tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20517722
Tiểu thuyết
01.11.2008
Triệu Xuân
Giấy trắng
Chương 2


CHƯƠNG HAI


một


Có những miền đất mà cái tên chỉ vang lên dù một lần thôi, đã gợi nhớ đến cả một quá khứ hào hùng hay liên tưởng tới cả một tương lai sán lạn. Minh Hải với Cà Mau, Năm Căn, U Minh là miền đất như thế.


Sự sinh sôi vô tận và diệu kỳ của mũi đất; dáng đứng thẳng của rừng đước, rừng tràm; thế chằng chịt của sông rạch; tiềm năng giàu có của rừng vàng biển bạc... đã góp phần hun đúc nên ý chí bất khuất của người dân nơi cuối đất cùng trời của Tổ quốc. Trở về quê nội, đây là lần trở về thứ hai kể từ ngày quê hương hoàn toàn giải phóng, trong lòng Thịnh trào dâng cảm xúc về đất nước quê hương. Chỉ vài tiếng đồng hồ nữa thôi, chiếc vỏ lãi(1) này sẽ đưa anh về với má. Má ơi! Má sẽ bất ngờ khi thấy thằng Bảy của má về. Má sẽ quýnh lên chạy ra cầm tay con và má khóc. Con biết mọi chuyện rồi sẽ như thế. Rồi khi con đưa gói quà biếu má, má sẽ hỏi: “Tiền đâu mà mày mua, hả Bảy?”. Má biết lương con ít, má lo con làm những chuyện không đàng hoàng để kiếm tiền! Con đã khôn lớn rồi, con đã là giám đốc một nhà máy rồi mà má cứ coi con như thằng Bảy con nít hồi nào! Con nhớ trong lần về thăm má lần đầu tiên vào năm bảy mươi sáu, sau ba chục năm kể từ ngày quảy nóp ra đi theo Cách mạng, khi nhìn cảnh xóm ấp tiêu điều, trường sở cho trẻ nhỏ không có, giải phóng đã hai năm mà nơi má ở vẫn cực quá, con không khỏi hoang mang, kêu ca, nhằm tỏ ra thông cảm với má. Nào ngờ má đã la con: “Trời đất, mày đi làm Cách mạng mấy chục năm mà óc mày còn ngu thế con. Cái gì cũng phải từ từ chứ. Bộ độc lập hôm trước rồi hôm sau sướng liền à? Hả? Mày nói sao? Bà con ở đây hả? Sao cũng chịu được. Miễn là có độc lập, rồi thì mọi chuyện sẽ lần lần mà khá lên. Khỏi lo đi con. Má tin là không mãi như vậy đâu. Bà con vùng đất Mũi này đều nghĩ như má!”.


Sau lần đó, về thành phố rồi Thịnh mất ngủ liền mấy đêm. Má của anh có tấm lòng như biển cả. Anh vẫn chỉ là cậu bé ngày nào. Làm sao mà anh có được tấm lòng như của má, niềm tin như của má! Suốt hai cuộc kháng chiến, má đã vững vàng trụ bám. Một lời của má có sức mạnh của một đạo quân. Một lời của má bằng mấy tay chính trị viên nói cả ngày trước đơn vị. Bất giác, Thịnh đọc lên câu thơ của anh mình, nhà thơ Minh Hải: Đất nước vẫn như má nhìn, má nghĩ... Niềm tin vào Cách mạng, tình yêu đất nước trong má vẫn luôn luôn đượm lửa than đước Cà Mau, luôn luôn chói sáng. Cho dù có qua nhiều gian truân, thiếu thốn thì hình ảnh đất nước, cái đất nước hiện thực, tất sẽ như cái đất nước mà má nghĩ tới, má mơ tới. Lần ấy, Thịnh đã tự hổ thẹn với mình.


Hôm nay đưa Lộc và An, thư ký công đoàn về quê nội, mục đích chính của chuyến đi là xin đất trồng lúa, kiếm gạo nuôi công nhân, Thịnh tính ghé thăm má trước khi vô làm việc với Ủy ban huyện. Chiếc vỏ lãi vẫn rẽ sóng lướt tới. Máy Kôle chín mã lực nổ giòn. Lộc và An ngồi đâu lưng với nhau ở giữa xuồng nhìn đăm đăm ra hai bên bờ sông, rừng đước ken dày cao vút lên như hai bức thành. Mặt trời chưa lên khỏi ngọn cây, chiếu những tia nắng qua khe hở các hàng cây như ánh chớp rạch rừng đước. Chim bay theo đàn từng bầy vô tư trên rừng. Chúng là chim của sân chim nào vậy? Sau mấy cuộc bể dâu liệu quê anh còn được mấy sân chim, mấy vườn chim? Thịnh ngồi ở mũi vỏ lãi, nhìn hút tầm mắt về phía trước: nơi ấy là biển cả. Sau lưng anh, tiếng máy Kôle vẫn giòn tan. Người cầm lái là một cô gái độ mười bảy mười tám, da rám nắng, mắt nâu, những sợi tóc cháy nắng ngả màu hạt dẻ. Khuôn mặt tròn và cái mũi hơi hếch của cô làm cho vẻ mặt cô luôn luôn như muốn cười. Bỗng Thịnh nghe tiếng cô hát khe khẽ  xen trong tiếng máy. Không, cô ngâm thơ, bài thơ của anh Ba. Thịnh xúc động khi thấy thơ của anh mình được nhiều người nhớ và ngâm ngợi. Gió thổi tạt về phía sau giọng ngâm trong trẻo của cô gái:


Chắc bây giờ ở Viên An


Mùa đông đã gải2 lá vàng trong cây


Nước gong3 đã ngập bãi lầy


Từng đàn sóng vượt biển đầy hát ca...


Ơi vùng trời nước bao la


Tháng Mười một, ngày hăm ba đến rồi!


- Nghe không? Có tiếng ai cười


Búa liềm cuộn gió Bốn mươi bay về


Hòn Khoai dựng đá làm bia


Nhớ thương chiếc lá đã lìa cành cao...


 


Ơi người Anh, mất rồi sao?


Mấy mươi năm vết chân nào còn đây?


Lời thề nào khắc trong cây


Máu nào ứa mặn đất này Viên An?


Ta còn gởi lửa trong than


Gởi người trong đất, đất mang tên người.


Đất này là đất Bốn mươi


Phan Ngọc Hiển! Đất sáng ngời tên Anh!


 


Đất này đất của màu xanh


Cây xanh màu đước, nước xanh màu trời


Áo xanh, xanh bóng cuộc đời


Ngôi sao xanh ánh mắt người mình thương


Biển xanh, xanh sắc đại dương


Rừng xanh, xanh sắc quê hương anh hùng


Đường ta ngày một thêm đông


Biển lường thêm nước, rừng trồng thêm cây


Bãi dài thêm cánh cò bay


Bao nhiêu năm đó đổi thay cũng nhiều...


 


Hỡi người anh rất kính yêu


Một đời bão táp không xiêu cánh buồm


Sống vui nên chết không buồn


Tấm gương lọc nước trăm nguồn trong veo


- Hình như có bóng ai chèo


Mà rừng rứt lá bay theo vội vàng...


Chắc bây giờ ở Viên An...4


Bất giác má Thịnh nóng bừng lên, mắt như hơi ướt. Anh cố nén sự xúc động trong lòng mình. Tiếng máy Kôle vẫn nổ giòn. Giọng ngâm thơ đã tắt, mà sao từng câu từng chữ cứ vang lên trong óc anh. Anh quay lại nhìn Lộc và An. Lộc đang cúi xuống vốc nước. Tốc độ nhanh của chiếc vỏ lãi làm nước bắn lên ướt hết mặt anh. Rõ ràng là Lộc cũng xúc động bởi bài thơ. An thì bỏ mũ, vuốt tóc rồi đột ngột cất tiếng:


- Thơ ai hay vậy cô?


- Mấy chú không biết à? Bài Đất Viên An của nhà thơ Minh Hải đó. Miệt này ai cũng biết chú Minh Hải. Vậy mấy chú không phải là nhà văn rồi?


- Sao cô nói vậy?


