tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21085757
Tiểu thuyết
03.10.2008
Triệu Xuân
Đâu là lời phán xét cuối cùng


Cùng bạn đọc


Dân tộc Việt Nam bước vào công cuộc Đổi mới đã hơn mười năm. Muôn sự đã đổi thay rất nhiều - theo chiều hướng tốt đẹp - so với hơn chục năm trước đó. Trong hoàn cảnh đầy thử thách khắc nghiệt của thời hậu chiến, vấn đề nhìn nhận, đánh giá con người, sử dụng nhân tài… còn nhiều bất cập. Ai cũng biết chính sách chiêu hiền đãi sĩ, khuyến khích tài năng, tạo cơ hội thăng tiến cho người lương thiện có ý nghĩa quyết định cho sự thành bại, thịnh suy của một dân tộc. Khoảng thời gian mười lăm năm từ sau 1975, đất nước phải trải qua muôn vàn thử thách, nhiều cơ hội vuột khỏi tầm tay, kinh tế suy sụp, đời sống khốn khó… Từ trong bối cảnh ấy, có những người tiên phong mở đường, dũng cảm đương đầu với những lề luật  lỗi thời, góp phần thúc đẩy đất nước thực hiện Đổi mới vì mục tiêu Dân giàu, Nước mạnh, Xã hội công bằng văn minh. Không ít những người tiên phong của thời kỳ đó đã chịu mất mát, hy sinh…


Đâu là lời phán xét cuối cùng mượn bối cảnh là miền cao su Đông Nam Bộ sau ngày quốc hữu hóa. Một nông trường cao su (tất nhiên chỉ là hư cấu nghệ thuật, không phải một nơi nào cụ thể)  được Nhà nước tiếp quản, mang tên Hòa Bình. Giám đốc là một cán bộ giàu nhiệt tình cách mạng, nhưng không có tri thức quản lý kinh tế. Nông trường Hòa Bình, sau là Công ty, nhanh chóng lụn bại, công nhân đói, vườn cây kiệt quệ. Những người tài năng, tâm huyết như ông Định và hàng loạt người có tay nghề cao không được trọng dụng. Con trai giám đốc là một kỹ sư trẻ, khuyên nhủ, góp ý với cha nhiều lần nhưng không được lắng nghe. Công nhân nông trường kiến nghị cấp trên thay giám đốc, không được đáp ứng… Đến khi giám đốc bị cách chức, người thay thế chính là con trai ông. Dưới sự lãnh đạo của Hiếu, Công ty Hòa Bình phục hồi và phát triển với tốc độ nhanh, trở thành một doanh nghiệp mạnh. Thế nhưng, vì nhiều lý do, Hiếu bị cản phá quyết liệt, bị thay thế… Đâu là lời phán xét cuối cùng? Tiểu thuyết có kết thúc bỏ ngỏ.


Con người và những mối quan hệ trong xã hội luôn luôn là vấn đề lớn nhất của văn học. Tôi suy ngẫm nhiều về mối quan hệ giữa con người với con người sau chiến tranh, quan hệ cha con, quan hệ giữa hai thế hệ, cả hai đều nồng nàn yêu nước, giàu tâm huyết, nhưng cái cách yêu nước rất khác nhau, bởi nhận thức, tầm hiểu biết của họ khác nhau. Tôi viết cuốn tiểu thuyết này theo lối tân văn, nhằm thể hiện sự nhìn nhận con người khác hẳn với kiểu đánh giá con người một cách cứng nhắc, phiến diện, không nhân văn.


Hiện nay, chúng ta đang tập trung chống tham nhũng, giải quyết những vấn nạn xã hội, làm lành mạnh hóa xã hội, lập trật tự, kỷ cương, phép nước. Thiết nghĩ, chỉ có thực sự phát huy dân chủ, trân trọng, nâng niu nhân tài, tôn trọng và lắng nghe tâm nguyện của con người; mau chóng và kiên quyết loại thải những kẻ giá áo túi cơm, sâu mọt, bất tài, tà tâm… thì xã hội mới yên bình, nước mới giàu, dân mới mạnh. Cuộc sống thôi thúc chúng ta phải nhanh chóng hoàn thiện chu trình giáo dục đào tạo con người. Đất nước đang trên đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đòi hỏi phải đổi mới chính sách cán bộ nhằm quy tụ và phát huy khả năng của những người có tài có tâm, như Bác Hồ đã chủ trương ngay từ những ngày đầu Cách mạng Tháng Tám thành công.


                                                     Triệu Xuân


                         Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 7 - 2002



 



 



 


Phần một


 


Sương mù dày đặc. Lạnh. Cái lạnh lẽo của rừng lúc ba bốn giờ sáng, khởi đầu một ngày mới, đối với người phu cao su thật khủng khiếp. Rét làm hai hàm răng run cầm cập. Rét, đói, kiệt sức. Chứng sốt rét và hàng loạt bệnh tật hiểm nghèo khác thi nhau hành hạ người phu contrat(1) . Những gương mặt xám ngoét, bụng báng, da chì, hối hả lao về hướng nhà điểm. Ai cũng sợ trễ giờ. Sáng nào cũng có người bị đánh chết vì trễ giờ. Sáng nào cũng có ít nhất năm sáu người bị hộc máu vì những cú đạp bằng giày tây của su(2) , của sếp(3) .


Ai cũng sợ đến trễ.


Ai cũng cố lê gót thật nhanh.


Trời còn tối om. Người ta nương theo những khoảng sáng nhờ nhờ mà đi. Những khoảng sáng ấy là đường, nơi không có những tàn cây cao su giao cành. Từng cơn gió rừng làm xao động rừng cây. Những giọt sương đêm giá ngắt rớt xuống đầu người thợ. Dường như cao su cũng run rẩy, nức nở trước nỗi đau khổ, tủi cực của đời người.


Tên sếp làng bận quần soọc, áo ka ki màu xám, thắt dây lưng của lính, to bản, khóa đồng vàng chóe, chân đi giày tây cổ cao, đầu đội mũ bọc vải ka ki, đang hống hách nạt nộ trong nhà điểm:


- Ngày hôm qua, thằng Pha và con Đào cạo phạm tới năm lỗi! Tụi nó bị đánh chết gục tại gốc cây mà nó cạo chạm xương. Các người hãy nhớ lấy mà làm gương.


Im lặng đến rợn người.


Giọng tên sếp lại cất lên:


- Năm hết Tết đến nơi rồi. Các người muốn ăn Tết hay muốn đám tang? Liệu mà bảo nhau. Nghe rõ chưa?


Có tiếng thùng tôn đặt nhè nhẹ xuống nền xi măng nhà điểm. Tên sếp quay ngoắt lại:


- Tại sao giờ này mày mới tới, thằng kia?


Người phu tên Bài, mang thẻ số 1023 khúm núm:


- Dạ, thưa sếp. Đứa con gái của con bị sốt rét cả tuần nay, nó mới mất hồi đêm. Con phải chôn cháu xong mới tới được. Dạ, xin ông sếp thương tình mà tha cho con.


- Con mày chết mặc cha mày! Mày ăn lương của chủ mà tính quịt giờ của chủ à? Thằng bất lương! Mày còn cứng đầu hả?


Nói rồi tên sếp lừ mắt ra hiệu cho tên su nhào tới. Người đàn ông mang thẻ số 1023 lăn lộn trên nền xi măng nhà điểm bởi trận đòn hiểm ác. Máu chảy loang lổ thấm đẫm áo người phu. Anh ngất đi… Mấy người bạn, bất chấp cả luật lệ, lao tới. Nhưng muộn rồi. Anh đã tắt thở.


