tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20563395
Tiểu thuyết
03.10.2008
Triệu Xuân
Đâu là lời phán xét cuối cùng


Đội sản xuất số Sáu là đội duy nhất không chịu làm theo qui chế mới của giám đốc là sáng sáng phải điểm danh trước giờ ra lô. Theo ý của đội trưởng Hai Gan được cả đội đồng tình là phải tranh thủ từng phút ra lô sớm chừng nào quý chừng ấy. Mọi sự hội họp chỉ có thể làm ngay tại lô sau khi đã cạo xong, chờ trút mủ. Cũng theo ý của đội trưởng Gan, không cuộc họp nào được kéo dài quá ba mươi phút, chỉ họp khi thật cần thiết. Mọi chuyện ăn thua ở chỗ từng người phải tự giác. Căn cứ vào tình hình cụ thể của từng lô cao su mà Hai Gan khoán sản lượng từng ngày cạo cho từng tổ sản xuất. Mỗi tổ lại giao khoán cho từng người. Thành thử việc ước tính sản lượng từng tháng, thậm chí từng quí ở đội sản xuất số Sáu khá chính xác.


Đội Sáu là đội đông nhất nông trường Hòa Bình. Thời trước, khi ông Ba Định được chủ Pháp cất nhắc từ anh phu contrat lên cai, lên su rồi lên sếp, thì làng Sáu, làng Bảy và làng Tám thuộc quyền của ông sếp làng Trần Định. Đây là ba làng có nhiều thợ cạo giỏi nhất, có diện tích cao su lớn nhất, có nhiều người đi theo cách mạng nhất và có nhiều gia đình liệt sĩ bậc nhất nông trường. Sau khi về làm giám đốc, Tư Bình cho sáp nhập cả ba làng lại thành đội sản xuất số Sáu. Cả nông trường bây giờ còn lại mười lăm đội khai thác, trong đó, đội Sáu lớn nhất gồm hai trăm công nhân cạo, bốn trăm năm mươi phần cây, trong số này có một trăm phần cây trồng từ những năm 1930–1932, một trăm phần cây trồng từ thời ba anh em kết nghĩa Hải - Định - Bình trốn tới miệt này, năm bốn mươi mốt. Số còn lại, mới trồng từ khi ông Ba Định được chủ Pháp đưa lên làm chef de division(1). Lúc đó, lương của tỉnh trưởng có chín ngàn, mười ngàn đồng một tháng; lương của ông Định, chef de division, mười hai ngàn, chưa kể tiền thưởng.


Là đội có diện tích cao su lớn nhất, mật độ cây còn lại tương đối đều hơn các đội khác, nên đội Sáu được giao kế hoạch khá nặng: bốn trăm tấn mủ qui khô năm nay. Rủi một nỗi là năm nay mưa sớm, mưa nhiều và kéo dài nên việc thực hiện kế hoạch năm chỉ còn trông cả vào quí tư. Nay đã là cuối tháng mười một dương lịch rồi. Chỉ vẻn vẹn bốn mươi ngày nữa là hết năm kế hoạch. Vào lúc cạo cao điểm, thì xảy ra chuyện những người thợ lớn tuổi bị ép xin nghỉ việc. Rồi những công nhân cạo giỏi nhất bất mãn, cũng bỏ việc luôn.


- Phải làm gì đây chị Tư? - Hai Gan hỏi Tư Hòa.


- Còn làm gì nữa! Thuyết phục mọi người ở lại. Không ai được nghỉ, kể cả những người lớn tuổi.


- Nghĩa là... đội Sáu tiếp tục làm theo ý riêng, qua mặt giám đốc?


- Không phải ý riêng mà là ý dân, là lòng người. Phải làm theo lòng người. Đi ngược lại ý nguyện của bà con thì rồi đời còn gì, chú Gan!


*


* *


Ba Định ghé nhà Sáu Son.


- Trời đất! Ông sếp bidong2! Mời ông vào nhà chơi!


Ông Sáu Son reo lên mừng rỡ, chạy ra mở cổng. Cả hai con chó vàng và đen dữ có tiếng ở làng này, thấy ông Định đến, lao ra vẫy đuôi rối rít. Chúng nhảy cẫng lên liếm vào tay ông. Sáu Son vừa la hai con chó, vừa quýnh quáng cầm chổi lông gà phẩy sạch mặt bàn, mặt ghế. Ông day vô phòng trong kêu đứa con trai: “Sang ơi, Sang! Ông sếp bidong tới thăm nhà ta!”. Đi phu contrat từ năm một ngàn chín trăm ba mươi sáu, vậy mà cả gia đình ông còn nói đặc giọng Bắc.


- Kìa, ông Sáu! Đừng gọi tôi như vậy nữa!


- Vâng! Tôi... quen, nó quen miệng mất rồi. Với lại, đấy là sự quý trọng mà tôi cũng như thể hết thảy mọi người trong đồn điền này dành cho ông. Ở đời, thật lạ lùng. Sao mà có người tốt thì tốt quá, mà có người tệ thì tệ quá hở ông?... Đến ông mà cũng phải bỏ việc về nhà nữa thì quả là hết nói rồi. Cả cuộc đời chúng ta gắn bó với đất đỏ, với cao su. Bao nhiêu mùa cao su thay lá, biết bao nhiêu lá cao su trút xuống đất rừng cũng chưa nhiều bằng những tủi cực mà con người gánh chịu. Dù là thế, người ta ai nỡ bỏ cao su mà đi! Phải không ông sếp? Có lẽ nào? Có lẽ nào khi lũ ngoại bang cút khỏi đất này, trời của mình, đất nước của mình, rừng cây của mình, mà mình lại bị đuổi ra khỏi rừng cây, hả sếp? Thật, tôi không thể nào hiểu nổi. Sao vậy hả trời?


Ba Định nhìn đăm vào khuôn mặt nhăn nhúm hiện rõ quá nhiều khổ đau của Sáu Son. Lòng ông se lại. Ông không biết nói câu gì để an ủi cho người bạn đã cưu mang mình, thuở bốn anh em đói lả trong rừng bốn mươi năm trước. Ông nhớ rất rõ cái ngày ấy, như là nó mới xảy ra mới hôm qua thôi.


... Những người khai phá rừng hoang xúm lại theo tiếng gọi của Sáu Son. Họ trút phần cơm mang theo của họ cho bốn anh em. Không ai nuốt được, vì quá mệt, quá đói, quá cảm động. Một lúc sau, sau khi đã uống hết bình nước do Sáu Son đưa cho, bốn anh em mới tỉnh lại và ngấu nghiến nhai, nuốt. Sáu Son đưa cả bốn về nhà, về cái trại của phu contrat chứ hồi đó chưa có nhà. Rồi đích thân Sáu Son xin với su, sếp, lo lót cho su, sếp nhận bốn anh em vào làm. Viên chủ Tây lúc ấy đang cần nhân công mở rừng lập đồn điền, đã bằng lòng nhận cả bốn người. Tiếp đó là những ngày nhường cơm sẻ áo, giơ lưng chịu đòn thay cho nhau. Những người mới bao giờ cũng bị ăn hiếp đủ điều. Chính Sáu Son đã che chở cho tất cả.


Vậy mà giờ này... Tư Bình lại buộc Sáu Son phải thôi việc, buộc cả một lớp thợ già như Sáu Son, Bảy Trạch phải thôi việc.


Kể ra, việc làm ấy không có gì sai luật pháp. Nhưng liệu nó có hợp với lòng người? Và quan trọng hơn, ông Định lo nhất điều này: Đối với nông trường Hòa Bình, việc xây dựng một lớp người cao su mới, chưa làm mà đã cho về vườn lớp người cũ dầy dạn kinh nghiệm. Chết là ở chỗ ấy! Hơn chục kỹ sư và cán bộ Tư Bình mới xin về có tay nào biết tí gì về cao su đâu! Có người còn lộn lá cao su với lá khoai mì! Đối với sự phát triển của một nông trường, giờ đây, không có gì quan trọng hơn là con người. Vì sao Tư Bình không nhận ra điều ấy?


- Tôi ghé thăm ông một lát rồi đi ra lô đây.


Ba Định uống cạn chén nước, đứng dậy đi ra cửa. Lòng ông trĩu nặng. Ông không muốn nói gì lúc này. Có lẽ, chỉ có ra lô cao su, đứng giữa rừng cây xanh ngát, ông mới trút được tâm sự của mình. Được gần gũi cây cao su, chăm chút cho nó, nhìn ngắm từng bước trưởng thành của nó, được nâng niu chén máu trắng của cây hiến cho đời... Ôi! Còn gì tuyệt vời hơn!


*


* *


Đói.


Tết đến mà đói.


Phòng lương thực của huyện Hòa Bình có được hạt gạo nào là ưu tiên cung cấp ngay cho công nhân cao su. Nhưng gạo ít quá, như gió vào nhà trống.


Mùa cao su trút lá, nắng hanh như sấy nóng toàn bộ đất, cây cỏ, con người. Suốt ngày, từ lúc sương mù tan, khoảng tám giờ, đến lúc tắt nắng mười tám giờ, không khí ong ong, u u nực nội và bụi bặm. Người ta tìm sự quên lãng trong cờ bạc, nhậu nhẹt. Lâu lâu lại có vài đám đánh lộn, chửi lộn. Ở văn phòng đội sản xuất số Sáu, đội trưởng Hai Gan nằm ngủ li bì, bù lại một đêm thức trắng vì canh phòng, ngăn chặn bọn phá hoại đốt rừng cao su.