- Thì tự chú nói đó thôi. Chú không thuộc thơ mà. Vả lại, từ ngày giải phóng đến giờ, cháu đưa nhiều đoàn khách về thăm Ngọc Hiển, Năm Căn. Hầu hết là nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhạc sĩ. Mấy chú kêu bằng đi thực tế. Cái gì cũng lạ với mấy chú đó, gặp gì cũng hỏi. Cháu chỉ tiếc là chưa thấy nhà gì khác về đây, chứ... chỉ có nhà văn, nhà thơ về thì làm sao xã cháu có trường học được? Mấy đứa em cháu không biết học ở đâu. Cả xã chỉ có một trường với hai lớp một, lớp hai thôi!


Cô gái ngưng nói, vuốt tóc qua hai bên vành tai rồi cười rất có duyên, hai lúm đồng tiền in sâu trên má:


- Vậy mấy chú là nhà gì?


- Nhà in! - An cười nói cho vui.


- Sao?... Nhà in à? Nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nay lại có nhà in nữa?


- Chứ sao! Không có nhà in thì lấy chi mà đọc?


- À, cháu hiểu rồi. Trời đất! Thế ra mấy chú về đây để in những cái mà mấy chú nhà văn nhà thơ viết ra chứ gì?!


- Phải, mà cũng không phải. - Lộc thấy vui, góp vào câu chuyện - Ba ông nhà in này đang đi xin, cho nên kêu bằng nhà xin thì đúng hơn.


- Mấy chú chọc cháu hoài à! Hết nhà in rồi lại nhà xin.


- Đúng đó. Bọn này đang đi xin đất làm lúa để kiếm gạo ăn rồi mới in được chớ. Không ăn thì làm sao in được! Ha ha ha!


Thịnh nói lớn rồi cười vang. Cả Lộc, An, cả cô gái cùng cười. Tiếng cười vang lên át tiếng máy và tiếng gió. Mùi của những cây mắm ven dòng kênh bốc lên bay trong gió. Nước đang xuống. Chiếc vỏ lãi vẫn rẽ nước lướt đi. Máy nổ giòn.


*


*           *


Mười hai giờ trưa, Thịnh về tới nhà. Căn nhà nhỏ nằm cách chợ Đầm Dơi gần cây số. An còn đang lúng túng khi leo cây cầu khỉ bắc qua con lạch nhỏ vào nhà, thì Thịnh và Lộc đã xách đồ đạc vào sân. Bà cụ chạy ra.


- Thằng Bảy về hả con? Chà, cả mấy chú nữa! Sắp nhỏ đâu, lấy nước bác Bảy với mấy chú uống đi con!


- Dạ chào má!


- Chào má!


- Ờ, hai chú vô nhà đi. Trời nắng dữ quá hà.


- Má cho tụi con ăn cơm nghe má. - Thịnh cầm gói quà đặt vào tay má.


- Cái gì đây? Trời đất! Tiền đâu ra mà mày mua vải cho má hả? Quần áo tao còn tốt mà. Vợ rồi con, sống giữa đất Sài Gòn có hơn trăm đồng bạc lương xài đâu có đủ. Tiền đâu mà con mua?


- Dạ, thì má đi nấu cơm con ăn cái đã. Con đói lắm rồi!


- Cha mày! Cái tính háu đói, già đầu rồi cũng không có bỏ! Kìa mấy chú, ngồi nghỉ uống nước đi. Thức ăn có sẵn rồi, tôi đi nấu cơm đây. Lẹ mà.


Thịnh chia bánh kẹo cho hai đứa nhỏ một trai một gái. Chúng được quà rồi lỉnh đi mất. Anh nhìn theo chúng: quần cụt, áo rách tay màu nâu, chân tay đen quánh dính bùn, được cái cặp mắt đứa nào cũng sáng.


Thịnh là thứ bảy, nhưng năm anh chị của Thịnh đã chiến đấu và hy sinh trong rừng U Minh và rừng đước Năm Căn. Thành thử bây giờ anh là con trai lớn trong nhà. Sau Thịnh còn hai cô em gái. Một cô đã có chồng, hai đứa con đang gửi bà ngoại nuôi. Hai vợ chồng công tác ở Ủy ban huyện. Cô em út đang học trường bổ túc công nông của tỉnh ở Cà Mau. Má anh đã bảy mươi tuổi, mắt vẫn tinh, lưng vẫn thẳng, chỉ có hai khớp xương đầu gối là đau nhức do ngày xưa bị bắt, địch đã dùng cây đánh vào gối của bà. Ngày ấy, có hai đồng chí cán bộ của khu về chỉ đạo phong trào. Minh Hải dẫn hai đồng chí đến nhà má. Tuy là con nuôi, bà cụ thương Minh Hải không khác gì con đẻ của mình. Thịnh tập kết ra Bắc, mấy đứa lớn lần lượt hy sinh. Bà chỉ còn có Minh Hải thường xuyên ghé thăm và hai cô gái út đi làm giao liên cho huyện. Đêm khuya, địch cho quân càn quét bất ngờ, bà đã kịp thời chèo xuồng đưa Minh Hải cùng hai cán bộ vô rừng. Trên đường quay về nhà, bà bị địch bắt. Thằng thiếu úy cảnh sát quận Đầm Dơi trực tiếp tra tấn bà. Chúng dùng cây, cứ nhè hai chân và đầu gối bà mà đập. Bà không hé răng. Một tuần sau, anh em du kích đã tìm cách cứu được bà. Sau mấy tháng trời nằm liệt, chạy chữa bằng mọi cách, bà đã hồi phục. Từ ngày đó, bà rời khỏi ấp, trực tiếp đi nuôi quân. Cái tên bà má Đầm Dơi có từ ngày ấy.


Những ngày bị giặc bao vây càn quét, anh em đói quá phải ăn nhân trái đước. Má có mặt! Những ngày cuối năm, Tết đến, má như con thoi, thoăn thoắt chèo ghe trên sông mang bánh tét, thịt heo chia cho anh em. Xuồng ghe của bộ đội ken dày trên mặt sông, má chèo xuồng tới chia bánh, chia thịt và dặn dò, động viên anh em. Tóc bạc nhưng lưng má không còng. Má đã đứng thẳng suốt hai cuộc kháng chiến. Trong vùng, ai cũng biết cũng trọng bà má Đầm Dơi, bà má đảng viên của những người con đều là  đảng viên như má...


Má Bảy dọn cơm lên bàn ăn. Mùi thơm nghi ngút bốc lên. Cá lóc kho tộ. Canh chua cá bông lau. Khô cá thiều và rượu đế. Thịnh cười rạng rỡ gương mặt, xới cơm trắng vào đầy các chén.


- Coi chừng phải nấu thêm cơm đó má. Chúng con đói lắm. Ở nhà máy cũng đang đói gạo, má à.


- Cứ ăn đi. Chỉ đói con mắt đó thôi. Ăn cho no đi. Khi nào về, má cho mỗi đứa thùng gạo. Ăn đi mấy chú. Kìa, Bảy, con dầm ớt vào chén nước mắm. Ăn cho nóng con!


*


*           *


Đêm ấy, ngồi trong mùng của mình, Thịnh đã kể cho má nghe chuyện đói gạo, đói giấy của nhà máy. Đống củi đước cháy liu riu giữa nhà. Giường bên kia, má Bảy quạt cho hai cháu ngủ, miệng bỏm bẻm nhai trầu. Trong đầu bà má bảy mươi tuổi lại đang xốn xang những lo âu, suy nghĩ. Ai dè vào tuổi này, má lại có dịp làm quân sư cho con trai ruột của mình; giống như thời đánh Pháp, đánh Mỹ, má đã làm quân sư cho anh em Giải phóng. Má nói chậm rãi:


- Em gái mày nó phụ trách nông nghiệp của huyện. Em rể mày ở phòng công nghiệp. Nếu bên Ủy ban huyện tụi nó đồng ý cho đất, mà chuyện đó dễ ợt, đất bạt ngàn, ai tiếc làm gì. Chỉ có ngại là cách làm thôi. Không lẽ bắt mấy cô mấy cậu thợ in đi làm đất? Biết cách chi mà làm! Không chừng, để má tính coi, tụi bay về gom tiền lại, đem xuống đây, nếu có xăng dầu nữa là nhứt, có thể thuê máy cày của huyện làm đất, rồi nhờ bà con người ta sạ giùm cho. Đất này, gặp mưa, xuống giống xong là kể như trúng rồi đó. Mày lạ gì...