- Ác quá, chịu sao thấu hả trời?!


Lần đầu tiên, có một tiếng kêu như thế vang lên trong nhà điểm, trước mặt su, sếp, trước mặt hàng trăm con người. Xưa nay, tiếng kêu ấy chỉ rền rĩ ở trong lòng mỗi người, nay đột ngột bật ra! Người kêu lên tiếng ấy tên là Hải. Và thật bất ngờ, ngay sau Hải là Định:


- Các anh em! Ta chịu ngồi yên để cho bọn nó giết ta như giết con giun con dế vậy sao?


Rồi kế đó là Bình.


- Phải rồi! Phải trả thù! - Bình hét lên.


Tên sếp và mấy tên su chưa kịp hiểu ra sự gì lạ kỳ như thế, thì cả rừng người đã bùng dậy vây chặt lấy chúng. Hải nhào vào tên sếp. Nó rút súng và chĩa vào anh. Nhưng Hải vẫn lao tới. Súng nổ. Tên sếp hoảng hốt nên bắn trượt. Tiếng súng chìm lấp trong tiếng thét trả thù… Chỉ có bốn tên su kịp bỏ chạy.


Năm phút sau có tiếng xe hơi thắng lại. Chủ Tây bước xuống, la hét bằng tiếng Việt:


- Tụi bay nổi loạn à?


Tay hắn lăm lăm khẩu súng. Nhìn thấy những ánh mắt rực lửa đang xoáy vào mình, hắn kịp hiểu ra. Hắn quay đầu về phía xe. Không kịp… Những chiếc đòn gánh và dao cạo thi nhau bổ vào đầu hắn.


Hải, Định lôi xác thằng chủ Tây và hai tên tay sai vào giữa nhà điểm. Bình mang thùng xăng trên xe hơi xuống đổ vào. Hải cầm chiếc đèn măng sông đang cháy sáng lòa trên mặt bàn, cùng với cây gậy của tên sếp ném vào đó.


Ngọn lửa bốc lên chiếu tỏ những gương mặt đầy khổ đau, hể hả vì đã trả được thù. Nhìn lửa rừng rực cháy, Hải, Định và Bình cùng nhớ tới cha mẹ mình và bao người khác đã bị vùi thây dưới gốc cao su.


Đoàn Văn Hải quê Hải Dương, mồ côi mẹ từ năm mười hai tuổi. Cha Hải không đủ tiền nộp sưu, bỏ làng, dắt Hải trốn ra Hải Phòng kiếm ăn; được vài năm, phiêu bạt lên Hà Nội. Tại đây, họ đã gặp may, kiếm được chân phu trong xưởng xe hơi; vừa làm thợ học nghề vừa học chữ. Khi cha Hải võ vẽ biết được chút nghề thì bị sa thải vì đọc sách cấm. Không còn con đường nào khác, người cha dắt Hải vào làm phu contrat ở Nam Kỳ. Tại đây, ông vừa đi cạo mủ, vừa mở lớp dạy chữ cho anh em cu ly. Tận mắt thấy bọn su, sếp đánh đập giết hại bà con mình, ông càng nung nấu chí căm thù bọn xâm lược. Ông tìm đến tổ chức của Đảng. Tháng mười một năm một ngàn chín trăm bốn mươi, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ bị dìm trong máu, trong số những người ngã xuống có ông.


Bố mẹ của Bình thì bị đánh chết cùng ngày với bố của Định bên gốc cao su. Tên su bắt gặp cả ba đang đổ mủ cao su xuống hố, lấp đất lên. Một tháng sau khi chồng chết, mẹ của Định bị sốt rét ác tính rồi qua đời.


Cả ba chàng trai nhìn nhau. Tự nhiên, họ thấy không thể rời xa nhau được nữa.


- Làm sao bây giờ, anh Hải? - Định hỏi Hải, người lớn tuổi nhất, và được nhiều người nể nhất.


- Phải trốn đi! - Hải nói dứt khoát, nhìn thẳng vào hai người - Các chú thu xếp theo tôi.


- Nhưng… - Bình ấp úng, hoảng hốt - vợ tôi đang bị sốt rét cả tuần nay rồi…


Bình mới cưới vợ được vài tháng. Anh hoang mang không biết làm cách nào. Hải nắm lấy tay Bình, giọng chắc nịch:


- Đi theo tôi. Có bạn có bè, không chết đâu. Về nhà đón cô ấy, lẹ lên!


Thấy Bình còn lưỡng lự, Hải nói như ra lệnh:


- Đi! Muốn chết hay sao mà còn lưỡng lự? Đi ngay đi!


Họ hẹn nhau đúng nửa giờ sau có mặt tại đầu lô cao su số sáu. Bình chạy như bay về nhà, đến bên chiếc chõng tre, anh rờ bàn tay thô nhám lên vầng trán nóng như hòn than của Nghĩa. Nghĩa lờ đờ nhìn chồng, giọng yếu ớt:


- Sao… sao mình bỏ cạo? Không đi cạo… su đánh chết!


- Anh giết sạch tụi chó ấy rồi! - Bình cảm thấy can đảm thêm sau khi nói ra câu ấy.


- Trời ơi! - Nghĩa thốt lên, rồi gắng ngồi dậy. Hai tay Nghĩa run rẩy níu lấy vai chồng - Rồi… họ sẽ giết mình mất!


- Phải trốn đi!


- Trốn đi đâu? Đi đâu cho hết miền đất đỏ ác nghiệt này?


- Trốn được. Ngay bây giờ. Lẹ lên. Anh Hải, anh Định đang chờ. Lẹ lên!


Suốt mười ngày liền, họ cắt rừng mà đi. Họ tránh xa quốc lộ, tránh xa rừng cây đang cạo. Ở đâu có cao su là ở đó có su, có sếp, ở đó họ đang bị truy nã. Họ như con nai lạc giữa bầy sói. Họ quyết sống! Sống để trả thù…


Những người phu đốn cây, phá rừng để mở đồn điền Hòa Bình đã bắt gặp bốn người bất tỉnh giữa rừng. Rất may là họ chưa bị cọp vồ. Cả bốn người được cứu sống. Họ trở thành phu của đồn điền mới.


*


*    *


Sau những ngày hoạt động dưới sự quản lý của Ban quân quản, từ đầu năm một ngàn chín trăm bảy mươi sáu, nông trường cao su Hòa Bình chính thức làm ăn theo kế hoạch sản xuất của Tổng cục cao su. Giám đốc Nguyễn Bình trở về mảnh đất đầy kỷ niệm đau thương nhưng quật cường với tất cả sự náo nức và lo lắng. Náo nức vì ước mơ từ bao năm nay đã thành sự thật: Rừng cao su đã trở về tay dân mình. Lo lắng vì không biết sẽ xoay sở ra sao đây! Điều hành một trạm máy kéo với bốn chục công nhân, hai chục cái máy MTZ4 còn khó, huống chi là cả năm sáu ngàn con người vừa mới được giải phóng. Sự lo lắng ấy là tất nhiên, nó dẫn đến những đêm mất ngủ của Bình, giống như hơn hai chục năm tập kết, sống trong cảnh ngày Bắc đêm Nam, ít có đêm nào Bình ngủ ngon được bởi nỗi nhớ vợ con… Ban ngày, ông bị cuốn theo khí thế sôi động của niềm vui giải phóng, niềm vui đoàn tụ. Đêm về ông lại trăn trở bởi bao nỗi lo lắng. Vào cái tuổi năm mươi sáu, ngủ được đâu phải chuyện dễ dàng.