Ngày nào ban giám đốc nông trường Hòa Bình cũng nhận được tin cháy rừng ở các đội báo về. Rừng cháy vì bị kẻ xấu đốt, vì người đi đường sơ ý vứt tàn thuốc vào lô, vì có người bực bội quá, ức quá mà đốt chơi cho bõ ghét... Có rất nhiều lý do dẫn đến việc cây cao su bị thiêu rụi, nhưng trong báo cáo gửi về Tổng cục, giám đốc Bình luôn luôn qui vào một lý do: bị phá hoại. Bọn tàn quân Fulro phá hoại. Khi qui vào lý do này, ông trút được hết trách nhiệm. Và trách nhiệm dồn cả cho lực lượng bộ đội, công an huyện Hòa Bình. Người ta đọc báo cáo và tin liền.


Trong chiến tranh, tất cả mọi thứ sai, dở, tội lỗi đều có thể trút lên hai chữ chiến tranh. Sau khi chiến tranh chấm dứt, những năm đầu hòa bình mọi thứ đều có thể trút lên đầu bọn phá hoại, bọn địch còn lẩn lút, bọn sĩ quan ngụy trốn cải tạo, và tàn quân Fulro! Lý do đó có lý đến mức cấp trên tin liền.


Nhưng rừng cháy nhiều quá, cháy liên miên. Ngày nào cũng xảy ra một vài đám cháy. Có đám cháy cứu được. Nhưng phần nhiều, người ta chịu bó tay vì các lô cao su cách xa làng, và vì đói. Tiêu chuẩn gạo tháng mười hai năm ngoái mà đến tháng hai năm nay vẫn chưa có bán. Ai cũng lo chạy ăn. Cái ăn trở thành câu chuyện cửa miệng, thành vấn đề quan tâm từ lúc gà gáy canh ba, cả đến trong giấc ngủ cũng thế. Toàn bộ công nhân nông trường, kể cả công nhân xưởng chế biến được huy động vào việc chống cháy rừng. Nhưng ít khi nào người ta có mặt đông đủ và kịp thời.


Suốt ngày Ba Định và Nguyễn Hiếu ở trong rừng cao su. Dập tắt đám cháy này, họ lại nhào qua đám cháy khác. Sau khi nghỉ việc, Ba Định hiến luôn cho nông trường chiếc xe Peugeot 304 là tài sản riêng của ông. Văn bản của chủ Pháp từ năm sáu mươi sáu khi cấp xe cho ông đã ghi rõ như thế. Bây giờ, hai cha con chỉ còn lại chiếc Honda 90 của Hiếu. Chiếc Honda màu đỏ như lửa lao vun vút giữa các lô cao su, từ đông sang tây, từ phía nam ngược lên phía bắc nông trường. Nơi nào cao su cháy, nơi đó họ có mặt. Họ coi việc góp sức cùng công nhân dập tắt đám cháy là chuyện sống còn của mình.


Nhưng trưởng phòng kỹ thuật, sếp của Nguyễn Hiếu đã cho người đi tìm Hiếu về văn phòng gấp. Loan chạy đến lô cao su đang cháy. Cỏ Mỹ không được dọn, cao lút đầu, bén lửa cháy như xăng. Khói đen bốc lên mù mịt. Loan nhận ra cha và anh mình đang cùng với năm sáu người phát cỏ ngăn lửa ở cách đám cháy có vài mét. Lửa đã đuổi sát gót họ. Người ta dập tắt đám cháy rừng cao su không phải bằng việc dập tắt trực tiếp nơi đang cháy. Giả dụ có xe cứu hỏa xịt khí cacbonic cũng không dập tắt được. Cách tốt nhất ở đây là tạo nên khoảng trống ngăn không cho lửa lan sang vùng tiếp giáp. Nhưng gió rừng là đồng minh hùng hổ của lửa. Nhiều khi, gió ném từng nắm lửa - tro cỏ Mỹ và lá cao su - vượt qua bức tường ngăn vừa được phát quang và gây cháy tiếp.


Đối với Ba Định, không gì đau lòng bằng nhìn cây cao su bị lửa táp. Đôi mắt nhân hậu của ông đờ đẫn nhìn rừng cây cháy đen.


Họ đã bao vây được ngọn lửa, cách ly nó với vùng tiếp giáp. Rất may là không có làn gió mạnh nào thổi tới nữa. Lửa cháy hết những cây cỏ Mỹ, lá cao su, rồi lụi dần. Từ trong khói, lửa bụi than nóng rát bước ra, Nguyễn Hiếu đón bình nước từ tay Loan, kính cẩn đưa cho Ba Định, hai cha con uống cạn bình nước. Loan nói nhanh:


- Anh về văn phòng gấp, chú Năm Kha sai em ra kêu anh về liền.


- Có chuyện chi vậy?


- Em không hay. Ổng la om sòm từ sáng tới giờ. Ổng nói anh là kỹ sư, nhân viên phòng kỹ thuật của ổng, chứ đâu phải là công nhân chống cháy! Ông nói sẽ đề nghị giám đốc kỷ luật anh về tội bỏ nhiệm vụ, suốt ngày tha thẩn trong rừng.


- Nghe ổng nói vậy, em nghĩ sao?


- Em...


- Nói đi em. Cứ nói cho anh nghe.


- Ổng nói tầm bậy. - Loan đưa hai bàn tay vén mái tóc về phía sau ót, rồi dùng dây thun cột lại. Mắt cô lộ vẻ phẫn nộ. Ba và anh, cả tuần, cả tháng nay vật lộn với lửa, cứu cao su khỏi bị lửa thiêu. Vậy mà ổng nói anh “bỏ nhiệm vụ, suốt ngày tha thẩn”...


Hiếu đến sát bên cô gái, đặt tay lên vai cô, cười hồn hậu:


- Đừng giận nữa, cưng của anh. Ta về đi. - Anh quay lại nói với ông Định - Thưa ba, con về.


- Ờ, hai anh em về trước đi. Ba ở đây phát cỏ tiếp với anh em.


Loan nói:


- Chiều, ba ráng về sớm. Con chờ ba về cùng ăn cơm, nghe ba.


- Khỏi! Các con cứ ăn trước đi nếu ba về quá trễ.


Hiếu đạp hoài, xe không nổ. Anh nhìn vào công tắc và chợt nhớ ra, khi nãy vì vội quá, anh quẳng xe mà quên tắt công tắc. Điện trong ắc qui đã xả hết. Rất may là trong cốp xe, lúc nào Hiếu cũng sơ cua thêm một bình điện. Anh thay ắc qui. Máy nổ. Loan nhẹ nhàng ngồi lên phía sau xe. Tuy anh em ở chung với nhau đã gần sáu năm, kể từ ngày Loan được ông Định đưa về, nhưng tuổi con gái mới lớn khiến cô rất e thẹn. Cô ngồi cách xa Hiếu, hai tay bấu chặt lấy nệm xe. Hiếu biết vậy, mỉm cười, cố tránh những ổ gà và chạy chậm trên những đoạn đường xấu. Tuy thế, Hiếu không chủ động nổi vì đường lô quá xấu. Vào những lúc xe dằn xóc đột ngột, bộ ngực bánh dày đang trong quá trình hoàn thiện của Loan chạm vào lưng Hiếu. Anh thấy bừng bừng trong lòng khi miền nhạy cảm nhất của người con gái dậy thì phát tia lửa điện vào cơ thể cường tráng của mình.


- Em đang nghĩ gì vậy, Loan?


- Không!


- Anh biết mà!


- Anh biết mà còn hỏi.


- Anh muốn nghe em nói. Nói đi.


- Dạ. Em nghĩ, vì lẽ gì mà chú Năm Kha lại xử ép với anh như thế? Cả hai cùng là kỹ sư. Anh được học ở Pháp, đào tạo chính qui chớ bộ. Còn ổng, trước ổng học lớp bảy, rồi được ra miền Bắc, học sinh trường miền Nam ở Đông Triều ấy. Ổng khoe vậy. Ổng học hết lớp mười rồi qua học trung cấp kỹ thuật nông nghiệp. Ổng mới tốt nghiệp đại học hệ hàm thụ, chẳng biết gì về cao su cả. Vậy mà... anh biết không, ở nông trường mình, ai cũng nói ổng ỷ thế có cha làm lãnh đạo ở Ủy ban tỉnh, có chú làm lớn ở Tổng cục cao su! Ổng ỷ thế ổng là đảng viên. Đảng viên thì có quyền xử ép người khác à? Sao lạ vậy? Đảng là của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, sao lại xử ép đồng nghiệp của mình?


Hiếu nghe Loan nói, mỉm cười. Anh rất thương cô em gái nuôi. Những gì đã và đang day dứt trong đầu óc thơ ngây của em? Cầu cho em đừng vì những chuyện ấy mà vơi đi niềm tin, niềm say mê cuộc sống. Loan vẫn sôi nổi:


- Mắc cười nhất là bữa ổng ra vườn ươm. Cái gì ổng cũng hỏi. Vì sao phải dấm hạt bằng cát? Vì sao phải đập vỏ hạt cách này mà không đập cách kia? Vì sao cây đã lên cao rồi không bứng ra trồng ngay mà phải cột miếng vỏ khác vào gốc? - Loan cười, tiếng cười trong trẻo, hồn nhiên như chim hót buổi sáng trong rừng cao su - Vậy mà tối ngày ổng khoe, anh à. Ổng khoe rằng ổng đã từng làm trưởng phòng từ hồi anh mới bảy, tám tuổi kia!