- Vậy thì tuyệt, má à. Hôm trước ở thành phố, con đã gặp Chủ tịch huyện nhà. Bạn cũ của con mà. Cậu ấy đã hứa cho nhà máy hai chục mẫu.


- Ờ, ngon rồi. Lo mà làm tới đi con!


- Dạ. Má à, vợ chồng con tính...


- Mày lại dụ tao lên Sài Gòn chớ gì?


- Má già rồi... Con muốn được ở gần để phụng dưỡng má.


- Tao còn khỏe mà. Mày hãy nuôi mấy đứa cháu nội cho giỏi là tao vui lòng rồi, vài tháng tao lên thăm, ở chơi vài bữa rồi về. Tao còn hai đứa em gái mày ở đây. Chúng nó cần tao hơn. Nói với vợ mày, má hiểu lòng các con, nhưng má còn mạnh, tự làm được. Khỏi lo cho má! Các con làm ăn tấn tới, ở nhà máy được anh em họ thương, là má yên cái bụng rồi. Khỏi lo cho má. Tội nghiệp, cứ nghĩ đến cảnh mấy đứa cháu nội phải ăn cơm độn bo bo, má mắc lo mà mất ngủ.


Tiếng những con chim ăn đêm trong rừng đước vọng về. Đã khuya lắm rồi. Đống lửa giữa nhà tàn dần. Muỗi kêu rộ lên như sáo diều. Má Bảy vén mùng bước xuống thổi lửa. Ánh lửa hắt lên soi tỏ từng nếp nhăn trên mặt má. Vầng trán cao và đôi mắt vẫn tinh tường của má sáng lên. Mái tóc bạc trắng của má phất phơ theo ngọn gió lạnh từ rừng đước thổi vào. Má ngồi yên hồi lâu nhìn đống lửa cháy. Tiếng củi nổ lép bép. Muỗi thấy lửa và khói lại dạt vào gầm giường hoặc bay ra ngoài. Trên chiếc giường lớn ở gần cửa ra vào, Lộc và An đã ngủ ngon, tiếng An ngáy đều đều. Lần đầu An xuống nơi cuối đất cùng trời của Tổ quốc. Bốn chục tuổi đầu, hai mươi năm làm thợ in nhưng đây là lần đầu tiên An ra khỏi thành phố Sài Gòn. Từ ngày nhà máy trở thành xí nghiệp quốc doanh, An - người thợ sắp chữ giỏi - tỏ ra tích cực trong mọi công tác của nhà máy. Đại hội công nhân viên chức đã bầu An làm thư ký công đoàn. Một công việc hoàn toàn mới mẻ. Giám đốc Thịnh đã dạy anh bài học vỡ lòng đầu tiên về công tác công đoàn. Rồi An được đi học mấy tháng ở trường Cán bộ công đoàn thành phố. Học về, nghe ban giám đốc bàn chuyện tăng gia sản xuất, An hăng hái nhận chỉ đạo công tác này. Về quê nội của Thịnh, gặp bà má của giám đốc, An càng thấy kính mến đồng chí giám đốc của mình. Có một quê hương như vậy, có một bà má như vậy thì đứa con - giám đốc Thịnh - phải tốt như vậy, điều mà bấy lâu thắc mắc, nay An đã hiểu ra. Những phẩm chất trong Thịnh khích lệ những phần sôi động nhất của tâm tư An, giúp cho An thêm say mê với phong trào của nhà máy. Nằm nghe má con đồng chí giám đốc nói chuyện, An cảm nhận được những cái cao đẹp nhất của người Cộng sản lại chính là những điều giản dị nhất, giản dị như cuộc đời. An ngủ thiếp đi. Giấc ngủ ngon như ở nhà mình. Lộc cũng ngáy đều đều tự lúc nào. Cánh tay Lộc lòi ra ngoài mùng. Mấy con muỗi đua nhau hút máu no rồi ngã kềnh ra trên chiếu. Má Bảy rón rén cầm tay Lộc đẩy vào trong, ghép mùng sâu dưới chiếu. Căn nhà chìm sâu vào đêm yên tĩnh.


Suốt ngày Thịnh, Lộc, An làm việc ở huyện. Nhờ má, nhờ bạn bè và hai vợ chồng cô em gái, mọi đề nghị của Thịnh được chấp thuận mau lẹ. Anh dặn dò An mọi việc để An ở lại trụ bám sản xuất. Công việc được bàn tính tới khuya mới xong. Sáng sớm hôm sau, Thịnh chia tay má, cùng Lộc về Sài Gòn. Ở đó, một nhiệm vụ mới, đầy khó khăn, cản trở đang chờ hai người.


 


hai


Rời Cà Mau, chiếc xe du lịch màu trắng hiệu Galant thận trọng bò trên đoạn đường rất xấu từ Cà Mau đi Bạc Liêu. Ông Sáu, đã ba chục năm trong nghề cầm lái rồi, cũng phải đổ mồ hôi trán khi điều khiển chiếc xe trên đoạn đường này. Ông quý trọng hai thủ trưởng của mình. Ngồi trên cùng một băng phía sau, họ đang nói chuyện với nhau. Ông không muốn vì xe xóc quá, vòng cua tránh ổ gà gấp quá mà ngắt quãng câu chuyện của họ. Họ nhỏ hơn ông cả chục tuổi mà sao chí hướng của họ, tâm tưởng của họ, tấm lòng của họ quảng đại thế. Hầu như lúc nào cũng thấy họ nói với nhau về việc chung, suy nghĩ đến đau đầu về việc chung. Họ làm việc ở nhà máy không kể giờ giấc. Họ quên cả ăn, quên cả việc nhà, vợ con họ thế nào chả hờn dỗi... Có lẽ vì thế mà ông, chính ông cũng thấy vui lòng và tự hào được làm việc cùng những thủ trưởng như thế.


Con lộ nhỏ, từ thời Pháp đến giờ hầu như chưa thay đổi gì. Mặt lộ chi chít ổ gà, hố rãnh ngập nước. Chỉ cần sơ ý một chút, để xe lọt xuống đó, có lên được cũng bể bô như chơi. Mấy chiếc xe Peugeot 404 mang bảng số 69... lao lên trước xe ông Sáu. Từ ngày những kẻ giàu có, thừa tiền của từ Sài Gòn về đây tìm đường vượt biên, xe Peugeot 404 bỏ lại Cà Mau ngày càng nhiều. Các cơ quan tỉnh huyện tha hồ sử dụng xe hơi. Có người gọi tỉnh này với cái tên mới là tỉnh Cát Xăng Cát5. Ông Sáu nghĩ: Toàn xe mới cảo, những nhà giàu có thường mua xe đắt tiền về trùm mền, cuối tuần mới chở vợ con đi chơi. Nay nó thuộc về nhà nước, liệu mấy anh bạn đồng nghiệp của tôi có gìn giữ được cho ngon mà xài không? Cái lối chạy ào ào, bất chấp cả mặt đường có những gì thế kia thì sức mấy mà bền đẹp được. Thiệt uổng! Mà cũng lạ, Sở Kiều lộ của tỉnh này, giải phóng đã ba năm rồi, có đoạn đường ruột nối hai thị xã lớn mà hổng sửa! Kỳ thiệt!


