu rồi phải không? Cháu là thằng Phúc, con trai bà Ngọc Lan đây?


Thu Cúc mừng rỡ:


- Ủa, vậy ra cậu là cậu Phúc đấy ư? Trông cậu bây giờ lớn quá lại thành vị tướng uy nghi lẫm liệt, tôi không còn nhận ra được nữa. Sau khi bà Ngọc Lan bị chúng nó bắt về Kinh, mẹ tôi lo buồn thương nhớ bà nên chẳng bao lâu cũng lâm bệnh mà mất. Còn ngôi nhà cũ cũng bị quân Mạc phá hủy để trừng phạt về tội chứa chấp kẻ phản nghịch. Tôi dúm rau dúm bếp làm nên túp nhà tranh này để có chỗ chui ra chui vào...


- Cô có biết mẹ cháu hiện nay ở đâu không?


Thu Cúc ngập ngừng một hồi:


- Tôi nói thật cho cậu biết nhé. Có lần tôi đi vãn cảnh chùa Yên Tử, dọc đường bỗng gặp một người hát rong mù mắt thân hình tiều tụy, nhìn mãi mới nhận ra đó là bà Ngọc Lan. Tôi mừng quá định mời bà về nhà phụng dưỡng nhưng bà nói với tôi: “Bọn quan quân nhà Mạc cấm không ai được thưởng tiền cho chị vì vậy chị không thể làm nghề hát rong được nữa. Qua mấy tháng trời đói khổ, sức lực chị đã suy kiệt rồi, không thể nào sống được lâu nữa. Chị định bụng khi nào hơi mòn sức tàn sẽ lê vào một thạch động trong dãy núi Yên Tử này để chết cho mát mẻ. Nếu sau này em có gặp con trai chị thì nói với nó chị không còn đủ sức đợi nó trở về nữa. Nếu nó muốn tìm chị thì bảo nó cứ tìm vào thạch động trong dẫy Yên Tử sẽ gặp. Tôi có ép bà về ở với tôi nhưng bà nhất định không nghe.


Ngày hôm sau, Phúc cùng Duệ và Thu Cúc lên núi Yên Tử tìm dấu vết của Ngọc Lan. Nhìn thấy xa đã thấy giữa những cánh cung núi trùng điệp của khu Đông Bắc mênh mông, Yên Tử cao hơn hai nghìn thước, vút lên chon von tựa một vọng gác. Tới Uông bí, ba người nghỉ ngơi chốc lát, sửa soạn lương ăn đường để dùng trong chuyến đi. Đến Lân Tháp, ba người theo con đường đất rẽ về phía tây, qua xã Thượng Yên Công và đi tiếp một đỗi đường nữa thì đến Yên Tử. Đoạn đường từ Lân Tháp đến Yên Tử, đi giữa lòng thung lũng hẹp và dài, giới hạn bởi hai dãy núi Cánh gà, phía nam; Bảo đài, phía bắc, thoạt trông như những thành quách. Những khu vườn sum suê ăn quả những ruộng mía thân tím thẳng tắp nối tiếp hai bên đường. Suối Giải Oan trong veo chảy ngoằn ngoèo trong thung lũng, trên nền đá cuội và sỏi trắng, cắt con đường từ Lân Tháp vào Yên Tử chín đoạn, khiến cho khách ngỡ là chín con suối khác nhau. Hai bên bờ suối, hoa dành nở vàng ruộm. Đây đó những khóm hoa hải đường và hoa thủy tiên nở bung những cánh mỏng phớt tím.


Núi Yên Tử trông giống hình con voi quay đầu về phía biển. Quanh năm đỉnh núi chìm trong mây trắng.


Qua suối Giải Oan, ba người đến chùa mang tên Giải Oan. Chùa xây trên nền đá, mái lợp ngói, tường xây bằng gạch. Xung quanh chùa, những cây cổ thụ vươn cao, xòe tán che kín mái chúa. Trước sân chùa, trên nèn đất tơi và ẩm, sum suê từng khóm loa kèn màu hoàng yến vươn lẫn màu trắng mịn. Những bông hoa năm cánh nở để phơi ra chùm nhị tím, mảnh và dài, rung rinh trên cuống hoa màu xanh, tròn và thẳng như cây sào. Xung quanh chùa Giải Oan, có sáu ngọn tháp, tương truyền là mộ các vị cao tăng đã trụ trì ở đây trong đó có Tần Anh Tông, Pháp Loa và Huyền Quang.