- Điều đó không sai đâu Loan! Năm anh lên bảy tuổi thì ảnh gần hai mươi tuổi rồi. Hai mươi tuổi có thể làm được những chuyện lớn hơn chứ!


- Nhưng mà em thấy khó ưa quá à. Ba nói, những người giỏi thường tự giấu mình, như đỉnh núi cao, ít khi lộ ra khỏi lớp mây phủ. Còn những người dở mà muốn chứng tỏ ta giỏi hơn người thì thường hợm mình, ba hoa, phách lối. Em thấy chú Năm Kha là người như vậy. Thiệt dỏm hết cỡ!


- Thôi à, cô bé. Coi chừng anh cho ăn đòn nghe không? Phải biết kính trọng người lớn tuổi chứ.


- Dạ, em xin lỗi. Ai biểu anh hỏi em, anh biểu em nói. - Loan phụng phịu.


- Ừ, anh không la nữa đâu.


Phòng kỹ thuật là nơi làm việc quen thuộc của Hiếu. Giờ đây, ngồi trên cái ghế bằng gỗ cẩm lai, chân có bánh xe và thân ghế có trục xoay, lưng ghế bọc nệm da, hai tay ghế cũng bọc nệm, là một người khác. Năm nay Hiếu hai mươi chín tuổi. Người ấy bốn mươi tuổi. Mặc dù Hiếu giống bố ở thân hình cao lớn, nhờ anh tập thể dục thường xuyên nên cơ bắp rắn chắc, anh cũng phải thầm khen con người kia: Ở lứa tuổi ấy mà tóc đen, thân thể vạm vỡ. Chỉ có cặp mắt là Hiếu thấy khó chịu, cặp mắt của Năm Kha đầy tham vọng.


Năm Kha cùng với mười ba người khác đều có gốc gác xuất thân từ dân cao su, gia đình hai ba chục năm làm cao su rồi đi kháng chiến, đi tập kết..., được bố anh xin về lắp ráp, thay thế cho bộ khung của nông trường.


Tất cả trưởng, phó phòng cũ được chuyển xuống làm nhân viên. Mười bốn người mới về, trong đó có tám người là kỹ sư thay thế họ. Việc thay người cho những cái ghế rất êm và lẹ. Tư Bình rất tự hào về chiến công này. Ông tin rằng mọi người ai cũng phục tùng mình. Không có sự phản ứng gì. Người ta tưởng rằng, sự phản ứng, nếu có, sẽ xảy ra ở trường hợp con trai giám đốc. Nhưng không, Hiếu không hề phản ứng.


Thực ra thì trước vụ này, Hiếu cũng rơi vào tình trạng day dứt. Lòng tự ái của một con người cộng với lòng tự trọng của một trí thức trẻ, đâu phải nhỏ. Nhưng nhờ có ông Định, Hiếu vô cùng biết ơn người cha nuôi đã trở thành trụ cột cho anh, giúp anh vững vàng trước mọi chao đảo của cuộc đời.


Ông Định nhắc nhở Hiếu:


- Nếu anh tự coi mình là người có tâm huyết với cuộc đời hôm nay, có tâm huyết với rừng cao su, thì hãy thể hiện điều đó bằng việc làm, ở vườn cây, phải, ở vườn cây chứ không phải ở cái ghế trưởng phòng. Anh hiểu chứ? - Ngừng một lát, ông Định hạ giọng nói tiếp - Cả đoạn đầu của đời ba chưa đủ cho anh hiểu hay sao?


Lời nói hàm chứa sức nặng ghê gớm làm nẩy bật lòng tự trọng như cái lò so ở trong lòng Hiếu. Ông Định nói với Hiếu mà cũng là nói với chính mình. Ông dạy Hiếu bằng chính cuộc sống quá khứ và hiện tại của ông.


Công lao của ông với cách mạng như thế nào, dân tình ở đất cao su này hiểu cả, những người Cộng sản ở xứ này - hiện đang giữ những chức vụ cao - hiểu cả. Với ông, thế là đủ rồi, cần gì phải kể công. Những người hay kể lể công trạng của mình thường là những người công lao chỉ bằng cái móng tay. Ông chẳng kể công, chẳng hề bất mãn, chán nản. Mỗi người có một thời của mình. Cây cao su cũng vậy, cây nào cũng chỉ có một thời sung sức, cho nhiều mủ nhất, rồi kiệt, rồi bị đốn, để nhường chỗ cho một cây mới mọc lên. Cho nên vấn đề không phải ở chỗ cái thời ấy vắn hay dài, lâu hay mau. Một phút cũng làm nên lịch sử. Có khi sống cả trăm tuổi mà vẫn sống thừa. Quan trọng là trong cái thời của mình, mình đã làm được những gì cho cuộc đời.


Tâm sự ấy của ông Định, kỹ sư Hiếu rất hiểu, rất thấm.


Hiếu đẩy xe vô nhà xe rồi chạy lại vòi nước ở đầu nhà. Anh gỡ kiếng, nón đưa cho Loan cầm, cúi xuống rửa mặt. Đôi mắt to, đen láy có hai hàng mi cong của Loan dõi theo từng mảng bụi đen nhẻm trên hai cánh tay chắc nịch trôi theo dòng nước. Cánh tay và gương mặt Hiếu lại trắng hồng. Loan thấy anh Hiếu của mình đẹp trai và hiền quá! Cô lau cặp mắt kiếng cho anh. Hiếu cảm ơn cô rồi bước vô văn phòng. Kha mặc sơ mi trắng, tay xắn cao, biết Hiếu bước vô phòng liền cúi xuống chăm chú đọc tờ báo. Hiếu đến gần bàn, giọng ấm áp:


- Anh Năm kêu tôi.


- Phải, mời đồng chí ngồi. - Năm Kha có thói quen xưng hô đồng chí với hết thảy mọi người, kể cả bác thợ già duy nhất còn lại làm công việc chăm sóc vườn bông.


Kha có gương mặt rộng, đẫy đà nhưng cái miệng lại rất nhỏ, môi mỏng dánh. Vầng trán của anh cao, nhưng cặp lông mày lại quá thưa, mờ nhạt, gần như không có lông mày. Hiếu thoáng mỉm cười khi nhận ra những nét không tương xứng của người đối diện. Cặp kiếng trắng ở góc bàn, nãy giờ đọc báo Kha không mang, khi Hiếu bước vào, Kha lại mang kiếng lên. Cặp kiếng gọng trắng, loại thép không rỉ, hai tròng kiếng không cận cũng chẳng phải lão. Hiếu biết chắc như thế. Đối diện với anh là một người thích đỏm dáng. Tay trái Kha vuốt mái tóc đen, vốn đã rất mướt, tay phải anh mở cuốn sổ, đến trang đang ghi dở, chặn cây viết bic vào. Rồi với giọng đầy nghiêm trọng, Kha nói:


- Tôi rất tiếc phải nói lại cho đồng chí nghe lời phàn nàn của đồng chí giám đốc. Sáng nay, đồng chí giám đốc xuống phòng ta. Đồng chí ấy rất bực mình vì phòng ta không đọc báo buổi sáng. Phòng có hai chục người thì vắng mặt hết mười hai người. Tất nhiên, ai cũng có công tác, nên không có mặt. Nhưng đồng chí giám đốc nói, công tác gì thì đầu giờ cũng phải có mặt ở phòng, đọc báo, họp bàn, thông báo xong công việc trong ngày rồi ai đi đâu hãy đi. - Giọng Kha trầm hẳn xuống - Đồng chí giám đốc hỏi tôi: “Đồng chí Hiếu đi đâu?”. Tôi trả lời, đồng chí ra lô cả tuần nay. “Làm gì?”. Tôi nói: chống cháy! Thế là giám đốc quát ầm lên: “Ai khiến anh ta? Kỹ sư mà đi dập lửa à. Bộ ở phòng này hết việc rồi sao?”. Và giám đốc lệnh cho tôi phải triệu đồng chí về gấp.


Hiếu kiên nhẫn ngồi nghe, anh ôn tồn:


- Tôi nhận khuyết điểm, nếu coi việc đó là đáng khiển trách. Bây giờ tôi đã có mặt. Xin anh cho chỉ thị!


Kha cười phá lên, giọng cười rất sân khấu:


- Ồ, không! ha ha ha! Tôi đâu có chỉ thị gì cho đồng chí. Nếu có thì cũng chỉ là lặp lại lệnh của giám đốc thôi. Ha ha ha!


Hiếu nhận ra sự mỉa mai, sự đắc ý của Kha. Mặc! Anh không chấp nhặt làm gì. Thấy Hiếu không nói gì, hút xong điếu thuốc cháy đến đầu ngón tay, Kha tiếp:


- À, quên khuấy đi mất. Tôi đã đọc tờ trình của đồng chí và tôi đã gửi cho đồng chí giám đốc. Nói chung những lo lắng, những đề xuất của đồng chí, ban giám đốc đã tính đến từ trước. Riêng tôi, tôi cũng phát biểu về những vấn đề đó từ tháng trước kia...