Qua Bạc Liêu, xe lăn bánh trên lộ Bốn6 với bề dày bê tông nhựa đúng tiêu chuẩn. Ông Sáu thừa hiểu ngày xưa hệ thống cầu đường của miền Nam được xây cất rất công phu. Mỹ nó xài nhiều chứ dân mình xài mấy! Cầu lớn đều được lao bằng dầm bê tông tiền áp, xài hoài không hư. Xa lộ thì cứ năm năm một lần đổ lên lớp bê tông nhựa nóng dày năm xăng ti mét. Thế mới là xa lộ chứ. Xe hơi chạy một trăm năm chục cây số một giờ vẫn bám đường, không hề dằn, xóc. Con lộ lóa lên dưới ánh nắng, tạo ra ảo giác như có nước ở trên mặt. Xe ông Sáu chạy với tốc độ tám chục cây số một giờ. Ông không bao giờ chạy lẹ quá. Tính ông vốn cẩn thận. Ba chục năm cầm vô lăng đã rèn cho ông sự thận trọng cũng như sự nhạy cảm, xử lý tay lái linh hoạt, đó là hai đức tính quí nhất mà người lái xe phải có. Thịnh quay cửa kính xe cho bớt gió. Anh đang trao đổi với Lộc về nội dung cuộc họp giám đốc ngày mai. Thịnh biết rằng vấn đề sản xuất bột giấy sẽ gặp trở ngại trước hết là sự phản đối của Tư Phát. Hảo thì dễ thôi. Về cơ bản, Hảo là một người rất thận trọng. Khi bầu Hảo làm bí thư chi bộ, Thịnh yên tâm, rất yên tâm. Nhưng sự thận trọng của Hảo khác hẳn lối thận trọng của Tư Phát. Là phó giám đốc phụ trách kinh doanh, Phát đã thay Thịnh giải quyết mọi việc khi Thịnh đi vắng. Về chuyện làm bột giấy, Thịnh biết chắc là Hảo sẽ đồng ý, dù còn chút e ngại. Vấn đề chỉ còn là Tư Phát. Ông ta sẽ lồng lên cho mà coi. Đã mấy tuần nay, ông ta đã chạy lên Xí nghiệp Liên hiệp kêu ca, báo cáo đủ điều. Chuyện đó không phải không gây dư luận eo xèo về Thịnh. Phó tổng giám đốc Xí nghiệp Liên hiệp -Học - lại được dịp phản đối anh. Rất may là trong ban lãnh đạo Xí nghiệp Liên hiệp, không phải ai cũng nghi ngại Thịnh như là phó tổng giám đốc Học.


Từ lúc xe rời khỏi Bạc Liêu, hai người đã trao đổi với nhau về cách triển khai kế hoạch làm bột giấy. Bây giờ cái khó nhất không phải là có tiền vốn, có nhân lực hay không, cái khó nhất bây giờ là các anh có xé rào hay không? Nếu các anh có gan xé rào thì người ta có để các anh xé hay không? Lộc xoay người lại, nhìn chằm chằm vào mắt Thịnh:


- Công việc và kết quả của nó sẽ bảo vệ chúng ta.


- Vẫn biết vậy. Nhưng bớt được những trở ngại nào đỡ chừng đó. Có cách nào không?


Thịnh có thói quen, trước khi làm việc gì, gặp khó khăn gì, anh thường đặt ra nhiều, thật nhiều câu hỏi cho bạn bè, cho cấp dưới nhưng cũng là cho chính anh. Tìm ra câu trả lời đúng thì anh mới bắt tay vào làm. Khi đã có câu trả lời đúng, anh quyết tâm làm bằng được. Không gì có thể cản ngăn được con người đó nữa.


Lộc nhoài người về phía trước, nhấn nút hộp quẹt bằng điện của xe hơi. Lộc rút thuốc lá đưa cho Thịnh, Thịnh giơ tay từ chối, mắt vẫn đăm chiêu nghĩ ngợi, chờ câu trả lời của Lộc. Cái hộp quẹt điện nảy một tiếng tách. Ông Sáu nhanh tay rút thỏi quẹt đỏ đầu đưa cho Lộc. Khói thuốc lá thơm thơm. Lộc đưa điếu thuốc cho ông Sáu rồi châm điếu thứ hai cho mình. Rít vài hơi thuốc, Lộc mới trả lời Thịnh. Câu nói bộc bạch tất cả sự suy nghĩ giản đơn của anh:


- Cứ làm tới đi. Nghĩ chi nhiều nữa cho mệt!


Thịnh cười. Trong thâm tâm, Thịnh rất nể và trọng người bạn tri kỷ của mình. Mối thâm tình của hai người không chỉ do cùng cội nguồn từ thuở còn hàn vi, lúc mới đi theo Cách mạng. Tình cảm của họ ngày càng bền chặt là bởi họ hiểu được cái tâm của nhau, tin nhau, vì nhau và cùng vì sự sống còn của nhà máy. Có nhiều đêm, họ bàn công việc của nhà máy bằng cái kiểu rất lạ: Họ ngồi nhìn nhau, im lặng hút thuốc hàng hai ba giờ liền. Người xưa gọi đó là đối diện đàm tâm7 . Cho đến khi chiếc gạt tàn đầy tràn tàn thuốc rồi họ mới chia tay nhau. Những lúc như thế, Lộc chẳng nói chi nhiều ngoài câu: Cứ làm tới đi. Nói như thế tức là Lộc đã tin tuyệt đối vào cách làm của Thịnh. Không phải Lộc không có suy nghĩ riêng, nhưng đó chỉ là trường hợp hãn hữu. Những lúc ấy, biện pháp mà Lộc đưa ra thường làm Thịnh vui mừng đến xúc động. Thịnh hiểu Lộc ít nói, chỉ suy nghĩ để hành động chứ không suy nghĩ để chỉ nói. Ngay cả trong hiện tại, Thịnh cũng luôn luôn bị Lộc chê là nghĩ ngợi nhiều vô bổ.


Cứ làm tới đi. Chiếc cằm vuông của Lộc càng bành ra khi anh rít thuốc. Điếu thuốc cháy đỏ đến tận ngón tay nóng ran lên anh mới chịu dụi vào chiếc gạt tàn chìm trong cửa xe. Lộc nới nút ở ngực áo sơ mi, xắn cao tay áo lên, hai tay choàng về phía trước ôm lấy thân ghế. Cái cách anh ngồi xe hơi cũng lạ. Anh muốn nắm tất cả vào lòng mình, vào bàn tay mình. Anh tin mình chắc ăn khi đã làm bất cứ việc gì. Gió thổi qua cửa xe làm cho mái tóc của Lộc luôn dựng đứng, càng chổng lên thêm y như lông nhím lúc gặp nguy biến.


- Ông nghĩ đơn giản lắm. Người ta có thể bỏ tù chúng ta nếu chúng ta vi phạm thể chế hiện hành, vi phạm những nguyên tắc quản lý xí nghiệp, quản lý kinh tế.


- Nhưng chúng ta vi phạm một số nguyên tắc đã lỗi thời, còn nguyên lý của Chủ nghĩa Xã hội, ta có vi phạm hồi nào?


- Được đó. Ông nói câu đó nghe đã quá!


- Những nguyên tắc ấy, chính sánh ấy đẻ ra từ hồi anh và tôi chưa lấy vợ, từ những năm năm chín sáu mươi, hơn hai chục năm còn gì!


- Đúng vậy. Vấn đề là phải làm cho mọi người hiểu ra điều đó.


- Hãy làm cho họ hiểu bằng kết quả việc làm của ta!


Đến trạm kiểm soát, xe chạy chậm lại và ngừng hẳn. Ông Sáu xuống xe trình giấy. Một thanh niên mặc quần đen, áo đen, súng AR15 của Mỹ lăm lăm trên tay đi về phía chiếc xe, nét mặt nghênh ngang. Lộc bấm Thịnh. Họ nhìn nhau như muốn nói: Không biết ai đẻ ra cái trò quá quắt này?


Có hàng chục chiếc xe đò, xe du lịch đậu nép bên lề đường chờ kiểm soát. Hành khách trên các xe đò lộ rõ vẻ bất bình trên mặt. Sau khi coi cốp xe và thùng xe của chiếc Galant, người thanh niên mới chịu giở tờ giấy của ông Sáu đưa ra coi. Phải mất năm phút sau, anh ta mới đọc xong được mảnh giấy. Anh ta vội vàng trả lại tờ giấy, ra hiệu cho xe đi. Nụ cười gượng gạo nở trên gương mặt còn non choẹt nhưng xạm đen vì nắng có mấy sợi râu mọc lộn xộn trên mép. Cũng như hôm từ Sài Gòn đi, xe của họ phải dừng lại trước hàng chục trạm kiểm soát như vậy. Tính ra, mỗi lượt đi, mỗi chiếc xe đã phải mất ít nhất bốn giờ đồng hồ cho cái việc kiểm soát đó. Báo chí đã nói nhiều về những chuyện quá quắt của các trạm kiểm soát mà nhân dân gọi là trạm ngăn sông cấm chợ. Nhưng hiện trạng vẫn tồn tại với lý do: Họ phải quản lý lương thực, không cho bọn tư thương đầu cơ, thao túng!


Thịnh thở dài. Ông Sáu nhìn qua kính chiếu hậu và hiểu thủ trưởng của mình rất buồn vì thực tế ở dọc đường. Đột nhiên Thịnh hỏi ông Sáu:


- Ông Sáu thấy thế nào?