Ông cùng Ba Định và con trai ruột của mình là Nguyễn Hiếu đi thăm bà con và thăm rừng cao su. Có lúc, trông ông như một đứa bé mới lớn, lần đầu tiên ra thành phố, ngỡ ngàng và kinh ngạc trước mọi điều. Những năm đi tập kết, ông nhận được tin vợ đã hy sinh, nhưng không hề biết con mình ra sao. Ngày ông ra đi, Hiếu mới năm tuổi. Thế mà nay Hiếu đã là một thanh niên giống hệt ông: cao lớn, đẹp trai, học hành chu đáo. Ông không ngờ mình lại có được đứa con trai là kỹ sư, được đào tạo từ thủ đô của một nước tư bản: nước Pháp! Mừng vì gặp lại con, nhưng tự đáy lòng ông dội lên một nỗi lo cho Hiếu về điều đó. Con ông là sản phẩm của lối giáo dục tư bản, lỡ ra… Ông Định, bạn ông, vẫn còn đó, khỏe mạnh, và đôi mắt vẫn tinh tường, lanh lợi như thuở nào. Định vẫn không tục huyền. Năm một ngàn chín trăm ba mươi chín, ông đã cưới vợ. Vợ ông là một cô gái xinh đẹp, nết na nhất làng cao su. Lấy nhau chưa trọn tuần trăng mật thì vợ Định bị một thằng sếp cưỡng hiếp trong lô cao su mà cô đang cạo. Uất quá, người con gái ấy đã tự vẫn, để lại tình thương, nỗi đau không thể hàn gắn cho ông. Ông thề suốt đời không lấy ai nữa, để sống trọn tình với hương hồn vợ và sống trọn đời với cây cao su. Năm một ngàn chín trăm năm mươi sáu, sau khi Nghĩa hy sinh, ông đã đón Hiếu về và bí mật gửi đi Sài Gòn cho ăn học. Từ ngày ấy, ông coi Hiếu như con mình. Hiếu là niềm vui của ông. Đối với Bình, công ơn của ông Định lớn quá. Bình nghĩ, không biết đến bao giờ mình mới có thể đền đáp được công ơn này.


Về phần ông Hải, ông đã hy sinh năm một ngàn chín trăm sáu mươi chín, lúc đó ông là tỉnh ủy viên, trực tiếp làm bí thư huyện ủy Hòa Bình. Vợ ông cũng hy sinh rất dũng cảm. Một tên phản bội chỉ điểm, bí thư chi bộ thị trấn Hòa Bình Trần Thị Tám bị giặc mổ bụng, vẫn giữ trọn khí tiết. Kẻ thù đã chặt đầu chị đem bêu giữa chợ. Vợ chồng ông Hải có hai đứa con, một trai là Đoàn Anh Hùng, hiện là chủ tịch huyện; và con gái là Đoàn Thanh Hải đã hy sinh trong chiến dịch giải phóng Hòa Bình năm một ngàn chín trăm bảy mươi ba. Ngày đầu gặp nhau, ông Định kể cho Bình nghe những chuyện đó. Bình quyết định nhanh chóng bắt tay vào việc. Công việc không để cho ông yên lòng. Toàn những việc quá sức của ông. Ông lo quá.


Một buổi chiều, ông Bình đến lô cao su số mười. Vợ ông nằm đó. Khi ông đến, rừng cây chợt nổi gió. Gió lạnh và mạnh. Ông ngồi xuống cạnh nấm mồ. Rồi những lớp cỏ xanh non từ từ mở ra, và Nghĩa hiện lên. Nghĩa trẻ trung, da hồng hào như san hô, mái tóc dày và rất dài. Nghĩa reo lên, nhào tới ngã vào lòng ông:


- Trời! Mình về rồi sao em không hay! Mình ơi! Em nhớ mình quá! Con trai của chúng ta vẫn ra đây với em. Con mình giỏi và hiếu thảo. Con được học hành, còn sống là nhờ anh Định, anh Hải đó! Ngày đó, nếu không được bí mật gửi đi Sài Gòn thì con mình bị kẻ thù sát hại rồi. Tụi nó “diệt cỏ trừ căn”, diệt cỏ diệt tận gốc, diệt Cộng sản diệt từ trong trứng mà anh!... Mình đi tập kết rồi, em tiếp tục công việc của mình để lại. Những ngày ấy đầy thử thách. Em những tưởng không sống nổi. Nhưng nhớ mình, có con ở bên, có sự dìu dắt của anh Hải, anh Định, em đã vượt qua được tất cả. Rồi Ngô Đình Diệm mở chiến dịch Trương Tấn Bửu. Đấy là chiến dịch đầu tiên đánh vào phong trào cách mạng ở cao su miền Đông Nam Bộ. Tên thiếu tướng Mai Hữu Xuân chỉ huy chiến dịch càn quét. Trung tâm của chiến dịch, tụi nó đặt ở đồn điền Lai Khê với sư đoàn Năm khét tiếng ác ôn do Vầy A Sám làm chỉ huy trưởng. Ngày mười ba tháng ba năm một ngàn chín trăm năm mươi sáu, sáu giờ sáng, tụi nó tràn vào và đụng ngay ổ kháng cự của tiểu đội du kích do em chỉ huy. Bọn em vỏn vẹn có năm cây súng cũ kỹ, nhưng xác giặc đã phơi khá nhiều trước lô cao su mới trồng. Rồi đạn hết! Chúng em đã thề với nhau, không để rơi vào tay giặc. Em bị trúng đạn vào ngực khi súng hết đạn, lựu đạn cũng không còn. Trước khi nhắm mắt, em còn thấy các đồng chí của em tựa lưng vào thân cây cao su dùng lưỡi lê chiến đấu giáp lá cà với giặc. Bọn Vầy A Sám cắt tai du kích để lãnh thưởng, rồi chúng chặt đầu, đem về cắm cọc bêu ngay chợ thị trấn. Chính anh Định đã liều mạng đi chôn cất chu tất cho du kích. Ngay sau đó, anh Định đã đưa Hiếu, con của chúng mình, đi Sài Gòn, thoát khỏi sự truy lùng của kẻ thù...


Mình đã về với em! Em mừng lắm! Ráng thay em chăm sóc con, nghe mình. Con nó còn ít tuổi! Rồi mình phải dạy dỗ nó, lấy vợ cho nó. Mình coi, con giống mình quá trời phải không! Tại em yêu mình mới được vậy đó. Kìa! Ôm em đi! Ôm em thật chặt như ngày nào đi! Mình!


Gió thổi mạnh hơn lúc đầu. Một nhành cây cao su lá xanh biếc chợt gẫy răng rắc, rồi lìa khỏi cây, rớt xuống đất, phủ lên nấm mồ Nghĩa. Ông Bình bừng tỉnh. Vợ ông không còn nữa. Nghĩa vừa ở đây, vừa ở trong vòng tay ghì chặt của ông kia mà?...