Hiếu hiểu rằng, khi nói như vậy, anh ta đã phủ nhận sạch trơn những gì mình đề xuất. Anh nhớ lại, anh đã mất một tuần liền tổng hợp tình hình ở các đội sản xuất, vận chuyển cơ giới, cơ khí, chế biến và các phòng tài vụ, lao động tiền lương, phòng tổ chức, phòng đời sống. Tổng hợp tình hình hiện tại, căn cứ vào những vấn đề đặt ra từ năm trước và nhìn thấu tới mục tiêu của năm kế hoạch một ngàn chín trăm bảy mươi bảy và năm năm sau đó, Hiếu đã phân tích một cách biện chứng những mặt mạnh, mặt yếu của nông trường Hòa Bình. Khi mổ xẻ vấn đề, với tư duy khoa học của một người nắm thực tế từ trong cốt lõi, Hiếu nêu thẳng nguyên nhân dẫn đến hậu quả bi đát của năm bảy mươi sáu. Đây là năm sản lượng cao su khai thác được ít nhất trong vòng mười năm trở lại đây.


Vào thời kỳ cực thịnh của đồn điền Hòa Bình, với mười ngàn héc ta cao su đang khai thác, mỗi năm, đạt sản lượng bình quân mười một ngàn tấn mủ khô. Đến cuối năm sáu mươi lăm, Mỹ đưa quân lên đây, thực hiện cuộc chiến tranh hủy diệt nhằm quét sạch quân giải phóng và cơ quan đầu não của Việt Cộng. Rừng cao su bị hủy diệt gần hết. Sản lượng năm bảy mươi tư còn năm ngàn tấn. Năm bảy sáu, Hòa Bình chỉ thu được ba ngàn tấn mủ.


Theo sự phân tích của Hiếu, lý do chủ yếu dẫn đến tình trạng sụt sản lượng là vườn cây không được chăm sóc đúng qui trình kỹ thuật, cạo mủ để da cát, chạm xương, vắt kiệt cây, làm cây bị thương tổn nặng nề, năng suất giảm nhanh. Người ta cạo mủ bất cần nghĩ đến cây. Cây cũng như người, không chăm lo cho cây, nuôi dưỡng cây, đối xử với cây tàn tệ, thì làm sao cây khỏe mạnh, vui tươi, làm sao cây không kiệt sức? Đây là vấn đề hết sức nguy hiểm, đẩy nhanh quá trình lão hóa của vườn cây. Số cây bị bỏ không cạo ngày càng nhiều. Vì đời sống vật chất một phần, phần chủ yếu do tâm trạng bất mãn với việc ban giám đốc cho nghỉ hàng loạt công nhân. Kỹ thuật cạo mủ bị vi phạm nghiêm trọng làm cho cây bị thương nặng, có nhiều cây còn trẻ mà kiệt mủ. Hậu quả là vườn cây bị hoang hóa. Cỏ Mỹ cao lút đầu là mồi lửa sẵn sàng hủy diệt vườn cây trong mùa khô.


Bản kiến nghị của Hiếu nhìn thẳng hiện thực, lôi tuột ra những nguyên nhân cốt lõi nhất thuộc về kỹ thuật chăm sóc, khai thác cao su. Khi đề xuất biện pháp khắc phục, kỹ sư Hiếu đã chứng tỏ năng lực tổ chức quản lý của mình. Anh không chỉ là một nhà khoa học đơn thuần. Những năm đi tu nghiệp ở Srilanka và Côte d’Ivoire, anh đã áp dụng một phương thức quản lý mới nhằm liên hoàn quá trình khai thác – chế biến mủ và tiêu thụ sản phẩm. Một chuyên gia về cao su của nước chủ nhà đã tặng anh danh hiệu Wonderful Manager3.


Những đề xuất của kỹ sư Hiếu tập trung vào vấn đề con người. Hiếu viết:


“Đề nghị Ban giám đốc chú trọng đến năng lực của người thừa hành, đời sống vật chất và tâm trạng của họ. Có như vậy, công việc được giao mới được tiến hành tốt.


- Phân bón cho cao su bị ăn cắp từ trong kho. Đến khi rải ra lô cao su rồi vẫn bị hốt. Người ta hốt phân trước khi máy cày tới lật đất.


- Công nhân dọn cỏ phúc bồn thì hầu như bỏ việc ngồi chơi, không ai kiểm tra đôn đốc. Công nhân thiếu lương thực nhưng ban giám đốc lại cấm không cho trồng tỉa xen canh vào lô cao su. Nếu cho phép công nhân được xen canh đậu xanh, đậu nành vào những lô cao su non thì một công đôi việc, sẽ giải quyết được nạn đói, và quan trọng hơn, sẽ không còn cỏ Mỹ trong lô cao su nữa!


- Tình trạng vi phạm kỹ thuật cạo mủ, cũng như việc bỏ cây không cạo, ngày càng trầm trọng. Điều này trước giải phóng rất ít khi xảy ra vì hai lẽ: a- Khâu kiểm tra rất chặt. b- Chủ đồn điền thưởng rất hậu và kịp thời cho những người cạo mủ giỏi, đúng kỹ thuật, có năng suất cao. Ngược lại, phạt rất nặng đối với kẻ bỏ phần cây, cạo phạm qui v.v...


- Tình trạng thiếu chén, thiếu kiềng, thiếu thùng trong quí tư - thời vụ cao điểm cạo mủ - là không thể chấp nhận. Xin hỏi: Sinh ra phòng vật tư để làm gì mà không lo nổi chén? Xưởng cơ khí vì sao không sản xuất kiềng, dao cạo, thùng? Rõ ràng đây là vấn đề năng lực, đời sống và tâm trạng con người. Tất cả đều có thể khắc phục được! Những khó khăn mà nông trường gặp phải xuất phát từ chủ quan, chứ không phải hoàn toàn do cơ chế, do khách quan, do trên dội xuống. Tất cả đều có thể khắc phục được”.


Hiếu viết tiếp: “Điều đáng tiếc là mọi người ở các phòng ban rất thản nhiên. Không ai tỏ ra sốt ruột trước thực trạng hiện tại. Dường như người ta thấy mình không lợi, không thiệt gì cho nên cố ý làm ngơ. Cuối năm vừa qua, giám đốc đã xin Tổng cục cho điều chỉnh (rút xuống) kế hoạch. Thế là huề! Nếu không mau chóng chấm dứt tình trạng này thì năm nay, sản lượng sẽ còn sụt xuống thấp hơn nữa, và mọi sự cứ theo đà ấy mà trượt dốc...”.


Trước khi gửi tới ban giám đốc văn bản chính thức những ý kiến của mình, Hiếu đã gặp bố. Nhưng giống như mọi lần, cuộc nói chuyện của hai bố con không kéo dài được đến phút thứ mười. Giám đốc Bình nổi nóng, la lên:


- Anh không phải dạy khôn tôi! Tôi biết anh chỉ là cái loa phát ngôn cho bác anh! Tôi đâu có lạ gì. Những kẻ bất mãn vì hết thời! Vẽ chuyện!


Hiếu giận sôi lên nhưng ráng hết sức để giữ bình tĩnh. Anh nói với bố mình những lời tự đáy lòng:


- Con xin bố hãy hiểu con!


- Hiểu quá, rành quá đi chứ! Tôi sanh ra anh mà không hiểu anh à!


- Không. Đúng là bố không hiểu con. Xin lỗi bố, nếu con lỡ quá lời! Bố ngộ nhận nhiều quá! Người cha mà không hiểu con mình thì thật là bi kịch! Người cha mà không hiểu con mình thì làm sao hiểu được những người khác? Làm sao bố lãnh đạo họ. Làm sao...


Hiếu nuốt nước mắt, không để trào ra. Lần đầu tiên anh hết hy vọng ở cha mình. Những lời về sau của Hiếu, anh nói bằng giọng nghẹn ngào.


- Thôi im đi. Đủ rồi! - Đập tay xuống mặt bàn lót kiếng dầy năm ly, giám đốc Bình chấm dứt cuộc đối thoại.


*


* *


Thao thức suốt đêm, sáng nay Hiếu bỏ ăn, mang cần câu ra bờ sông. Ông Định đến bên:


- Ba khen anh và rất tự hào về anh, Hiếu ạ. Qua tờ trình của anh, chứng tỏ anh rất xứng đáng với ba. Nhưng ba rất tiếc, tiếc vì anh thẳng quá. Ở đời, già néo đứt dây; ngược lại, lạt mềm buộc chặt. Anh thẳng quá. Thẳng thì nói được lòng mình, nhưng nói chỉ để cho hả chứ không dẫn đến đâu, không được việc. Cần kiên nhẫn. Phải nói bằng cả tấm lòng của đứa con với bố mình chứ. Anh đã “đánh” vào gót chân Asin, vào điểm yếu nhất của bố anh. Anh hiểu ý ba chứ?


Mặt sông lặng lờ, không một gợn sóng. Buổi sáng thanh bình của một bến sông thượng nguồn chỉ có màu xanh của rừng, màu xanh của nước sông mùa khô và màu xanh của trời từ trên cao tít in dưới đáy sông. Thảng hoặc mới có vài chiếc đò ngang qua lại hai bến nước. Hiếu buông mồi câu, nắm chắc cần câu nghe ông Định.