- Dạ, thủ trưởng hỏi với ý gì ạ? Tác dụng, hiệu quả hay là chuyện cần hay không cần?


- Tất cả.


- Dạ, cần thì có lẽ cần. Phải kiểm soát chớ. Nhưng kiểm soát ai, bắt giữ món đồ gì mới là hệ trọng. Còn dân đi lại, ba cái đồ gạo thịt đậu mắm, phải để thông thương chớ. Xưa nay, cấm chợ ngăn sông có phải là thượng sách đâu!


- Bà già tôi lên thăm tôi, mang theo mấy ký nếp, mấy ký đường mà cũng bị tịch thu đó!


- Trời đất! Bà già của thủ trưởng mà họ còn làm khó?


- Ha ha ha! - Thịnh cười lớn - Bộ ông Sáu tưởng bà già tôi là... ghê gớm lắm sao? Ha ha ha!


- Mọi chuyện này phải mau mau dẹp đi. Không còn ra làm sao nữa! - Lộc xen vào.


- Ai dẹp? - Thịnh hỏi Lộc.


- Nhà nước chứ ai?


- Nhà nước nào? Trung ương hay địa phương? Ông quên mất nạn Phép vua thua lệ làng rồi sao? Ha ha ha!


Thịnh cười. Tiếng cười của anh như muốn xua đi mọi nỗi bực bội và nhọc nhằn. Cười xong, anh trở lại vẻ thanh thản của mình. Lộc và ông Sáu cũng bị tác động của tiếng cười ấy.


Chiếc Galant vào thành phố. Họ dừng lại trước một tiệm phở. Tấm bảng nhỏ đã bong gần hết sơn, còn lờ mờ hàng chữ: “Phở Cây dầu”. Người nấu phở là một phụ nữ đã ngoài bốn mươi, thân hình đẫy đà. Đôi bàn tay của bà thoăn thoắt xếp từng lát thịt bò tươi rói xắt mỏng vào tô phở. Mùi nước lèo béo ngậy. Váng mỡ bò vàng óng như kén tằm Tân Châu. Ông Sáu và Lộc ăn rất chăm chú, ngon miệng. Thịnh vừa ăn vừa quan sát. Một cô gái có gương mặt trái xoan, rất giống bà chủ, với giọng nói ngọt và trong:


- Thưa, mấy chú uống chi ạ?


Thịnh nhìn cô gái mặc đồ bộ trắng điểm những chấm nhỏ màu hồng may rất sát eo người, eo nhỏ càng làm nổi bật bộ ngực căng tròn chắc nịch, đầy sức trẻ. Một cô gái đẹp. Thịnh nghĩ. Đôi môi cô đang cười rất tươi chờ câu trả lời của anh.


- Cho tôi cà phê đá. - Thịnh nói nhỏ, rồi quay sang hai người - Mấy ông uống gì, kêu đi.


- Nước trà đá. - Lộc nói.


- Tôi cũng vậy. - Ông Sáu đáp.


Thịnh rút bóp kêu tính tiền. Con gái bà chủ làm công việc này. Cô nhỏ nhẹ:


- Dạ, ba tô ba chục. Cà phê đá và trà đá mười lăm là bốn lăm đồng hết thảy, chú ạ.


Lộc lên tiếng:


- Trời đất! Lên giá rồi hả? Hôm trước có năm đồng một tô.


- Dạ, bởi cải tạo mà! Từ hôm cải tạo tư sản thương nghiệp đến nay đồ lên cao quá hà. - Bà chủ rời quầy phở trả lời thay con.


- Hừ. Đã ai đụng đến tiệm phở của chị đâu nào? - Lộc gay gắt - Khéo mượn cớ cải tạo để tăng giá, hốt bạc.


- Dạ, nhưng giá cả ở chợ lên dữ quá hà. Thịt bò lên tới ba chục một ký rồi đó. Mấy chú thấy không? - Người đàn bà liếc xéo Lộc một cái thật nhanh rồi lủi vô phía trong.


Thịnh nhìn Lộc:


- Ta về thôi. Con ông đang mong ông về đó!


- Chết cha rồi! Quên mua mấy trái khóm ở cầu Bến Lức cho sắp nhỏ. - Lộc kêu lên khi bước ra xe.


Ông Sáu vội nói:


- Dạ, bà má gửi cho mỗi người bao gạo đó. Vậy là có quà quý nhất rồi còn gì.


Lộc vỗ tay bốp bốp:


- Ờ. Phải rồi. Tuyệt quá ha. Yên tâm, có điểm với bà xã!


 


ba


Tại nhà của trưởng phòng tổng hợp Nguyễn Sáng, thứ năm và thứ bảy đêm nào cũng tụ tập mươi, mười lăm người còn trẻ. Trước hết, họ là bạn thân của Sáng. Họ đến đây để học tiếng Anh và tiếng Nga. Từ bảy rưỡi đến tám rưỡi, họ học tiếng Anh. Nghỉ nửa giờ là hò hát, có đàn piano đệm theo. Từ chín giờ đến mười giờ, họ học tiếng Nga. Đây chẳng phải là lớp học của nhà máy, mà chỉ do sáng kiến của Sáng. Người học là bạn của Sáng mà người dạy cũng là bạn của Sáng. Trong số học trò có cặp Hải - Lệ Thy và Thanh, một công nhân in của nhà máy. Số còn lại, hầu hết cùng tốt nghiệp đại học một khóa với Sáng và đều đi làm ở các  nhà máy. Một vài người không đi làm vì không chịu rời Sài Gòn đến các tỉnh xa.


Trong nhà, ngoài Sáng ra, còn có má của Sáng, một người ngót sáu mươi, tóc vẫn còn đen, gương mặt trẻ hơn nhiều so với tuổi. Bà là chủ một cửa hiệu tạp hóa với doanh thu cỡ một ngàn đồng mỗi tháng. Em gái của Sáng, một nữ sinh trường Dược, đang học thì nghỉ để lấy chồng. Chồng của Loan - tên cô em gái - là trung úy cảnh sát, đang đi học cải tạo. Từ ngày chồng đi cải tạo, Loan về ở với mẹ và anh trai. Trên Sáng là anh Hai. Năm bảy mươi tư, anh Hai của Sáng tốt nghiệp Y khoa ở New York (Hoa Kỳ), hạng ưu, được một bệnh viện lớn tại đó giữ lại làm việc. Trong nhà Sáng, ở một căn phòng đẹp nhất trên lầu hai có bàn thờ ba Sáng. Ông vốn là một chiến sĩ quân giới. Sau khi tập kết ra Bắc, ông làm quản đốc rồi giám đốc một xí nghiệp cơ khí của quân đội. Trong một trận chiến đấu bắn trả máy bay Mỹ năm sáu mươi tám, ông đã hy sinh anh dũng cùng với khẩu đội 37 ly của mình. Tấm bằng Tổ  quốc ghi công mới được đưa về căn nhà này đầu năm bảy mươi tám. Tấm ảnh ông do vợ cất giấu từ năm ông đi tập kết, nay được chụp lại, phóng lớn lên, đặt trên bàn thờ cùng với bằng Tổ quốc ghi công. Căn phòng đó không có ai được vô trừ bà mẹ và cậu con trai. Người mẹ vô đó thắp nhang trước bài vị chồng mỗi buổi sáng. Và người con trai vô đó đọc sách mỗi khi được sự rảnh rang. Bên phía đối diện với bàn thờ, Sáng đã kê cái tủ sách với đủ các loại sách văn học, kinh tế và khoa học. Phần lớn sách khoa học bằng tiếng Anh. Chiếc máy ghi âm để học sinh ngữ đặt trên mặt bàn. Cạnh đó là mấy tập sách Tiếng Nga cho mọi người. Sáng đang học tiếng Nga cùng với Hải. Tiếng Anh thì Sáng thông thạo. Ở lầu hai, ngoài căn phòng đó ra là ba phòng ngủ của má, của em gái và của Sáng. Dưới lầu một, phòng khách dài có bộ xa lông bằng gỗ cẩm lai, đàn piano kê ở góc phòng, giàn máy Akai với hai chiếc loa lớn. Chiếc bàn dài bằng gỗ bọc mica kê mỗi bên sáu chiếc ghế. Từ ngày Sáng cho bạn bè tới học ngoại ngữ, tấm bảng đen lớn được dựng ngay giữa phòng khách. Bên cạnh phòng khách là một nhà tắm rộng và nhà bếp. Trước kia, một nửa của phòng khách này là phòng ăn của gia đình. Tầng trệt là cửa hiệu tạp hóa. Chiếc Lambrettic màu trắng của Sáng và hai chiếc xe đạp dựng kế bên. Cánh cửa sắt vững chắc bảo vệ cửa hiệu và căn nhà, bước qua cửa sắt là lề đường. Đó là một căn hộ đẹp ở trên một con đường đẹp sát chợ Bến Thành. Một đầu đường ăn thông với đường Nguyễn Du bên hông dinh Độc Lập.