Có một mình ông giữa rừng cao su bạt ngàn, chơi vơi năm nấm mồ liệt sĩ. Ông ngồi lặng đi, rồi ông chồm tới lôi nhành cây cao su trên mặt mộ. Nhưng không, không còn gì cả ngoài lá cỏ xanh rì. Ông chống hai bàn tay xuống lớp cỏ mịn màng. Ông thấy nước mắt nóng hổi, trên cánh tay, trên ngực áo ông. Phải chăng đó là nước mắt của Nghĩa vừa khóc, hay là nước mắt trong buổi chia ly, khi ông đi tập kết năm năm tư? Hôm ấy, ông đã ôm vợ chặt đến nỗi Nghĩa phải kêu lên: Kìa! Đau em! Và Nghĩa đã khóc rất nhiều. Hai mươi hai năm sau, ông lại về đây. Ông đang ôm chặt người vợ của ông như ngày nào. Ông tưởng như vậy. Hai bàn tay ông bấu chặt xuống lớp cỏ mịn màng, chặt đến nỗi những lá cỏ dập nát. Ngón tay ông lún sâu xuống mặt đất. Đất đỏ trồi lên qua kẽ các ngón tay, như là máu, hay là máu của vợ ông? Lòng ông thắt lại. Mắt nhòa đi. Ông ngước lên, từng giọt mủ cao su trắng như sữa đang lặng lẽ nhỏ tí tách xuống chén. Cả rừng cây quanh ông đang hiến mủ cho đời. Trong giọt mủ cao su này, có một phần xương thịt của vợ ông...


Nguyễn Bình thẫn thờ bước ra mặt đường, chợt ông khựng lại. Con trai ông đã đứng trước mặt ông. Hai cha con nhìn nhau, thấu hiểu và lặng lẽ.


*


*    *


Sau mấy ngày tìm hiểu tình hình nông trường, sáng nay Bình đến phòng hành chính. Giám đốc hỏi trưởng phòng:


- Làm cách nào mà cậu lại làm trưởng cái phòng này?


Sáu Hà, bốn mươi lăm tuổi, cụt mất bàn tay phải, đưa tay trái ra rót nước mời Bình, lễ phép nói:


- Báo cáo anh Tư, em cũng không ham gì cái chức này. Em là dân cạo. Dọt theo cách mạng từ hồi Mỹ vô đóng chốt ở Hòa Bình. Ba má, vợ con bị Mỹ sát hại cả. Giải phóng đồn điền này, em là người vô thị trấn trước hết. Thế rồi mấy ảnh ở Ban quân quản biểu em về, làm trưởng phòng! Mời anh Tư dùng nước.


- Hừ, hừ. - Bình đặt tách trà đỏ quạch xuống mặt bàn, mắt lơ đãng nhìn khắp phòng - Một, hai, ba, bốn... - Bình đếm. Có tới mười lăm cái ghế và mười lăm cái bàn. Mới chỉ là một căn. Còn một căn đối diện cũng thuộc phòng hành chính, địa phận của Sáu Hà.


- Phòng cậu có bao nhiêu người?


- Dạ, ba mươi hai. - Sáu Hà trả lời.


Bình trợn mắt nhìn Hà:


- Ba mươi hai?


- Dạ!


- Thế công việc?


- Dạ. Em chưa hiểu, anh Tư nói sao?


- Tôi hỏi công việc của ba mươi hai người ấy?


- Dạ, em nghe ra rồi. Phòng chia thành ba tổ. Tổ đời sống mười người. Tổ văn thư mười hai người, và tổ thứ ba, dạ chưa có tên, kêu đại là tổ lưu động, mười người nữa.


- Tổ lưu động là tổ làm cái chi?


- Dạ, bốn người chăm sóc vườn bông trong khu vực văn phòng; bốn người quét dọn, lau chùi nhà cửa bàn ghế; và hai người lo nước nôi tiếp khách giám đốc.


- Hai bà già thường vô phòng tôi?


- Dạ đúng ạ.


- Bông kiểng nhiều tới mức phải mất bốn người coi sóc kia à?


- Báo cáo anh Tư, thực ra mỗi khâu chỉ cần một người là đủ, khâu quét dọn cũng vậy. Nhưng đó là bốn bác công nhân cạo mủ đã già lắm rồi. Người thì bị su đánh gãy tay. Người thì bị đui một con mắt. Cả bốn đều đơn độc. Vợ con chết từ lúc Mỹ đóng chốt ở đây. Hồi đó, cả bốn đều là cơ sở của ta. Trong việc giữ nguyên vẹn được khu văn phòng và cơ xưởng chế biến mủ trong chiến dịch năm bảy mươi lăm, có công không nhỏ của các bác ấy. Bây giờ... chẳng lẽ...


- Nói tiếp đi, Sáu Hà. - Giọng nói đầy quyền uy của Bình bật ra từ cái miệng rộng, cằm bạnh ra hít hơi thuốc - Còn tổ văn thư mười hai người làm cái gì?


- Dạ, cả mười hai người này đều mới được tuyển vào từ khi giải phóng. Hồi đó, các em làm giao liên cho giải phóng rất nhiều, phần lớn là con liệt sĩ. Ban quân quản bố trí các em làm công việc này là hợp nhất. Trong số mười hai người ở tổ văn thư có hai người biết đánh máy chữ. Số còn lại, chỉ biết mỗi nghề… giao liên. Tuy thế, các cô ấy có thể làm bất cứ việc vặt nào và không nề hà chi cả! Dạ, còn tổ đời sống sáu người, phục vụ ở bếp ăn tập thể, hai người lo căng tin, hai người khác chuyên lo vận chuyển hàng cung cấp từ trên về...


- Bếp ăn tập thể có bao nhiêu người ăn?


- Nhà ăn có thể phục vụ cả trăm người. Hồi còn quân quản, đây là nhà ăn của các đơn vị quân đội đóng ở thị trấn. Còn bây giờ, chỉ có mười người ăn. Bởi vì... ai cũng có gia đình cả.


- Mười người ăn! Sáu người phục vụ mười người à? Tại sao vậy? Bất hợp lý vậy mà vẫn để à? Tại sao?


Bình thấy nóng ran ở gáy và ở trán. Những câu hỏi dồn dập tuôn ra. Sáu Hà luống cuống không biết trả lời ra sao. Thân hình Hà loắt choắt, chỉ có đôi mắt là tinh nhanh, cánh tay phải cụt tới gần nách. Bình nhìn như đóng đinh vào mặt Sáu Hà, làm như Sáu Hà vừa mắc phải tội tầy đình. Nhưng rồi Bình hiểu: Dân cạo mủ, đi giải phóng, đánh giặc liên miên rồi về đây, có được học hành gì đâu! Cũng y như Bình hồi trước. Khi tập kết ra Bắc, Bình mới đọc thông chứ viết chưa thạo. Trong số ba người giết tên chủ Tây ngày trước, chỉ có Hải và Định là được học nhiều nhất. Ông già của Hải biết cả ba thứ chữ: Hán, Pháp và quốc ngữ. Chính ông là người dạy chữ cho cả làng cao su hồi ấy. Hải và Định là hai trò giỏi của ông. Bình dốt, học mãi không vô nên bỏ học. Suốt thời gian từ năm một chín năm tám đến năm một chín sáu tư, trầy trật mãi Bình mới học hết lớp tám của trường Bổ túc công nông. Cũng may, Bình được đi học tiếp ở trường trung học cơ khí. Ba năm sau, Bình ra trường và chuyển ngành về làm nhân viên ở Cục trang bị cơ giới nông nghiệp của Bộ. Sau đó ít lâu, Bình được đề bạt làm trạm trưởng một trạm máy kéo nông nghiệp ở huyện. Miền Nam hoàn toàn giải phóng, Bộ yêu cầu những ai đã từng làm cao su trở về quản lý ngành cao su phía Nam. Bình xung phong đi liền.


Bình hiểu rõ cảnh ngộ của những người như Sáu Hà, nên cố dằn cơn nóng giận. Bình nhìn đồng hồ. Đã tám giờ rồi mà phòng của Sáu Hà mới có loe ngoe hai ba người tới làm việc.