- Không phải bố anh không nhận ra những điều rất chí lý trong tờ trình của anh. Nhưng đời nào chú ấy công nhận! Nếu công nhận thì hóa ra chú ấy phải thú nhận là mình sai à. Sai từ đầu, sai trên mọi phương diện! Anh đã đi từ những vấn đề kỹ thuật để qui vào con người, rồi lại từ vấn đề then chốt là con người mà đề xuất những biện pháp kỹ thuật, biện pháp quản lý. Ba rất vui, anh biết không?


- Dạ. Cám ơn ba. Nhưng...


- Đất nước mình phải có những giám đốc hiểu biết, hiểu được những con người có năng lực, biết trọng dụng họ, tôn vinh họ; phải nhạy cảm để hiểu chân tướng những kẻ bất tài, cơ hội, ma mãnh, thủ đoạn… để không mắc lừa, không ngộ nhận. Những người có tài, có tâm mà không được tôn vinh, trọng dụng thì đất nước sẽ suy tàn! Anh hãy tin ba đi. Thể nào anh cũng được trọng dụng mà. Qui luật của cuộc đời là thế. Nếu những người hiểu biết mà không được tin dùng, thì xã hội làm sao phát triển được từ buổi hoang sơ mông muội tới ngày nay! Ganh ghét, đố kỵ, độc đoán, quan liêu, tha hóa… chỉ là cái nhất thời. Trong xã hội văn minh mà chúng ta đang phấn đấu đạt tới, những thói xấu ấy không có chỗ đứng. Những thói xấu ấy là ánh phản của những tâm hồn nghèo nàn, trí tuệ nghèo nàn. Cuộc sống có qui luật tự đào thải. Anh hiểu ba chứ.


- Dạ, con hiểu, thưa ba.


Chiếc phao nhấp nháy hai lần rồi lặn mất hút. Hiếu cầm chiếc cần câu giật lên. Một con cá lớn hơn bàn tay, vẩy óng ánh bạc.


- A! Cá bự quá, ba à!


- Chà chà! Đưa đây ba gỡ cho. Lát nữa về, bé Loan lại hết lời ca ngợi anh cho mà coi. Món cá sốt trưa nay ngon phải biết! Ba sẽ khui chai rượu, anh chịu không?


- Chai Hennessy X.O. của chú Mười viện trưởng IRCV gửi biếu ba hôm trước, phải không ba?


- Ừ! Tặng rượu nhau, tuổi già coi là sự quý trọng nhau nhất. Còn gì thú vị bằng mỗi khi nâng chén rượu trên tay mà tâm tưởng ta sống lại hình ảnh của một thời bạn bè chung lối, chung hướng, chung niềm say mê. Mười Lương là một trong số những người cùng thế hệ với bác Hải, với ba. Thuở ba bị cai, bị su, sếp chửi mắng đánh đập, ba cắn răng chịu đựng, vì ba lấy cái chí của mình ra làm đích. Phải học, học cho trọn cái nghề này, rồi thế nào cũng có ngày nghề nó giúp mình vượt qua bĩ cực. Thuở đó, anh Mười Lương, bây giờ là viện trưởng, anh Tám ở nông trường Thắng lợi, anh Út Hoàng, giám đốc nông trường Tân Tiến bây giờ... Ngay ở Hòa Bình mình đây, còn anh Bảy Trạch, anh Sáu Son nữa. Đó là những người có niềm say mê cao su, coi đó là lẽ sống của mình. Một lần IRCI4 tổ chức cuộc họp tất niên. Ba nhớ năm ấy là năm năm mươi hai. Ba được mời đến. Những anh mà ba vừa kể tên cũng có mặt. Ông viện trưởng - một nhà bác học về cao su thực thụ - trong tiệc rượu hỏi ba:


- Ông coi đâu là cái đích cao nhất trong nghề này?


Ba trả lời ngay, không ngại gì. Ba đã được nể trọng, có gì mà phải sợ:


- Có người coi vinh quang và tiền bạc là đích. Còn tôi, tôi nghĩ đến dân tộc Việt Nam của tôi, đất nước Việt Nam của tôi. Độc lập, tự do, hòa bình, thống nhất, giàu mạnh. Cái đích của tôi là ở đó!


- Ồ! Tôi khen ông đó ông Định ạ. Ông là người không biết sợ là gì.


- Ông nhầm. Tôi có sợ chứ!


- Ông sợ gì?


- Tôi sợ nhất là bán rẻ nhân cách của mình!


- À! Những người Á Đông các ông thâm thúy thật!


Sau buổi tiệc ấy, anh Mười Lương đã tìm gặp ba, ba với bác ấy thân nhau từ đó. Bác ấy tập kết rồi về tiếp quản IRCV. Điều hay nhất mà Mười Lương làm được là điều gì, anh biết không?


- Giữ lại những gì là thành tựu, là ưu tú của quá khứ và phát triển nó lên theo quĩ đạo của thời kỳ mới. Thưa ba, phải vậy không ạ?


- Phải. Nói gọn hơn, điều hay nhất là thu phục được nhân tâm, gây lại niềm tin cho mọi người. Khi đã đạt được điều ấy, tức đã đạt tới đỉnh cao nhất đạo làm người!


Ông Định ngừng lời. Đôi mắt ông chăm chú nhìn như muốn thấu tới đáy sông. Đáy sông, đáy biển còn có thể tỏ tường chứ lòng người thì khôn lường. Ông rất buồn vì Tư Bình. Một năm qua, tóc ông bạc thêm nhiều vì chuyện ấy. Lẽ ra ông phải hồi xuân, trẻ lại cùng rừng cây mới phải. Ai dè...


Buồn vì nghĩa tình dứt đoạn, ông Định nhớ tới ông Hải, người anh thực sự kính trọng của ông. Đã bao nhiêu lần ông kể cho Hiếu nghe cái chết dũng cảm của ông Hải.


Ngày ấy, Hiếu còn đang du học ở Paris...


Sau Tết Mậu Thân năm một ngàn chín trăm sáu mươi tám, Mỹ ngụy phản kích dữ dội. Trong đời ông Định, đây là lần đầu tiên ông tận mắt chứng kiến sự ác liệt cực điểm, tàn khốc cực điểm của chiến tranh. Ngày nào kẻ thù cũng giết hàng chục người dân thường đã tiếp tay cho quân giải phóng.


Sau khi quét sạch lực lượng Việt Cộng ra khỏi thị trấn Hòa Bình như lời của tên sư trưởng sư đoàn Hai mươi lăm, Mỹ biến Hòa Bình thành tổng hành dinh của hai sư đoàn thiện chiến nhất: sư đoàn Một Anh Cả đỏ và sư đoàn Hai mươi lăm. Lực lượng thường trực của chúng tại vùng này gồm toàn bộ lữ đoàn Hai của sư đoàn Anh Cả đỏ và Lữ đoàn Ba thuộc sư đoàn Hai mươi lăm. Sân bay Hòa Bình được xây dựng lớn gấp nhiều lần sân bay thời Pháp, chứa hàng trăm máy bay chiến đấu, ném bom, vận tải và trinh sát. Tất cả những đỉnh núi cao xung quanh khu vực Hòa Bình bị Mỹ đóng chốt. Chúng xây dựng một hệ thống rađa vào loại tối tân nhất trên đỉnh núi Thần, khống chế toàn bộ khu vực Tây Bắc Sài Gòn giáp giới miền cao nguyên Trung Phần.


Giặc Mỹ giết người chưa đủ, độc ác hơn, chúng tàn sát cả rừng cây. Bốn ngàn héc ta cao su bị chúng rải bom xăng và chất độc hóa học thiêu trụi. Từ trên cao nhìn xuống, cả một miền đất bạt ngàn trắng như sa mạc, ken dày hố bom như những hố mới đào để trồng cao su. Sau khi lực lượng vũ trang của ta phải rút khỏi thị trấn, Mỹ ngụy sục sạo khắp nơi tìm bắt cho được bí thư huyện ủy Đoàn Văn Hải và các cán bộ lãnh đạo chủ chốt của huyện. Trong một căn hầm bí mật ở giữa lô cao su số mười tám, Đoàn Văn Hải họp bàn với các đồng chí trong huyện ủy. Ông quyết định: Để bảo tồn lực lượng, tất cả phải rút về căn cứ, cách Hòa Bình ba chục kilômét. Riêng ông và con trai là Đoàn Anh Hùng ở lại, bám trụ, chỉ đạo phong trào. Hai Hùng làm nhiệm vụ liên lạc giữa bí thư huyện ủy với cấp trên. Một ngày sau khi quyết định ấy được thi hành, thì một tiểu đoàn thuộc sư đoàn Anh Cả đỏ bất ngờ chụp quân xuống lô cao su số mười tám. Hai cha con Hải và Hùng nằm dưới hầm bí mật, lặng lẽ theo dõi tình hình địch. Tưởng rằng chúng càn quét xong rồi đến chiều sẽ rút. Nào ngờ, chúng đóng chốt tại lô mười tám. Tiếng xích xe tăng lăn rầm rầm rung chuyển đất rừng. Tiếng bọn lính Mỹ hò hét xây dựng công sự. Một chiếc xe tăng dừng lại ngay trên nóc hầm. Rất may là lỗ thông hơi chưa bị bít mất. Nằm dưới căn hầm rất kiên cố do chính tay ông Hải và ông Định xây dựng từ những năm đen tối nhất của thời kỳ luật 10/59, bí thư huyện ủy Đoàn Văn Hải bàn với con trai kế thoát khỏi nơi này. Lương ăn trong hầm dự trữ đủ cho bốn người ăn cả tháng trời, nhưng hai ngày trước, ông Hải đã đưa cả cho các đồng chí của mình mang theo. Băng rừng mà đi trong đêm tối, trong vòng vây máu lửa của hàng chục ngàn tên Mỹ đâu phải một vài ngày mà tới được căn cứ tỉnh ủy. Ông bắt mọi người phải mang hết lương ăn đi. Ông và Hùng ở lại đã có ông Định và bà con Hòa Bình tiếp tế. Lúc đó, ông không tính đến tình hình xấu nhất như thế này. Việc Mỹ đóng chốt nằm ngoài dự kiến của ông.