Như thường lệ, sau giờ học tiếng Nga, mọi người lục tục ra về. Đã hơn mười giờ đêm rồi. Trên lầu hai, má và em gái Sáng đã đi ngủ. Trong phòng khách, Sáng đang ngồi trò chuyện với Hải, Lệ Thy và hai người thanh niên. Đó là Tâm và Mạnh. Tâm là một kỹ sư cơ khí giỏi, cách đây vài tháng đã tự ý xin thôi việc, vì theo lời Tâm “Nhà máy làm ăn bết quá, hết chịu nổi, ra ngoài làm tư mới sống nổi”. Còn Mạnh, hơn Sáng tới năm sáu tuổi, có hoàn cảnh gia đình rất giống Sáng. Ba của Mạnh cũng chiến đấu và hy sinh ở Hà Nội năm bảy mươi hai dưới bom B52 của Mỹ. Má của Mạnh là chủ sạp vải ở chợ Bến Thành. Mạnh là con trai độc nhất, nổi tiếng trong bạn bè về tài trốn lính những năm trước giải phóng.


Sáng tắt máy điều hòa, mở hết cửa sổ. Một làn gió trong lành của đêm khuya thổi vào làm bay tung mái tóc dợn sóng tự nhiên của Sáng. Trở lại xa lông, lấy tay vuốt mái tóc rất điệu của mình, Sáng nhìn các bạn nói trịnh trọng:


- Đêm nay, tôi mời các bạn ở lại bàn chuyện quan trọng.


- Anh Sáng có vẻ một VIP8 quá há! - Lệ Thy vừa pha cà phê vừa nhìn Sáng châm chọc.


- Suỵt! Không giỡn đâu. Mình muốn Mạnh và Tâm, hai thằng bạn chí cốt vô làm nhà máy. - Sáng nhìn chằm chặp vào mắt Mạnh và Tâm như muốn xem gan ruột họ ra sao.


- Cái gì? Làm thợ in à?


- Không! Làm contract9.


- Làm hợp đồng thôi à?


- Ừ. Hiện tại thì chưa có quyết định chính thức, nhưng như Hải và Lệ Thy đã nghe đó, giám đốc của mình đang tính làm bột giấy. Mình là trợ lý, được chú Thịnh tin cậy, tất nhiên biết được những chuyện hệ trọng. Nhưng mình chỉ bật mí những gì liên quan đến hai bồ thôi. Theo mình, hai ông chơi dài như vậy là đủ rồi đó. Stop đi. Chạy theo người đẹp Sài Gòn mãi rồi cũng nhàm!


- Bộ Sáng chê rồi hả? - Mạnh hỏi và cười mỉm.


- Không. Mình thì sức mấy mà chê!


- Cớ sao nói nhàm?


- Đúng vậy. Phải làm một việc gì đó có lợi: có lợi cho cái chung, cho xã hội. Còn chuyện người đẹp thì khác. Có ai cấm đâu! Nhưng đúng là hai ông phải làm!


Lệ Thy vừa chế nước sôi vào mấy phin10 cà phê, vừa nghe Sáng nói. Hải tiếp lời Sáng:


- Phải đấy. Nếu chuyện làm bột giấy được chính thức thực hiện thì ông Mạnh và ông Tâm có thể làm theo kiểu hợp đồng. Nên lắm. Xưa nay các ông vẫn mê típ người hảo hớn giang hồ, sơn lâm mã thượng. Nay các ông lên rừng đốn tre cắt cỏ làm bột giấy là phải rồi.


- Sao? Anh Mạnh? - Lệ Thy hỏi - Ngán à? Anh Tâm? Sợ xa Sài Gòn à?


- Ư, đi thì đi! - Tâm nói.


- Dô thì dô! - Mạnh tiếp.


- Được nhé. Mình được chú Thịnh giao việc kiếm người làm hợp đồng khai thác nguyên liệu. Mình nghĩ ngay đến hai tướng. Có lý lắm đó. Nhưng tạm thời, cứ im lặng nghe. Ban giám đốc chưa họp mà. Nhớ nghe, cứ im lặng đã. Chừng nào mình bật đèn xanh, nhào dô làm liền!


- Ô kê! - Mạnh vừa dùng muỗng khuấy đường trong tách cà phê vừa tinh nghịch nhìn Lệ Thy - Còn người đẹp, chừng nào lên máy bay đi Paris đó?


Lệ Thy nhìn Mạnh rồi nhìn Hải, cười rất duyên, hai lúm đồng tiền in trên má:


- Chừng nào anh Mạnh, anh Tâm lên rừng đốn tre thì Lệ Thy mới đi.


- Bộ tính để thằng Hải mồ côi sao? - Tâm chọc.


- Hứ! Hãy lo cái thân ông đi. Làm ra vẻ đào hoa hoài mà chưa có mối nào! - Lệ Thy đáp. Cô quay sang người yêu - Uống đi anh! - Lệ Thy đưa ly cà phê đá cho Hải.


- Anh không uống nổi đâu. Bớt cà phê đi, cho anh đá cục nữa.


- Nhõng nhẽo quá trời há. - Mạnh vẫn chưa thôi châm chọc.


Hải cười hiền khô, không nói gì. Lệ Thy chu mỏ làm bộ chanh chua nói:


- Ảnh nhõng nhẽo bồ của ảnh, chứ có nhõng nhẽo người nào đâu mà sợ!


- À. Ghê thiệt! Cô này là chúa ghen đó nghe.


- Phải yêu người ta mới ghen chớ. Dễ mà được ghen đấy!


- Hèn chi! Suốt ngày ngồi dưới nhà “A lô” cho Hải. Có biết đâu trong phòng lạnh ở lầu tư, chàng kỹ sư hóa chất lại đang pha thuốc hiện hình cùng hòa theo những lời ngọt ngào rót vào tai cô công nhân chế bản...


- Quỉ sứ! - Lệ Thy nhào tới đấm thùm thụp vào vai Mạnh - Đừng có suy bụng ta ra bụng người nữa ông.


Mọi người cười rộ. Lệ Thy mặt đỏ gay lặng lẽ uống nước đá lạnh.


Có tiếng bước chân nhè nhẹ xuống cầu thang. Bà mẹ xuất hiện ở cửa phòng. Mọi người nhìn ra. Trên gương mặt phúc hậu của bà như luôn phảng phất một nỗi buồn. Điều này xảy ra từ ngày bà tiễn chồng đi kháng chiến. Đứa con trai đầu, bà lo cho ăn học ở nước ngoài, thoát khỏi chuyện đi lính thì ở lại làm việc nơi xứ lạ quê người. Con gái đi lấy chồng nhè ngay một trung úy cảnh sát ngụy mà lấy. Bà đã tuyên bố từ con ngay ngày nó làm đám cưới. Giải phóng, chồng nó đi học tập, bà nghĩ lại, gọi con gái về ở với mình. Nỗi buồn trong lòng người mẹ ngày một sâu thêm. Bà cảm thấy có lỗi với chồng. Chỉ trừ những lúc bà cười, còn lại, lúc nào cũng thấy vẻ ưu tư trên mặt bà. Những lúc cười, nụ cười làm cho gương mặt và đôi mắt nhân hậu của bà rạng rỡ lên. Bà mẹ nhìn bọn trẻ, cười với họ và nói:


- Các con đàm đạo chuyện chi vui vậy? Lại chọc Lệ Thy rồi phải không?


- Dạ, chúng con chào má ạ! - Hải đứng dậy lễ phép.


- Mấy ảnh chọc quê con hoài đó, dì Năm.