- Đồng hồ của cậu mấy giờ rồi? - Bình hỏi cho chắc, sợ đồng hồ của mình chạy nhanh.


- Dạ, tám giờ năm ạ.


- Chứ làm việc mấy giờ?


- Bảy giờ rưỡi! - Hiểu ý giám đốc, Sáu Hà vội vàng nói tiếp - Dạ, bởi công việc cũng không nhiều, nên mọi người ít khi tới đúng giờ.


Bình không tin ở mắt mình và tai mình nữa! Có lẽ nào làm ăn như vậy được chăng? Miền Nam giải phóng, đất nước hoàn toàn thống nhất, rừng cao su thuộc về người Việt Nam rồi. Biết bao xương máu đổ xuống đất này để có hôm nay. Vậy mà làm ăn thế này à? Không thể chấp nhận! Biết bao ước mơ, dự tính cháy bỏng trong Bình, bây giờ như gặp phải gáo nước lạnh giá của cái phòng hành chính này.


Sáu Hà mở tủ đưa cho Bình cuốn sổ bìa đỏ khá lớn, trong đó ghi tên cán bộ công nhân viên nông trường. Con số thứ tự đã lên đến hơn sáu ngàn rưỡi. Riêng số công nhân cạo mủ và chế biến chỉ có ba ngàn rưỡi người. Năm ngàn héc ta cao su đang khai thác, trong đó hai phần ba diện tích bị chiến tranh tàn phá, có héc ta chỉ còn  một hai trăm cây5. Ngoài ra, gần bốn trăm héc ta cao su đang sung sức dày đặc mìn, không cách nào khai thác được. Những tiếng binh binh nổi lên làm nhức nhối hai bên mang tai của Bình. Căng thần kinh ghê gớm! Bình bắt đầu thấy lo. Chưa bao giờ ông cảm thấy trách nhiệm của mình nặng nề như lúc này. Trong số năm ngàn héc ta đang cạo, chỉ có khoảng một ngàn héc ta vườn cây còn sung sức và nguyên vẹn. Số này có thể đạt một tấn mủ khô mỗi héc ta. Diện tích còn lại, do mật độ quá thưa thớt, bình quân mỗi héc ta chỉ đạt năm sáu tạ là cùng. Như thế làm sao đạt nổi chỉ tiêu sản lượng bốn ngàn tấn năm nay? Làm sao đạt nổi kế hoạch với cung cách làm ăn lạ lẫm thế này? Phòng hành chính ba mươi hai người. Phòng kế hoạch năm mươi người. Phòng tổ chức lao động tiền lương sáu mươi lăm người. Phòng kỹ thuật bốn mươi người. Quá xá! Bình dằn cuốn sổ xuống mặt bàn:


- Cậu báo cho các trưởng, phó phòng đến gặp tôi ngay.


Nói rồi Bình bỏ đi. Ông miễn cưỡng gật đầu đáp lại lời chào của những người giờ này mới lóc cóc dắt xe đạp tới văn phòng.


Cuộc họp đầu tiên của giám đốc với các trưởng, phó phòng ban và lãnh đạo xưởng chế biến kéo dài ba giờ đồng hồ. Trong suốt ba tiếng đồng hồ ấy, chỉ có mười lăm phút để làm quen, mười lăm phút giải lao, nghĩa là mọi người được nói, được trả lời khoảng nửa tiếng. Còn lại, giám đốc Bình độc diễn. Phải nói rằng Tư Bình đã để lại ấn tượng khá đậm trong nhận thức của các trưởng, phó phòng ban. Ngay từ phút đầu, người ta đã nể sợ con người ăn nói khúc chiết, dứt khoát và thẳng thắn ấy. Ấn tượng về một giám đốc có thân hình cao lớn, với những cử chỉ mạnh mẽ như vung tay lên cao, chém mạnh bàn tay vào không khí, một tay chống nạnh, tay kia chỉ thẳng vào mặt người nghe v.v... quả là có sức thu hút. Nhất là tài nói của ông, như một nhà tuyên huấn chuyên nghiệp, khá hùng biện!


Nhưng thật lạ, sau khi nghe những lời Bình nói, ai cũng cảm thấy lo lắng một điều gì. Phó giám đốc Nguyễn Công Trực không giấu tiếng thở dài. Kỹ sư Nguyễn Hiếu, trưởng phòng kỹ thuật, thì cố giấu sự kinh ngạc về phong độ của bố mình. Chủ quan, nóng vội, cố tạo uy quyền! Có lẽ nào bố mình lại là người như thế? Phải gần ổng mới được. Tốt hơn hết là mời ổng đến ở cùng nhà với hai bác cháu mình.


Từ ngày gặp lại ông Định và con trai, chưa một lần nào Nguyễn Bình đặt chân đến nhà ông Định. Đó là một căn nhà đúc xinh xắn, hài hòa với vườn cây ăn trái và cao su sum suê ngay đầu thị trấn, lối đi xuống bến sông. Căn nhà ấy do chủ Pháp cấp cho ông, cùng với chiếc xe hơi Peugeot nữa. Căn nhà được xây cất năm một chín sáu lăm, còn chiếc Peugeot được cấp sau đó một năm.


Nhằm cạnh tranh với các công ty cao su lớn ở Đông Dương và mang lại hiệu quả cao trong việc khai thác cao su, chủ đồn điền Hòa Bình tỏ ra rất trọng nhân tài. Từ sau năm một ngàn chín trăm bốn mươi lăm, khi mà thế lực của Việt Minh đã trở thành vấn đề không thể đảo ngược, chủ đồn điền Hòa Bình thức thời, áp dụng chế độ lương, thưởng linh hoạt đối với phu cao su. Những tên su, sếp gian ác, gây thù oán nhiều trong các làng cao su bị đổi đi. Những công nhân lai tháp giỏi, cạo mủ giỏi, chế biến giỏi được nâng lên hàng su, sếp mới. Ba Định là một trong những người như thế. Ông được chủ trọng dụng, cho làm sếp của ba làng cao su lớn nhất trong đồn điền.


Hình ảnh người vợ mới cưới bị tên sếp cưỡng hiếp, phải cắn lưỡi mà chết, luôn đau nhói trong lòng Ba Định. Chính tên sếp ấy thường chửi ông “ngu như bò”, thường đánh đập ông tàn nhẫn. Sau vụ nổi dậy giết chết sếp, su và tên chủ Tây, mấy anh em Định trốn về Hòa Bình, làm ăn yên ổn được bốn năm thì Cách mạng Tháng Tám nổ ra. Cả bốn cùng theo Việt Minh. Nhưng theo sự phân công của Hai Hải - lúc này đã là huyện ủy viên Hòa Bình - thì Định phải ở lại hoạt động bí mật, làm cơ sở cho cách mạng. Trung thành với nhiệm vụ ấy và trung trinh với rừng cao su, nơi có người vợ yêu dấu nằm dưới lòng đất, Định quyết chí học nghề lai tháp (ghép) cao su cho đến kỳ cùng. Ông định bụng sẽ học nghề thật giỏi để trả thù lại những kẻ đã khinh rẻ, hành hạ ông. Cho đến năm sáu mươi, ông đã đạt tới đỉnh cao nhất của nghề nghiệp. Chủ đồn điền đưa ông đi du lịch và tham quan ở những nước trồng cao su thiên nhiên như Srilanka, Malaysia, Indonesia v.v... Tại Côte d’Ivoire6 ông đã được các nhà trồng tỉa cao su của xứ này tôn xưng là maitre7. Chủ đồn điền Hòa Bình xây nhà riêng cho ông, trả lương “phần cứng” cho ông gấp đôi lương của sếp. Hàng tháng, chủ đồn điền lại thưởng cho ông rất hậu. Ông dành toàn bộ số lương của mình tiếp tế cho cách mạng. Ở ngay dưới giường ngủ của ông là chiếc hầm bí mật đã nuôi giấu huyện ủy Hòa Bình trong những ngày đen tối. Những người xưa kia khinh rẻ ông, hay chửi mắng đánh đập ông, nay thấy ông được chủ trọng dụng, trở thành sếp của họ, thì chạy đến van xin ông tha thứ. Ông nhìn họ, chỉ cười mà nói rằng: “Tôi trả thù các anh thì hóa ra tôi cũng khốn nạn như các anh sao? Thôi về đi và nhớ rằng: Làm đến chức gì cũng phải thương lấy đồng loại, đồng chủng; phải nghĩ đến quê hương, đất nước”.