Một ngày, hai ngày... Hai cha con đói và khát đến mức không chịu nổi. Những gì đang nung nấu trong đầu ông Hải? Suy nghĩ của ông hướng về phong trào của huyện. Ông và con ông phải sống, phải thoát khỏi vòng vây của giặc để trở về với phong trào. Bà con đang ngóng chờ. Vợ ông, giờ này đang ở một căn hầm bí mật trong thị trấn đang chờ. Người bạn trung hiếu của ông, Ba Định, hẳn đang lo lắng cực độ vì ông và Hùng. Hải nhìn Hùng. Gương mặt rắn rỏi của chàng trai mới mười tám tuổi cũng đang hướng về phía cha, đôi mắt long lanh, tin tưởng. Đồng hồ chỉ một giờ sáng.


- Con bật nắp hầm thoát khỏi đây. Đêm khuya rồi đó con. - Giọng người cha ấm áp tràn đầy yêu thương nhưng dứt khoát như mệnh lệnh.


- Còn ba?


- Không thể thoát được cả hai. Không thể mạo hiểm. Ba yểm trợ cho con!


- Không! Không đời nào con để ba ở lại. Ba là trụ cột của cả huyện. Con phải bảo vệ ba! Bảo vệ ba tức là bảo vệ cách mạng! Con có thể chết chứ không để ba hy sinh!


- Con phải nghe ba!


- Không!


- Đồng chí đại đội trưởng Đoàn Anh Hùng! Hãy chấp hành lệnh của bí thư huyện ủy! - Chỉ còn cách ra lệnh, Hải nghĩ thế. Không còn cách nào khác.


- Ba ơi! - Hùng ôm lấy ba, nước mắt trào ra.


Căn hầm lặng đi trong vài phút. Bí thư Hải ôm chặt con trai trong lòng. Ông cắn chặt răng vào bắp tay phải của con. Hùng để yên cho cha cắn. Đến khi ông Hải thấy mằn mặn trong miệng mình, mới rời khỏi con trai. Ông nuốt vào trong người một chút máu đỏ tươi của con trai mình. Giọng ông tỉnh khô:


- Đồng chí Hùng! Chấp hành lệnh đi! Mục tiêu cao nhất là phải sống, phải thoát khỏi vòng vây. Đồng chí sống nghia là tôi còn sống! Sau khi lên mặt đất, nhớ bò thật lẹ làng để không lộ.


Hải mở nắp chiếc túi vải dù, lấy ra một tấm ảnh hai vợ chồng Tư Bình chụp trước ngày Bình đi tập kết đưa cho Hùng. Ông coi lại những tài liệu mật một lần nữa, rồi cho vào đốt trong cái hỏa lò đặc biệt không để cho khói bay lên. Ông chỉ giữ lại và cho vào túi áo ngực của mình tấm ảnh lãnh tụ, lá cờ đỏ sao vàng cỡ nhỏ và tấm ảnh của vợ ông.


- Không nghĩ gì nữa! Không nói gì nữa! - Ông tự nói nho nhỏ như vậy - Phải nghĩ tới những người đang chờ mình... Hùng con, hãy sống xứng đáng với Ba!


- Dạ.


- Con là một đứa con ngoan! Làm theo lời ba đi. Ba đặt tên cho con Anh Hùng là ba kỳ vọng ở con rất nhiều. Nhớ nghe con!


Ông đẩy con về phía cửa lên mặt đất, mắt nhìn thẳng vào mắt con. Ánh mắt đầy thương yêu, tin cậy, vừa nghiêm khắc. Ánh mắt như rực lửa. Có lẽ, suốt đời, không khi nào Hùng quên được ánh mắt của cha mình.


Hai giờ sáng. Hùng dắt thêm vào lưng quần mấy trái lựu đạn, bật chốt an toàn khẩu AK rồi lẹ làng leo lên.


Vừa nhô lên khỏi mặt đất, anh phải nhắm mắt lại. Đèn pha sáng rực, như ban ngày. Một lúc sau anh mới quen mắt được. Có tiếng nói ấm áp vẳng lên: “Lên đi con!”. Hùng bò lên khỏi mặt đất. Anh trườn rất thành thạo. Đất đỏ mịn êm dưới bụng anh. Từ làn da của mình, anh cảm nhận được đôi mắt cha anh đang dõi theo...


Nhưng không thoát được rồi. Hùng vừa bò ra khỏi gầm xe tăng được hai ba mét thì một tên Mỹ phát hiện ra anh. Nó vội vàng la lớn:


- Vixi! 5


Súng nổ.


Hùng nhả đạn về phía tên Mỹ. Nó gục xuống. Anh vùng dậy chạy như bay về hướng bắc của lô mười tám. Đạn giặc đan chéo theo anh. Đã có nhiều viên găm vào người. Hùng vẫn chạy. Và anh ra khỏi tầm súng giặc. Trong khi đó, từ dưới lòng đất, ông Hải nhô lên liệng cả chùm lựu đạn vào gầm xe tăng. Bọn Mỹ tụ lại quanh chiếc xe tăng bị lựu đạn làm tung xích khói bay mù mịt. Biết là trong hầm còn người, nhưng hết khả năng chống cự, chúng dùng một chiếc xe tăng khác kéo chiếc xe tăng bị đứt xích ra, rồi cho một chiếc xe tăng khác đè lên nắp hầm. Chiếc xe tăng Mỹ quay tại chỗ. Một vòng, hai vòng, bảy vòng, mười vòng... Mặt đất bị nén xuống, tạo thành vùng trũng. Đến khi chiếc tăng lún sâu một mét so với mặt đất, nó mới ngừng quay để vọt lên. Bọn Mỹ cười hô hố trước trò chơi mới phát hiện của tên chỉ huy. Hứng chí, tên lái xe tăng còn chà tới, chà lui hai ba bận nữa, tạo thành dấu chữ thập mà tâm của chữ thập là nắp hầm.


Hai ngày sau bọn Mỹ rút. Nhưng số phận của chiến đoàn cơ giới Mỹ đã được định đoạt. Hai Hùng đã đẫn đại đội của mình về kịp thời chặn diệt đoàn xe. Bốn chiếc xe tăng bốc cháy, hai mươi tám tên Mỹ tan xác.


Người ta đào bới và tìm thấy xác đồng chí bí thư huyện ủy bị ép nát, dán chặt dưới lòng đất. Ở dưới ngực ông là cái túi vải dù có lá cờ Tổ quốc và ảnh Bác Hồ thấm đẫm máu.


Năm bảy mươi, kỹ sư Hiếu về nước thì ông Hải không còn nữa. Hai Hùng lúc này là huyện đội trưởng kiêm phó bí thư huyện ủy. Căn hầm bí mật dưới gầm giường ông Định là nơi làm việc của Hùng. Hùng nhỏ hơn Hiếu hai tuổi. Những lúc an toàn nhất, Hiếu và Hùng mới có dịp gặp gỡ, chuyện trò với nhau. Tất cả những việc Hai Hùng giao phó, ông Định và kỹ sư Hiếu luôn làm trót lọt. Ngay từ ngày đó, có một điều mà mỗi khi gặp nhau, Hùng lại nhắc Hiếu: Tìm mọi cách phát triển vườn cây mới, càng nhiều càng tốt, bảo vệ vườn cây hiện có, mở rộng cơ xưởng chế biến... Cách mạng sắp tới đích rồi. Thế nào cũng đến ngày cả rừng cao su thuộc về ta.


Nhớ lại chuyện cũ, Hiếu đi tới một quyết định. Anh bàn với ông Định:


- Thưa ba, con tính gặp Hai Hùng để nói chuyện về bố con.


- Đúng rồi! Mời Hai Hùng tới đây! Phải rồi!


*


* *


Tiến độ khai hoang để trồng mới trong năm bảy mưới chín, đối với nông trường Hòa Bình quá trầy trật. Tổng cục có riêng một công ty chuyên khai hoang để trồng cao su, nhưng vào thời điểm này đang tập trung khai phá xây dựng một nông trường mới. Và thực chất, hoạt động của công ty khai hoang của Tổng cục cũng rất ì ạch. Sáu trăm xe máy, thiết bị mới nhập về thất thoát, hư hỏng dần. Xăng dầu bị rò rỉ ra thị trường bên ngoài. Cả năm bảy mươi sáu, công ty chỉ khai phá được ba trăm héc ta, trong khi chỉ một đội khai hoang cơ giới của công ty khai hoang cơ giới phía Nam cũng khai phá được sáu trăm héc ta đất đưa vào sản xuất. Ngay trên địa bàn huyện Hòa Bình, một đội thầu tư nhân chỉ có sáu máy ủi cũng khai hoang được hai trăm mẫu. Kế hoạch khai hoang trồng mới năm bảy mươi sáu của nông trường cao su Hòa Bình không thực hiện được, dồn sang năm nay, cộng cả thảy là ba trăm héc ta. Mùa khô gần hết mà xe máy khai hoang không thuê được. Giám đốc Bình chạy đôn chạy đáo lên Tổng cục, được trả lời là nông trường phải tự tìm kiếm, thuê bao phương tiện. Lực lượng khai hoang cơ giới của Tổng cục không kham nổi. Bình bất lực, đành phải trông vào chiếc máy ủi Komatsu duy nhất của nông trường.