- Ờ. Mấy đứa cưng con mà. Mặc xác tụi nó. Thôi, khuya rồi, nghỉ đi kẻo ngày mai lại trễ giờ đến nhà máy.


- Dạ thưa má, chúng con về.


Sáng đi theo mở cửa cho các bạn. Lên lầu, Sáng thấy má ngồi ở xa lông chờ anh.


- Má chưa ngủ?


- Ờ. Má thấy đau đầu con ạ.


- Con lấy thuốc cho má.


- Khỏi. Má uống rồi. Hồi chiều người ta lại đến yêu cầu má khai trình đăng ký kinh doanh.


- Ủa, khai hoài vậy má?


- Đợt này khai tùm lum con ạ. Cả đống biểu mẫu.


- Họ quên nhà ta là gia đình liệt sĩ chắc? Sao má không nói cho họ hay?


- Đâu cần, con. Ba con đi làm Cách mạng, rồi hy sinh đâu phải để đổi lấy cái giá nhỏ nhoi là chuyện buôn bán của cửa tiệm này.


- Nhưng họ làm khó má hoài, chịu sao nổi. Con nghe con Loan nó kể, mấy tay ở Ủy ban phường, cán bộ ba mươi tháng tư ấy, dám quát nạt má nữa.


- Có hề chi đâu con. Chính sách của Nhà nước mình phải chấp hành. Còn chuyện vặt ấy, mấy cậu ở Ủy ban nếu có ai lỡ lời nặng nhẹ thì ai mà chấp làm chi.


- Về chuyện này, con phục má đó. Má kiên nhẫn dễ sợ.


- Thôi, đi ngủ đi con.


 - Dạ. Mời má đi ngủ. Con thấy má mệt dữ rồi.


Chuông đồng hồ điểm mười hai tiếng. Sáng lên giường, tay vắt trên trán nghĩ ngợi. Đất nước xem chừng ngày càng khó khăn. Nhà máy thiếu nguyên liệu. Hàng hóa tiêu dùng ít, lương thực không đủ cung cấp, giá cả tăng vọt. Cải tạo tư sản để dẫn tới chuyện này ư? Hay là... Có lẽ má mình nói đúng. Ba đi làm Cách mạng, hy sinh, đâu phải để đổi lấy cái giá nhỏ nhoi là cửa tiệm này! Về mặt này, đúng là má vẫn cao hơn mình mấy cái đầu. Chịu má thật. Má đã hy sinh quá nhiều, đứng vững qua bao thử thách từ ngày ba đi Việt Minh; một mình buôn bán kiếm ăn, nuôi con thành người. Lòng má nghĩ về đất nước, về Cách mạng vẫn chưa hề gợn chút bụi mờ. Ta là con của ba, là con của má. Ta đã làm gì, ta sẽ làm gì để xứng đáng như vậy?


Sáng kéo tấm mền len mỏng lên ngang ngực, rồi ngủ ngon lành.


 


bốn


Ban giám đốc nhà máy in Hy Vọng họp về chuyện bung ra sản xuất bột giấy. Trong phòng giám đốc, ngoài Thịnh, Lộc, Tư Phát và Hảo còn có Sáng, trưởng phòng tổng hợp. Với tư cách là trợ lý của Thịnh, Sáng có mặt trong hầu hết các cuộc họp ban giám đốc để làm cái việc hết sức thông thường là: thư ký, ghi biên bản, và kiêm luôn cả việc nghe điện thoại khi có chuông reo. Trong tất cả những cuộc họp như thế, Sáng luôn luôn làm tròn trách nhiệm của mình. Dần dà, sự có mặt của Sáng trở nên quen thuộc đến nỗi khi nào đó Sáng vô trễ thì Thịnh và mọi người chờ anh.


Như lệ thường, Tư Phát vẫn là người tới sớm nhất. Ông nhẹ nhàng đẩy cửa, khẽ gật đầu với Thịnh rồi lẳng lặng bước vào phòng. Chiếc cặp da màu đen đã sờn mép đặt trên đùi, Tư Phát ngồi thu cả hai chân trên ghế xa lông và hút thuốc. Nét mặt ông lộ rõ những ý nghĩ căng thẳng trước một cuộc họp mà ông tin là sẽ nảy lửa. Thịnh tranh thủ đọc mấy tờ báo ra buổi sáng. Một lát Lộc và Hảo cùng bước vào. Hảo còn trẻ, ba nhăm ba sáu tuổi. Năm anh chỉ huy đại đội chiến đấu chống lại quân Mỹ trong trận càn ở Bến Cát, anh mới hai mươi tư tuổi. Trong trận đó, đồng đội của anh hy sinh hết. Anh sống sót nhờ một chiến sĩ dũng cảm hất anh xuống hố đạn pháo - lúc đó anh đã bị thương ở vai phải, máu ra nhiều - trước khi một trái đạn rơi trúng chỗ hai người. Hảo có gương mặt xương xương và đôi mắt rất nhân từ thừa hưởng của má anh. Tuy đã chuyển sang học nghề in kể từ sau lần bị trọng thương năm đó, Hảo vẫn giữ nguyên tác phong quân sự. Quần áo anh mặc, dù bằng vải nội hay ngoại đều mang những màu gần giống với màu quân phục. Áo sơ mi dài tay luôn bỏ trong quần. Dây lưng cũng là chiếc dây lưng quân đội. Và anh luôn mang giày, một đôi giày da của sĩ quan. Cái vẻ ngoài đó rất phù hợp với tính nguyên tắc vốn là phong độ của anh. Hảo là phó giám đốc phụ trách kỹ thuật, anh để cả tâm trí vào công việc. Anh say sưa tìm đọc các loại sách về quản lý kinh tế. Việc anh tự học, anh không thích người ta biết. Anh kín đáo và trầm lặng, ít bộc lộ tình cảm ra ngoài - trừ đôi mắt nhân hậu của anh. Điều đó cũng dễ hiểu. Dù đã bước vào tuổi ba mươi sáu, anh vẫn chưa lập gia đình. Vợ anh, người vợ trẻ, dịu hiền, mới cưới được vài tháng ở chiến khu đã phải xa nhau. Một tháng sau đó, chị đã hy sinh dũng cảm sau khi cùng đội biệt động đánh sập căn nhà của bọn giặc lái Mỹ ở trung tâm Sài Gòn. Đó là người con gái mà Hảo yêu say đắm. Anh không thể nào quên được vợ mình. Từ đó, anh chưa thể yêu ai. Niềm say mê của anh bây giờ là nhà máy. Nhà máy đang gặp khó khăn quá lớn: thiếu giấy. Anh rất đau khổ mỗi lần nhìn những chiếc máy nằm im lìm. Cách đây một tuần, giám đốc Thịnh đã thông báo ý định sản xuất bột giấy cho ban giám đốc, yêu cầu suy nghĩ để hôm nay họp bàn. Trong thâm tâm, Hảo rất mừng. Nếu như việc sản xuất thành công, nhà máy Hy Vọng sẽ tràn trề hy vọng. Còn ngược lại... Hảo đã suy nghĩ liền mấy đêm. Hôm nay anh sẽ phát biểu gì với Thịnh đây? Là phó giám đốc kỹ thuật, anh có thể không cần phát biểu gì cả. Anh tin ở Thịnh. Nhưng với tư cách là bí thư chi bộ, anh phải có ý kiến. Anh biết ý kiến của anh sẽ làm cho cán cân nghiêng hẳn về một bên hoặc là thăng bằng. Bởi vì, Tư Phát đã tranh thủ gặp anh, thuyết phục anh phản đối Thịnh.