Kỹ sư Hiếu được nuôi dạy và lớn lên trong đạo lý ấy. Nguyễn Hiếu lọt lòng mẹ, cất tiếng khóc chào đời, thì người đón anh từ tay bà đỡ và sau đó chăm sóc hai má con anh là ông Trần Định. Bà Nghĩa hy sinh, ông Định nuôi nấng Hiếu, gửi đi Sài Gòn ăn học. Hàng tháng, ông thường về thăm Hiếu và ngủ lại với Hiếu một đêm. Những đêm như thế, cả hai bác cháu đều không ngủ. Ba Định - qua những lời dạy bảo tâm huyết ghi sâu mối thù nhà nợ nước - đã gợi cho Hiếu tình yêu người, yêu cây cao su của miền đất đầy khổ đau nhưng chắc chắc sẽ có ngày làm giàu cho chính người Việt Nam mình. Hiểu được tấm lòng và nguyện ước của người cha nuôi, Hiếu đã thi vào Đại học Canh nông Sài Gòn, và dành thời giờ nghiên cứu cây cao su. Ba Định xin cho Hiếu được tiếp xúc, học tập và làm việc với các chuyên viên cao su người nước ngoài tại Viện khảo cứu cao su Việt Nam. Rồi cũng nhờ ảnh hưởng của Ba Định mà Hiếu được cấp học bổng qua Pháp học. Sau bốn năm ở Pháp, Hiếu đỗ đầu bảng, được đi tham quan, nghiên cứu ở Côte d’Ivoire, ở Srilanka ba tháng trước khi về nước. Chủ đồn điền Hòa Bình xin Hiếu về làm phụ tá kỹ thuật, đồng thời cho phép anh được tham gia nghiên cứu tại IRCV8.


Vì sao? Vì sao Bình không đến nhà ông Định? Với Đoàn Anh Hùng, con trai ông Hải, bây giờ là chủ tịch huyện Hòa Bình cũng vậy. Biết tin Bình về làm giám đốc Hòa Bình, Hùng có đến thăm. Nhưng trái lại, Bình không hề đến Ủy ban huyện thăm Hùng. Vì sao vậy? Câu hỏi ấy cùng nảy ra trong đầu của ba người: Định, Hùng và Hiếu. Mỗi người đều nhận rõ cái nguyên nhân cốt lõi, nhưng dường như ai cũng cố né tránh, cố hiểu theo chiều hướng khác, có vẻ hợp đạo lý hơn. Hai Hùng nghĩ rằng, có lẽ ông Bình bận nhiều công chuyện quá. Những ngày đầu mới đầu giải phóng, quả là công việc cứ như cơn lốc cuốn hút người ta, còn thời giờ đâu mà nghĩ đến cái riêng nữa! Ông Định lại nghĩ khác. Vốn bản tính nhân hậu và trung trinh, ông Định nghĩ rằng có lẽ Bình ngại đến thăm người đã từng được chủ Tây trọng dụng. Nhưng trước sau gì, không sớm thì muộn, Tư Bình cũng lại sẽ thân mật với mình như xưa. Làm sao có thể cách biệt nhau khi mà tình nghĩa anh em chí cốt được xây đắp từ thuở đầu còn xanh đến giờ! Đối với Hiếu, đầu óc thực tế của một kỹ sư trẻ giúp anh nhận ra, dù mới chỉ ít ngày gặp lại cha mình, những gì là căn bản nhất của cha. Anh có cảm giác như bố mình hơi chông chênh trong chỗ đứng hiện tại. Chông chênh vì lo lắng không kham nổi trách nhiệm. Từ chỗ thiếu tự tin đến chỗ không tin người khác chả xa là bao. Nếu thật sự bố không tin bác Định, không tin con, thì thật đau khổ!


Bữa cơm chiều hôm ấy cả hai bác cháu ăn rất uể oải. Món cá trê chưng do bé Loan làm là món được ưa chuộng của nhà này, hầu như không ai đụng đũa. Bé Loan, năm nay mười sáu tuổi, vốn là cô bé mất cha mất mẹ, sống vất vưởng ở lề đường Sài Gòn, được ông Định đón về làm con nuôi, cho đi học chữ và học nghề cao su. Ông Định có tới sáu bảy người con nuôi như vậy, hiện đều đã lớn và thành gia thất, đang làm cao su ở vùng miền Đông Nam Bộ. Nhìn món cá còn nguyên vẹn, Loan rất buồn. Đôi mắt bồ câu đen láy của cô ngước nhìn cha và lo lắng. Cô im lặng dọn bàn trà ở phòng bên rồi lễ phép:


- Con mời ba và anh Hai qua dùng trà. - Giọng Loan thanh, dịu ngọt.


- Cám ơn Loan. Em chuyển khay trà ra băng đá ngoài hiên trước nhà cho anh nghe! - Hiếu nói nhỏ với cô em nuôi mà anh rất quý mến vì sự thông minh, hoạt bát của cô.


Hai tay nâng tách trà bốc hơi nghi ngút mời ông Định, Hiếu nói:


- Thưa ba. - Từ ngày nào không nhớ nữa, Hiếu gọi ông Định là ba - Ba nghĩ như thế nào về những lời của bố con trong cuộc họp sáng nay?


- Anh để cho ba suy nghĩ thêm đã.


Coi Hiếu như con ruột của mình, ông Định rất tự hào về Hiếu. Tự trong thâm tâm, ông coi Hiếu là “tác phẩm” duy nhất của mình. Kể từ khi Hiếu về nước, được trọng dụng, giao cho trọng trách phụ tá kỹ thuật, ông Định chuyển cách xưng hô từ “con” thành “anh” nhưng vẫn xưng là “ba”. Trước mọi người, ông vẫn kêu như thế. Có những nhà danh họa khi nhìn lại những tác phẩm của mình, thấy không hài lòng, thấy mắc cỡ. Còn ông, mỗi khi có dịp được nhìn ngắm Hiếu, ông Định thấy trào dâng niềm vui sướng. Ông không có con ruột, nhưng có Hiếu. Hạnh phúc là một cái gì đó luôn luôn có sự bù đắp cho những kẻ thiệt thòi. Ông Định hiểu như vậy, tin như vậy và sống bằng niềm vui như vậy.