Chỉ còn hai tuần nữa là mưa xuống, thế mà nông trường Hòa Bình mới khai phá được sáu chục héc ta. Trong khi đó, nhờ chủ động lo liệu từ trước, các nông trường trong ngành như nông trường Tân Tiến đã hoàn thành kế hoạch khai hoang làm đất để trồng mới.


Kỹ sư Hiếu đã nhiều lần đề xuất với giám đốc về việc hợp đồng lao động bên ngoài vào khai hoang thủ công kết hợp với phương tiện cơ giới hiện có. Thế nhưng ý kiến đó bị bác bỏ. Lý do là không có tiền và gạo trả công cho người ta. Tiền lương và lương thực cung cấp cho số công nhân trong biên chế còn chưa đủ, chưa kịp nữa là…


Suốt ngày ông Định tha thẩn trong vườn ươm với các học trò của ông. Đối với mọi người, Ba Định là người thầy về cao su, ông đối xử với họ như một người cha, người chú vô cùng đôn hậu. Tuổi ông đã cao, sống chết mấy hồi, ông Định nghĩ thế. Còn sống ngày nào, ông tận tâm chỉ dạy cho mấy em mấy cháu cái nghề, cái mẹo trồng cao su. Tuần nào ông cũng chọn một ngày ra vườn ươm chăm sóc cùng mọi người ở đội kỹ thuật ươm - lai tháp. Siêng năng, cần mẫn, câu chuyện của ông dù trong lúc đang làm việc hay lúc giải lao, đều là những bài học vô cùng thiết thực cho những công nhân trẻ. Cả đội vườn ươm do kỹ sư Hiếu phụ trách có hai chục người. Loan làm tổ trưởng một tổ, công việc ươm cây, lai tháp cao su cần những bàn tay con gái hơn. Khéo léo, chính xác và tỉ mỉ - Đó là những đức tính mà cây cao su non đòi hỏi ở con người.


- Ngày trước, - ông Ba Định kể với lớp thợ trẻ - người Pháp họ trồng mỗi năm khoảng từ bốn đến năm trăm mẫu. Nhưng công tác chuẩn bị của họ thực sự từ ba năm trước đó. Ngày trước, mình làm thuê cho chủ mà vườn cây non đều tăm tắp, trồng cây nào sống cây ấy là vì sao? Chẳng có gì lạ cả. Cái gì cũng có giá của nó. Đầu tư đầy đủ thì hiệu quả tốt. Mỗi héc ta vườn ươm hồi đó, quy ra giá đồng bạc bây giờ, tốn kém gấp chục lần so với một mẫu vườn ươm mà chúng ta đang làm. Có đồn điền còn cẩn thận hơn, tháp một lúc ba cây, chờ cho lớn lên, cây nào đẹp nhất giữ lại, còn bỏ hai cây kia đi. Nhờ thế, mỗi phần cây người ta trồng theo kích thước ba nhân sáu6 là đều tăm tắp năm trăm năm mươi lăm cây sống, đẹp như tranh vẽ.


- Hồi đó, người ta lựa giống kỹ lắm, phải không ba? - Loan nhỏ nhẹ hỏi.


- Chứ sao. Biện pháp kỹ thuật bao giờ cũng đứng đầu trong mọi công việc. Người ta không ngừng du nhập giống mới từ ngoại quốc vào và lựa lấy giống ưu việt nhất. Càng về sau này, giống mới nhiều hơn và cho năng suất cao hơn. - Ba Định nhìn vào gương mặt của cả đội - Các cháu có ai rành về các loại cao su chưa? Nhìn lá cây, có nhận ra giống không?


- Dạ, chưa ạ. Chú Ba kể cho tụi con nghe đi.


Lịch sử phát triển cây cao su ở Việt Nam bắt đầu từ năm một ngàn tám trăm chín mươi bảy, đến năm nay vừa đúng tám mươi năm rồi, các cháu à. Trong tám chục năm ấy, thực dân Pháp đã hút được biết bao nhiêu vàng trắng về nước họ. Vàng trắng kết tinh từ máu đỏ của công nhân Việt Nam và đất đỏ bazan này. Chuyện đó thì mấy em mấy cháu rõ rồi. Giờ để tôi kể sơ sơ cho mấy em mấy cháu nghe về các loại giống cao su. Có một điều chắc chắn mà mấy chục năm trước, khi đi tham quan ở Srilanka và Côte d’Ivoire tôi đã được nghe, Tổ chức cao su thiên nhiên thế giới kết luận rằng: Bảy vạn hạt cao su đầu tiên do ông Henry Wickham mang về ngày mười bốn tháng sáu năm một ngàn tám trăm bảy mươi sáu lấy ở khu rừng cao su mà ông được đặt chân tới chưa phải là giống có năng suất cao nhất. Đó là những hạt cao su nhặt được ở vùng rừng xung quanh thành phố Santarem, ngã ba sông Tapajos, đổ vào sông Amadôn. Do phương tiện đi lại khó khăn, bị nước chủ nhà cấm, do khí hậu, phong thổ lạ lẫm và do tập tục của thổ dân Braxin lúc đó, chắc chắn rằng Wickham chưa thể lựa được những cây cao su giống tốt nhất mà lấy hạt. Vậy thì những cây cao su hiện nay trên thế giới đều là cháu chắt của bảy vạn hạt ban đầu, chưa phải là cây có giống tốt nhất. Tuy nhiên, hơn một thế kỷ qua, công sức và trí tuệ con người đã lai tạo được nhiều giống cao su có năng suất ngày một cao hơn. Ở Việt Nam, từ những năm bốn mươi lại đây, việc trồng cao su được tính toán rất kỹ về giống, đa số trồng giống lai ghép chứ không trồng giống thực sinh nữa. Giống PB-86 mà mấy cháu thấy, vào mùa trút lá, rừng cây đỏ lá cùng một lượt rồi rụng sạch trong một đêm. Giống này gốc ở Prang-Besar thuộc Malaysia, lai tạo từ năm một ngàn chín trăm mười. PB-86 được du nhập vào nước ta từ năm bốn mươi sáu đến sáu mươi tư. Ở Campuchia cũng trồng toàn giống này.


Còn loại cây đỏ lá kéo dài lê thê và rụng lá từng phần là giống PR107, lai tạo từ năm một ngàn chín trăm hai mươi ba ở Java (Indonesia). Ở Việt Nam ta trồng giống này từ những năm một ngàn chín trăm năm mươi lăm đến năm một ngàn chín trăm sáu mươi bảy. Thế nhưng do năng suất không cao, lại hay sâu bệnh, hai giống này hiện nay đã bị loại. Giống GT1 cùng gốc Java, giống RRIM-600 thì lai ghép từ giống TJIR và PR-86 tại Malaysia, đưa vào nước ta từ năm một chín năm ba. Giống cây này rụng lá chậm, lá đỏ như còn lưu luyến với cành với cội. Giống IRCI-22 có gốc từ Avros-163 lai với Waring-4 tại Viện khảo cứu cao su Việt Nam. Giống này chưa được phổ cập. Giống thứ sáu là PB-235 là con cháu của PB-86 cũng xuất xứ từ Malaysia. Giống PR-255 có gốc từ TJIRN nhân với TR-107, lai tạo thành công ở Java. Cùng bố cùng mẹ với PR-255 còn có PR-261. Những nước ở Đông Nam Á đang trồng đại trà các giống tôi vừa kể. Ở vườn ươm của nông trường Hòa Bình, năm nay các em, các cháu đang tháp mấy loại PB-235, RIM-600, và PR-255 đó…


Kỹ sư Hiếu mang đến cho ông ly nước trà. Ông Định uống nước, châm một điếu thuốc, nói tiếp:


- Nghề làm cao su, tôi nói điều này mấy em mấy cháu cứ nghiệm coi, cái danh dự của mình nó bộc bạch ở cả vườn cây. Khỏi phải nhiều lời hoa mỹ. Khỏi phải khoe tài khoe giỏi. Cứ nhìn vườn cây, ta định được giá trị của người trồng. Bởi thế, điều cần nhất với người trồng là phải hòa chan được cái hồn của mình vào với cái hồn của cây. Cao su nó biết nói đó. Cứ lắng nghe nó mà coi. Ta nghe được tiếng của nó bằng mắt nhìn, bằng da của bàn tay, của ngón tay ta. - Giọng ông Định trầm hẳn xuống, xúc động - Chừng nào tự lòng mình xa vắng với cây, không rung cảm cùng cây, không reo vui hay xót xa cùng cây, thì đừng có làm cao su làm gì cho uổng công vô ích. Tôi đã sống với cao su mấy chục năm nay. Có lẽ, gần trọn thời gian tôi nghĩ về cao su… Ngày nay, cao su là tài sản của đất nước mình, phải làm sao cho nó sinh lợi thật nhanh. Muốn thế, phải nhanh chóng phát triển vườn cây mới. Hai phần ba vườn cây đang khai thác đã già cỗi, kiệt mủ rồi. Nếu không trồng nhanh ngay từ bây giờ thì vài ba năm nữa, làm gì có mủ cao su xuất khẩu nữa! Ở các nước tiên tiến về cao su, người ta đã rút ngắn chu kì khai thác vườn cây từ ba mươi sáu năm xuống còn có hai mươi đến hai mươi lăm năm thôi. Người ta thanh xuân hóa vườn cây, không ngừng trẻ hóa nó. Mà muốn trẻ hóa đời cây, con người phải thật già dặn về kinh nghiệm. Nếu không có nhiều kinh nghiệm, bí quyết, thì nấu cơm còn sống, còn cháy khê nữa là…


- Chú Ba ơi, năm nay nông trường mình lại không đạt kế hoạch trồng mới! Buồn quá, chú à. - Phó giám đốc Chín Trực ra vườn ươm từ hồi nào không ai hay.