Cách chùa Giải Oan hơn trăm thước về bên trái, có một cây sung cổ thụ tên chữ là cây ưu đàn, thân to, và thẳng đứng, cành lá che rợp một vùng.


Vòng ra au, về phía trái chùa Giải Oan, leo lên vách núi dựng đứng và đi men theo sườn núi về phía tây, ba người thấy có một thạch động sâu thăm thẳm. Thu Cúc bỗng chỉ tay vào đó nói:


- Trước đây lệnh bà có dặn tôi rằng bà sẽ vào trong thạch động ở cạnh am Lò rèn nơi chư tăng làm ra dao cuốc để chăm nom vườn tược, mượn đó làm nơi trút hơi thở cuối cùng. Ta thử vào trong đó xem có thấy dấu vết cảu người hay không?


- Phúc liền thắp một cây đuốc nhựa thông lớn mang theo để soi đường vào thám hiểm trong thạch động. Hang đá sâu hun hút, gió mạnh thổi vào buốt thấu xương, ngọn đuốc chập chờn chỉ chực tắt. Đi quanh co hồi lâu, ba người lần theo vách hang phủ đầy rêu trơn nhẵn, ẩm ướt bỗng thấy một ngách hang rộng lớn phía trên có lỗ hổng ánh sáng ban ngày lọt vào. Hơi nước từ biển Đông theo gió bay vào gặp khí lạnh của núi biến thành mây mỏng, bàng bạc như khói lùa vào hang. Trên một thạch bàn, ba người dụi mắt khi nhìn thấy xác một người đàn bà khô đét chỉ còn da bọc lấy xương ngồi tựa lưng vào vách đá, đôi mắt đã bị khoét thủng vẫn nhìn phía trước. Phúc biết đây là di hài của Ngọc Lan, đôi mắt vẫn như nhìn tới ngày trở về của đứa con trai, nhìn tới ngày sụp đổ cơ nghiệp của kẻ thù tàn bạo. Thì ra khí lạnh trong hang đã giúp cho thi hài không rữa nát cũng như sự vận dụng tinh lực cao độ của bà khi ngồi kiết già theièn định trước giờ trút hồn khỏi xác đã góp phần bảo quản được cơ thể của bà. Trông bà như bức tượng của một vị cao tăng đã viên tịch. Ba người vội vàng sụp lạy trước di hài cũng là di tượng của người. Trong không gian mênh mông, văng vẳng tiếng suối róc rách, tiếng thông, trúc rì rào. Đâu đây thoang thoảng mùi hương của hoa phong lan, hoa mộc miên, mùi hương nồng nàn của hoa dẻ và hoa trứng gà. Tưởng chừng Ngọc Lan đã hòa nhập vào cảnh thiên nhiên hùng vĩ và kỳ ảo này...


Duệ nói thầm:


- Bá mẫu đã đi theo con đường của vua Trần Nhân Tông ngày xưa, tìm đến nơi u tịch này mà gửi thân, quả là cao khiết...


Phúc cũng thì thầm:


- Gia mẫu muốn mình trở thành bông sen trong giếng ngọc như lời của cụ tổ trong bài phú ngọc tỉnh liên. Nay người lánh trần bên cạnh Hòn Ngọc, noiư có những bông sen đất hồng tươi mọc bên kẽ lá, như vậy cũng là thỏa được chí nguyện của người...


Hoa sen đất tỏa một mùi hương dịu nhẹ, trở thành khói hương muôn thuở trước bàn thờ của vị liệt nữ - từng là công chúa Ngọc Lan


Hết


Nguồn: Đất Thang mộc II – Sứ mệnh phù Lê. Tuyển tập Truyện Lịch sử của Hoài Anh, Quyển 7. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.







([1]) Vua có muôn cỗ xe.




([2]) 1593.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 26.04.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 16.04.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
Hà Nội xưa và nay - Bạch Diện Nguyễn Văn Cư 04.04.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 30.03.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
Hòn đất - Anh Đức 14.03.2017
Một chuyện chép ở bệnh viện - Anh Đức 14.03.2017
xem thêm »