Hiếu dùng chiếc cọ nhỏ, nhẹ nhàng quét sạch cái điếu bát vốn đã sạch bóng, lấy đóm thông nõ điếu rồi nêm vào đó một điếu thuốc lào sợi nâu vàng. Anh châm đóm, hơ qua một chút vào đầu xe điếu rồi quay đầu xe về phía ông Định. Ông Định giơ tay ra dấu để đó. Hiếu dụi tắt đóm, yên lặng. Anh biết tính ông. Những lúc như vậy là ông suy nghĩ lung lắm. Hiếu nhiều lần thấy ông ngồi suy tư như vậy. Sinh thời, có lần ông Hải nói với Hiếu: “Cái cách ổng ngồi y hệt ông cụ sinh ra tao, cứ như là một ông tiên vậy!”. Hiếu cũng nghĩ như thế. Nhiều lúc, Hiếu bắt gặp ông ngồi giữa vườn ươm cao su - sau giờ làm việc - với phong độ y hệt một nhà nho, không, một nghệ sĩ thì đúng hơn. Ông ngồi đó, lặng lẽ như đang thiền, nhưng cân não thì năng động vô cùng.


Có nên nói cho nó nghe những lo lắng của mình về bố nó không? Có lẽ không nên nói lúc này. Nó là một trí thức trẻ. Tuổi trẻ ngày nay tinh anh lắm. Thế nào nó cũng nhận ra. Nhưng mình và nó phải làm gì? Vì sao bố nó lại xa lánh anh em? Vì sao sáng nay bố nó lại có một quyết định nóng vội đến thế? Đi họp về, Hiếu kể ông nghe hết. Theo như lời Tư Bình nói thì sẽ đi tới đâu?


Với mục tiêu xây dựng nông trường Hòa Bình chính qui, hiện đại!


- Biện pháp thứ nhất là trong vòng ba tháng phải giảm đến mức thấp nhất số lao động gián tiếp và lao động quá tuổi qui định!


- Tất cả các phòng ban, xưởng và các đội sản xuất, mỗi tuần phải họp một lần. Sau giờ làm việc buổi chiều, các trưởng phòng, ban, xưởng, đội phải báo cáo kết quả công việc trong ngày cho giám đốc.


- Đi làm phải đúng giờ. Ăn mặc gọn gàng. Khi quan hệ công tác phải chào hỏi, thưa gửi đàng hoàng. Trên bàn làm việc, cửa phòng phải có bảng ghi rõ tên họ, chức danh.


- Giám đốc sẽ xin về những cán bộ trẻ, có bằng cấp để kiện toàn cơ cấu các phòng, ban, xưởng trong nông trường.


Đó là tất cả những gì ông được Hiếu thông báo lại về cuộc họp sáng nay. Quay về phía Hiếu, ông trìu mến nhìn con:


- Chắc ba làm đơn xin nghỉ việc, anh Hiếu ạ.


- Ba mà nghỉ sao, thưa ba?


- Phải. Thà như vậy còn hơn để bố anh gạt ba ra rìa. Năm nay ba đã sáu mươi rồi!


*


*    *


Trong các làng cao su, cuộc sống vẫn diễn ra đều đặn như tự thuở nào. Vào tháng này, người ta đang hướng đến cái Tết thứ hai sau ngày giải phóng. Cũng với nhịp điệu như xưa nay, một ngày mới ở làng cao su không phải bắt đầu bằng tiếng nhạc tập thể dục trên radio hay tiếng còi tầm ở các thành phố công nghiệp. Ngày mới ở rừng cao su bắt đầu từ tiếng gà gáy canh ba. Tiếng gà gáy ở rừng cao su dường như cũng khác với tiếng gà gáy ở các làng quê miền đồng bằng sông Hồng hay sông Hậu. Gà ở những nơi ấy gáy theo dây chuyền. Nghĩa là thế nào cũng có một con gáy trước nhất, rồi những con gà ở nhà kế tiếp mới giật mình vỗ cánh và gáy theo. Họa hoằn lắm mới có chuyện hai ba con gà cùng gáy một lượt. Thường là chúng chờ nhau, chờ cho con trước gáy dứt tiếng thì con sau mới gáy, rồi con sau nữa mới vỗ cánh để nối dài âm thanh ò ó o... Vả chăng cái âm thanh ò ó o ở những nơi ấy cũng dài hơn, dềnh dàng hơn, ngân nga hơn và “điệu” hơn. Bởi cuộc sống ở đó là thế, êm ả, không có gì phải vội vàng. Có ra đồng chậm một chút cũng chẳng chết ai và cũng chẳng ai chết. Nghe tiếng gà gáy, người ta cứ việc ngủ ngon. Tới gà gáy canh năm mới có vài gia đình thức giấc. Đó là những gia đình buôn bán hoặc có việc gì cần kíp. Thường là rạng sáng, người ta mới vươn vai, dụi mắt trở dậy. Những người phu cao su gốc Thái Bình, Nam Định, Hải Dương, những năm đầu mới vào đây, thường nhói lòng mỗi khi nhớ lại cảnh xưa quê cũ. Ở đó, mặt trời mọc, họ mới phải ra khỏi cái nệm rơm ấm áp, súc miệng, ăn trầu trước khi ăn cơm với dưa cải vàng, cá rô kho, uống bát nước chè xanh đặc sánh, rồi vác cày vác cuốc ra đồng. Những năm đen tối ở đồng bằng Bắc Bộ, thời của những chị Dậu, anh Pha, thì cái sự khổ cực của bà con nông dân cũng còn bằng vạn kiếp phu contrat. Ai lo việc nấy. Cày thuê, cuốc mướn, bị bóc lột trắng tay, sưu cao thuế nặng phải bán vợ đợ con, nhưng có đi ra đồng chậm thì bị chửi mắng là cùng, chứ không ai phải chịu đánh đến hộc máu mà chết ngay tại nhà điểm như ở đây.


Còn ở đây, ở làng cao su...


Tiếng gà gáy theo một cách khác, một nhịp điệu khác, một tiết tấu khác. Kiếp người phu cao su cực khổ quá, đến độ cảnh vật cũng đồng cảm với người. Tới thời khắc canh ba là tất cả những con gà trống cùng gáy lên một lúc. Y như là có một nút điện vô hình do một bàn tay vô hình ấn nút. Và thế là đồng loạt, gà gáy! Tiếng gà gáy réo rắt vang lên, thoát lên trong các làng cao su nghe như có chút hoảng hốt, có chút lo lắng, có chút ai oán than van. Tiếng gà đồng loạt gáy lên, có lúc nghe như tiếng kêu của người phu cao su bị sếp đánh gục giữa rừng.


Từ lâu lắm rồi, gà ở đây đã gáy như thế.


Nghe gà gáy canh ba, người bật dậy, quáng quàng nhóm bếp nấu cơm. Lửa trong bếp rần rật cháy. Heo chuồng rít lên đòi ăn. Những đứa bé quặp chặt lấy mẹ vì nó biết chắc chắn là nó sắp bị quẳng lại một mình ở nhà chơi với chó với mèo. Mọi việc đều phải nhanh. Mỗi động tác, bước đi phải chính xác, không thừa. Tất cả như một cuộc tập trận báo động chiến đấu. Nhanh, gọn, ăn vội ăn vàng, đưa tay lấy dao cạo, quàng lên vai đôi thùng và chạy ào ra nhà điểm. Làm thế nào để đúng ba giờ rưỡi phải có mặt. Đến trễ một phút là bị ăn đòn rồi. Bao người đã chết vì cái phút đó. Với sáu mươi giây đồng hồ đi trễ, người ta có thể bị vùi sâu dưới gốc cao su.