Trực người Hóc Môn, năm nay tuy mới bốn mươi lăm tuổi nhưng sức rất yếu. Những vết thương trên cơ thể hành hạ anh. Hầu như tháng nào anh cũng phải đi cấp cứu một lần. Mỗi lần nằm viện sáu bảy ngày. Ban giám đốc có hai người mà Trực như thế nên cuối cùng công việc do Tư Bình bao hết. Ra thăm vườn ươm, lắng nghe câu chuyện của bậc thầy cao su với lớp trẻ, Chín Trực rất mê. Anh đến gần ông già, ngồi xuống cạnh ông .


- Ủa, ra viện rồi hả chú Chín? - Ông Ba hỏi - Lại vết thương ở sau ót chứ gì.


- Dạ. Cũng chẳng có gì quan trọng chú ạ. Cháu bốn lăm rồi! Có chết cũng chẳng tiếc. Cháu chỉ tiếc là… nông trường của mình… ì ạch quá!


- Hà hà… nhận ra được điều ấy, đã là đáng khen rồi. Nhận được rõ thực trạng thì trước sau gì cũng cải thiện được nó.


- Chú Ba tin thế à?


- Tin chứ. Nếu không còn niềm tin thì lão già này sống làm gì?


Đám thợ trẻ tản đi tiếp tục công việc. Còn lại ông Định và Chín Trực. Chín Trực nắm tay ông Định:


- Chú Ba! Cháu biết chú buồn lắm. Cháu còn biết tuy nghỉ việc, nhưng chú Ba vẫn bám sát vườn ươm, vẫn lăn lộn ở ngoài lô phòng chống cháy cùng mọi người, vẫn theo dõi từng bước đi của nông trường. Mọi người càng kính phục chú vì điều ấy.


- Kính phục tôi à? Coi chừng lầm đó. Bởi vì đối với tôi, nếu tôi không làm như vậy thì thà chết còn hơn sống mà không được gần cây, tôi ăn sao nổi, ngủ sao được.


- Dạ, cháu hiểu.


Ba Định hỏi Chín Trực:


- Khi nãy chú nói chú buồn vì kế hoạch trồng mới không đạt?


- Dạ, kế hoạch năm trước dồn lại, cả thảy là ba trăm mẫu, vậy mà chỉ khai hoang được có sáu mươi lăm mẫu! Tệ thật!


- Chú biết vì sao không? - Ông Định nhìn Trực.


- Không có xe máy khai hoang thì bó tay chứ làm chi được!


- Chú là phó giám đốc, là thư ký công đoàn mà… chú không biết gì cả. Tôi nói, chú giận cũng được.


- Kìa, chú Ba cứ dạy, con không tự ái đâu.


- Lòng người là cái hệ trọng nhất! Ngày trước, nhà Trần thối nát, Hồ Quý Ly cướp ngôi, lên cầm triều chính. Giặc phương Bắc kéo tới. Hồ Quý Ly lo sợ, hỏi con trai là tể tướng Hồ Nguyên Trừng: “Liệu có đánh nổi không?”. Nguyên Trừng trả lời: “Tâu bệ hạ. Thần không sợ giặc mạnh, chỉ sợ lòng dân không theo”. Hồ Quý Ly là một nhà cải cách lớn, nhưng sỹ phu không theo, dân không theo… Từ xưa, chưa có một triều đại nào đi ngược lại lòng dân mà hưng thịnh được. Phàm đã làm điều gì trái với lòng người thì thất bại. Chú tính coi, từ ngày Tư Bình về làm giám đốc tới giờ, nông trường Hòa Bình đã làm được việc gì nên hồn chưa?


- Có đấy chứ! Chính qui, hiện đại hóa nông trường! - Giọng Chín Trực mai mỉa - Sáng nào các phòng ban cũng đông đủ người ngồi đọc báo. Tuần nào cũng hai cuộc họp. Ngày nào cũng báo cáo… Tám giờ vàng ngọc được quản lý chặt… đến nỗi ở khu vực văn phòng, ngày trước bác Tư Lé chỉ nấu mỗi ngày một thùng nước sôi; nay, ngày nào bác Tư Lé cũng phải còng lưng bổ củi nấu nước. Ba thùng mới đủ! Tiệm tạp hóa của vợ chồng Năm Thẹo giàu sụ nhờ bán trà!


- Chi vậy?


- Nhiều người ở văn phòng, họp hành nhiều, nói nhiều, phải uống nước trà chứ sao!


- Hà hà… - Ông Định bật cười - Đã lâu không đến văn phòng, tôi không rành cái sự ấy.


- Thành tích nổi nhất của nông trường, ở Tổng cục đã có người tính nêu lên thành điển hình cho các nơi khác học tập, ấy là việc giải quyết cho gần sáu trăm người quá tuổi lao động nghỉ việc. Nhưng… thật đau lòng! Những gia đình liệt sĩ, thương binh, những gia đình chí cốt với cách mạng lần lượt mất việc làm. Lao động làm cao su có nét đặc thù khác hẳn lao động ở các ngành nghề khác. Tại đây, tuổi tác không thành vấn đề, miễn là còn sức khỏe. Trẻ hóa đội ngũ công nhân, theo đúng Luật lao động, đến tuổi hưu thì nghỉ là tất nhiên. Thế nhưng, trong khi chưa có một lớp công nhân trẻ được đào tạo đến nơi đến chốn thì tài sản vô hình, nguồn vốn quý nhất là lớp công nhân già giàu kinh nghiệm…Vậy mà nay những người nhiều kinh nghiệm nhất, am tường cao su nhất không được làm việc nữa…


- Ồ, chú… cũng được đấy nhỉ. Chú nhận ra điều ấy lâu mau? - Ba Định không giấu nổi ngạc nhiên về sự thay đổi trong nhận thức của người đang đối thoại với mình.


- Dạ, rất tiếc là mới đây thôi. Năm ngoái, khi nông trường ta không hoàn thành kế hoạch, anh Tư Bình trình bày với Tổng cục để xin điều chỉnh, cháu vẫn không nhận ra… Nhưng bây giờ thì… chú nói rất chí lý, chú Ba! Lòng người là vấn đề then chốt nhất. Ngày trước, cháu là lính, chỉ huy một trung đội của bộ đội miền. Cháu đâu có biết gì về cao su. Khi hành quân qua rừng cao su, nghe anh em nói nên quấn thêm cỏ hoặc vải bố vào thân cây trước khi cột võng, cháu hỏi rồi mới hay. Thì ra chúng ta… từ trong những ngày máu lửa vẫn biết giữ gìn tài sản của đất nước vì chúng ta tin chắc vào ngày thắng lợi. Vậy mà đến ngày thắng lợi thật sự, tại sao ta lại làm mai một đi lòng tin của quần chúng? Thật là tội lỗi! Cháu đã nhiều lần chất vấn anh Tư. Nhưng không được. Cháu không đủ lý lẽ để đối đáp, còn anh ta thì có dư lý luận để phản bác. Và, quyền lực! Ôi, đôi khi quyền lực làm cho ảnh hoa mắt lên! Cháu có cảm giác như vậy. Ảnh là giám đốc, kiêm bí thư đảng bộ, còn ai dám trái lời nữa!


- Chú Chín Trực! Tôi có nông nổi không, khi cho rằng thật tình, chưa có ai dám nói thẳng, nói thật với giám đốc…


- Dạ, có chứ. Ít ra thì cháu đã nói. Chị Tư Hòa đã nói. Và bà con nữa! Nghe đâu đã có mấy gia đình công nhân, trước kia từng cưu mang anh Tư Bình và chị ấy, họ tức quá, chửi thẳng anh Tư là kẻ vong ơn bội nghĩa!


- Đó không phải là cách tốt nhất để cứu vãn tình hình của nông trường.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Đâu là lời phán xét cuối cùng. Tiểu thuyết của Triệu Xuân. NXB. Hội Nhà văn. Tái bản lần thứ hai, năm 2002.


www.trieuxuan.info


 


 







(1) Chef de division: Sếp phân khu.




2 Chef de division: Sếp phân khu.




3 Wonderful Manager: Nhà quản lý tuyệt vời.




4 Lúc đó chưa đổi thành IRCV.




5 Vixi: Phát âm theo tiếng Anh hai chữ VC, viết tắt của từ Vietnamese Communist.




6 Ba nhân sáu: Cây nọ cách cây kia 3 mét, hàng nọ cách hàng kia 6 mét (3mx6m).




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
xem thêm »