Từ những năm năm mươi trở lại đây, “chế độ cao su” rùng rợn thời trước đã có những đổi thay đáng kể do phong trào đấu tranh không mệt mỏi của công nhân cao su, do thế lực của cách mạng ngày một lớn mạnh. Người công nhân cao su đỡ bị đánh đập và ít người chết vì bị đánh đập. Nhưng đổi lại, họ bị chủ đồn điền đánh theo kiểu khác, đánh vào bao tử: cúp lương, phạt trừ lương. Chính vì thế mà tiếng gà gáy canh ba vẫn là tiếng kêu réo rắt thúc giục con người đừng đi trễ. Xem ra biện pháp cúp phạt lương có vẻ “văn minh” hơn, nhưng cũng không kém gì biện pháp man rợ xưa kia là đánh chết người. Người ta còn sống thì còn phải ăn. Mà đã bị cúp phạt lương thì chỉ có nước chết đói! Ai còn dám đi trễ nữa! Ai mà dám cạo da cát, chạm xương9. Đừng có đùa với ông chủ!


*


*    *


Đội trưởng Hai Gan trên đường đến văn phòng đội Sáu, trước kia là nhà điểm của làng Sáu. Hai Gan nhận ra người đàn bà đang đi như chạy ở phía trước mình. Đó là Tư Hòa, vợ của Hai Hùng, chủ tịch huyện Hòa Bình. Trước giải phóng, Gan là chiến sĩ trong đại đội do Hùng làm đại đội trưởng. Hai anh em đã đánh hàng trăm trận với Mỹ, với ngụy, vào ra thị trấn như đi chợ. Gan là tên của Hai Hùng đặt cho người lính ưu tú của mình. Tên thật của Gan là Huỳnh Thép Gang. Gang thứ hai, ba má ở Củ Chi. Gia đình Gang đến đời anh là ba đời làm cao su rồi. Hiện tại, Hai Gan chỉ còn có ba má đang ở Củ Chi, một người chú ruột là Út Hoàng làm giám đốc nông trường cao su Tân Tiến. Gia đình Gan, kể cả chú bác, cô dì, anh em ruột có tất cả mười sáu liệt sĩ. Mười sáu người đã bám trụ chiến đấu và hy sinh ngay trên đất cao su.


Thấy Gan chạy theo, Tư Hòa đi chậm lại.


- Ủa, chú Hai đi sau mà tôi không hay. Gay go quá, Gan à.


- Có chuyện chi vậy, chị Tư?


- Chú Sang với cô Thủy, hai kiện tướng cạo mủ của đội ta, nạp đơn xin nghỉ việc rồi!


- Vì sao?


- Nông trường bắt vợ chồng ông Sáu Son, ba má chú Sang, vợ chồng ông Bảy Trạch, ba má cô Thủy phải thôi việc vì quá tuổi lao động.


- Ác nhơn thiệt! - Hai Gan thốt ra.


Ngừng một lát, Hai Gan tiếp:


- Chị Tư, chị là đội phó, lại có chân trong ban chấp hành Đảng bộ nông trường. Tại sao chị chịu để yên?


- Nào có ai dám trái lời. Chú Hiếu, con ruột của ổng, ổng còn cách chức trưởng phòng kỹ thuật, chỉ vì phản đối biện pháp giảm biên chế của ổng!


- Đau quá!


- Chú nói sao?


- Bao nhiêu người chí cốt với cách mạng, bao nhiêu năm hết Pháp, Nhật rồi Mỹ, không kẻ thù nào đánh bật được họ ra khỏi rừng cao su. Vậy mà, ông Bình mới về có một năm, ổng đánh tróc gốc tất cả! Đau quá xá, chị Tư ơi!


- Chưa đau bằng ông Định, bạn bè chí cốt của ông Bình. Ông Ba là chuyên gia về cây cao su giỏi vào loại nhất của xứ mình. Chủ Tây ngày trước còn phải kính nể, trọng dụng. Vậy mà ông Bình cũng chấp thuận đơn xin nghỉ việc của ông Ba.


- Ông Ba Định làm đơn xin nghỉ sao?


- Sau khi chú Hiếu bị cách chức trưởng phòng kỹ thuật thì ông Ba mới nạp đơn xin nghỉ. Một năm qua, nghe nói hai anh em căng nhau lắm.


- Còn với anh Hùng, thái độ của giám đốc thế nào?


- Cũng chẳng hơn gì. Ông Bình xa lánh tất cả. Với anh Hai nhà tôi cũng thế. Tình chú cháu vậy mà mỗi khi có việc mời chú tới nhà, ổng đâu có tới. Tết năm ngoái ổng cũng không thèm bước chân tới nhà tôi. Tết này, chắc cũng vậy. Khó chịu thiệt tình. Anh Hai nhà tôi nói là tất cả các cuộc họp của Ủy ban huyện, có thư mời, có xe đón, đích thân anh Hai nhà tôi đi mời nữa, không khi nào ổng tới!


- Kìa chị Tư! - Hai Gan la lên và kịp nắm tay Tư Hòa lôi lại, nếu không thì chị đã vấp phải khúc cây cao su chắn ngang đường rồi.


Đêm qua, lại có kẻ phá hoại. Đêm nào chúng cũng cưa ít nhất một cây cao su. Tên phá hoại đêm qua dám cả gan cưa cây gần văn phòng đội, rồi khuân khúc cây ra chắn ngang đường chọc tức chơi.


Cả hai người cùng đứng lại nhìn gốc cây cao su bị cưa, mủ cây ứa ra, tràn xuống đất. Liên tưởng khiến Hai Gan rùng mình: Năm xưa, tụi Mỹ chôn sống dì Tám, má của anh Hùng rồi chặt đầu, máu ứa ra thấm đẫm mặt đất y như gốc cây cao su này. Hai Gan cúi đầu lẫm lũi bước đi. Tư Hòa bặm môi theo sau. Phải chăng người con dâu của dì Tám cũng có một liên tưởng như thế.


(Còn tiếp)


Nguồn: Đâu là lời phán xét cuối cùng. Tiểu thuyết của Triệu Xuân. NXB Hội Nhà văn. Tái bản lần thứ 2, năm 2002.


www.trieuxuan.info


__________




(1) Contrat (tiếng Pháp): hợp đồng.




(2) Sous: phụ, phó.




(3) Chef: trưởng, chủ.




4  MTZ: loại máy kéo do Liên Xô chế tạo.  




5 MTZ: loại máy kéo do Liên Xô chế tạo.  




6 Côte d’Ivoire: Bờ biển Ngà ở Phi châu.




7 Maitre: bậc thầy.  




8 IRCV: chữ viết tắt của Institut de Recherches Caoutchous Vietnam, nghĩa là Viện khảo cứu cao su Việt Nam. Tiền thân của nó là Viện khảo cứu cao su Đông Dương (IRCI: Institut Recherches Caoutchous Indochinoise). IRCI thành lập năm 1941, lúc đó Đông Dương có khoảng 100 ngàn héc ta cao su. Trụ sở Viện đặt tại Sài Gòn, khu thí nghiệm đặt tại Lai Khê. Đến năm 1956, Viện đổi tên là Viện khảo cứu cao su Việt Nam. Về sau, Pháp thu hẹp hoạt động của IRCV và lập Viện khảo cứu cao su Campuchia (IRCC) rồi chuyển tài liệu và nhân viên cho Viện cao su Pháp (IFC) ở Paris và Viện cao su Phi châu (IRCA). 




9 Da cát, chạm xương là hai lỗi nặng nhất của người thợ cạo mủ cao su. Da cát là cạo chưa tới mức cần thiết, thì mủ không chảy ra. Chạm xương là cạo phạm vào thân cây, cây bị thương, sẽ nổi u nổi cục lên và sẽ không cho mủ.


 



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
xem thêm »