Cả bốn người đã ngồi ở thế đối diện nhau trong bộ ghế xa lông quây quanh chiếc bàn thấp bằng kính dày màu rượu boọcđô. Thịnh vẫn im lặng đọc báo. Cuộc họp chưa bắt đầu vì Sáng chưa tới. Không một thoáng sốt ruột gì trên gương mặt mỗi người. Ai cũng muốn kéo dài thời giờ im lặng này trước khi vào cuộc chiến. Nhưng rồi Sáng cũng tới. Trẻ trung, khỏe mạnh và rất gọn gàng, nhanh nhẹn, Sáng bước vào căn phòng tưởng như làm cho tất cả đồ vật, con người bừng tỉnh thức. Sáng ngồi vào chiếc ghế quen thuộc, nơi đó có một chiếc bàn nhỏ, gần chỗ đặt máy điện thoại. Cuốn sổ ghi biên bản được mở ra. Chờ cho Lệ Thy đặt năm tách cà phê đen vào năm chỗ cần đặt, cánh cửa khép lại, Thịnh vào đề. Giọng anh sôi nổi ngay từ phút đầu:


- Hôm nay, chúng ta bàn tới một vấn đề liên quan đến vận mệnh của nhà máy, vận mệnh của mỗi chúng ta, vận mệnh của mỗi công nhân ở đây. Thực tế sản xuất gần một năm qua, kể từ ngày nhà máy được quốc hữu hóa cho thấy: Chúng ta sẽ bị phá sản nếu kéo dài tình trạng hiện nay. Lối thoát mà chúng ta phải mở là tạo ra nguồn nguyên liệu: giấy! Giấy trắng bây giờ không chỉ là giấy trắng nữa. Giấy trắng bây giờ đã là tấm lòng của chúng ta, nhiệt tình của chúng ta và ý chí của chúng ta. Tôi đã thông báo với các đồng chí, cách nay một tuần, về ý định mà người ta có thể gọi bằng chữ “bung ra” sản xuất bột giấy. Bây giờ, đề nghị các đồng chí bày tỏ ý kiến của mình.


Thịnh vừa nói vừa nhìn vào từng đôi mắt các đồng chí mình. Lời nói và cái nhìn của anh có tác dụng như mồi lửa châm vào thuốc súng. Nó bén lửa ngay, Lộc là người bốc lửa trước tiên:


- Tôi nghĩ rằng đó là lối thoát duy nhất của nhà máy. Tôi ủng hộ việc đó. - Uống liền một hơi cạn tách cà phê đen, như uống bia, Lộc đặt tách sứ xuống đĩa. Anh nói tiếp - Nếu chúng ta nhất trí, mà theo tôi thì không thể nào không nhất trí, -Lộc nhìn vào Tư Phát rồi nhấn mạnh mấy từ này - chúng ta sẽ tìm ra cách thực hiện. Tôi đã suy nghĩ  nhiều về cách để thực hiện việc này.


- Đề nghị đồng chí Lộc cho nghe cách làm của đồng chí. - Tư Phát chống hai tay lên đầu gối, đưa người về phía trước, tay gỡ cặp kiếng trắng ra khỏi mắt và hỏi Lộc.


- Tôi muốn biết anh có nhất trí làm việc đó không đã?


- Tôi có ý kiến của tôi. Tôi muốn được nghe anh nói hết ý kiến của anh trước.


- Được. Thế này, gần hai tháng qua tôi và đồng chí giám đốc suy nghĩ rất lung về chuyện này. Chúng tôi đã đi gõ cửa nhiều nhà, nhiều cơ quan. Chúng tôi đã được nghe nhiều ý kiến phản đối, đồng tình và góp ý nữa. Cuối cùng, tôi  thấy rằng, một là - thói quen của Lộc là không thích nói dài dòng, anh đơn giản hóa, mạch lạc hóa mọi vấn đề bằng một là, hai là - phải bung ra làm bột giấy. Hai là phải vay tiền. Ba là phải huy động nhân lực. Bốn là phải mua máy sản xuất bột. Tất cả bốn việc trên đều có thể làm được nếu như chúng ta không bị ngăn cản và chúng ta quyết tâm...


- Đó! Vấn đề là ở chỗ đó. - Tư Phát lại gỡ cặp kiếng ra khỏi mắt, giọng đanh lại - Vấn đề là ở chỗ nếu như đó đó. Khổ một nỗi, cái nếu như mà anh vừa nói lại là một tất yếu!


- Tức là anh không đồng ý việc làm bột giấy? - Lộc hỏi lại.


- Tôi không nói như vậy. Tôi chỉ nói là việc làm đó là không được phép!


- Của ai?


- Anh tự biết rồi đấy. Chúng ta làm ngành in, nhà máy chúng ta không phải nhà máy giấy. Có lẽ nào chúng ta lại đi sản xuất giấy? Ai cho phép? Đó là thứ nhất. Thứ hai là nếu cứ làm, ai cho ta vay vốn? Ngân hàng thì không đời nào. Còn nếu vay vốn của tư nhân ư? Của các cơ quan là khách hàng ư? Một sự vi phạm nguyên tắc rất nguy hiểm. Nếu chúng ta muốn mình trở thành một tổ hợp tư nhân, phá bỏ thể chế, nguyên tắc quản lý kinh tế xã hội chủ nghĩa thì chúng ta cứ việc làm việc đó. Mặt khác, các đồng chí nên nhớ là thành phố coi chúng ta là nhà máy đầu đàn của ngành in. Nhất nhất việc gì chúng ta làm cũng ảnh hưởng đến toàn ngành. Tôi được biết ban lãnh đạo Xí nghiệp Liên hiệp không đồng ý cho chúng ta làm bột giấy. Phó tổng giám đốc - đồng chí Học - phản đối rất quyết liệt. Liệu chúng ta có thể qua mặt cấp trên? Tôi nghĩ đây là vấn đề thể hiện sự vững vàng hay nghiêng ngả của lập trường tư tưởng, phẩm chất đảng viên. Trong hoàn cảnh khó khăn như hiện nay, Đảng đòi hỏi mỗi đảng viên phải trung thành với Đảng, phải bảo vệ nguyên tắc, đường lối của Đảng. Thời gian gần đây, đã có nhiều cán bộ đảng viên mất phẩm chất, chạy theo qui luật thị trường tự do, buông lỏng cơ chế của chuyên chính vô sản trong lãnh đạo và chỉ đạo. Thật là nguy hiểm! Tôi nghĩ rằng chúng ta có đủ sáng suốt để cảnh giác, để khỏi sa vào bẫy mà kẻ thù luôn giương sẵn...


Lời lẽ của Tư Phát cứ như bật ra từ một khẩu liên thanh. Mọi người hút thuốc và rõ ràng là cố kiên nhẫn nghe ông nói. Khói thuốc lá ngột ngạt trong căn phòng đóng kín cửa vì có máy lạnh.


- Trong những lúc khó khăn như thế này, - Tư Phát tiếp - chúng ta càng nên vững vàng, các đồng chí ạ. Chúng ta phải nghiêm chỉnh chấp hành nguyên tắc đường lối của Đảng. Y như ở chiến trường. Kẻ nào vi phạm kỷ luật chiến trường, kẻ đó phải chịu hậu quả. Nếu như mệnh lệnh ban ra mà không được chấp hành nghiêm túc thì làm sao mà chiến thắng được. Thế đấy. Phải nắm vững và bảo vệ nguyên tắc của Đảng...


- Anh có gì mới hơn ngoài ý vừa nói không? - Không kìm được, Thịnh ngắt lời Phát.


- Sao? Đồng chí cho đó là vấn đề cũ à?


- Tôi hỏi anh có ý gì mới, xung quanh chuyện sản xuất của nhà máy.


- Tôi đã bày tỏ ý kiến của mình.


- Thôi được. Anh nói hay lắm. Chả trách anh Học vẫn khen anh là người có tài hùng biện. Nhưng tôi nghĩ, một người nói hay chỉ có ích khi mà lời nói của anh ta giúp cho người nghe vượt mọi khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình: Trong chiến tranh thì là thắng giặc; trong hòa bình là làm ra của cải vật chất cho xã hội. Nếu nói hay mà không góp phần làm ra sản phẩm thì chỉ là nói dóc. Hơn thế nữa, nếu nói hay mà nhằm mục đích cho người ta an phận, thúc thủ, bó tay ngồi chờ thì nên dẹp anh ta đi cho rồi. Thời cổ, các hoàng đế đã ban thưởng rất lớn cho các thuyết khách, các quân sư, nếu họ góp phần làm ra thắng lợi, và ngược lại đã sai chém đầu những quân sư quạt mo...


Lệ Thy bước vào, cô khéo léo thu dọn đĩa, tách cà phê vào chiếc khay màu xanh và rót nước trà ra những chiếc tách sứ trắng. Nước trà thơm phức bốc khói. Thịnh dừng lời, mắt như nhìn cô nhân viên một cách chăm chú. Cánh cửa đóng lại, anh nói tiếp:


- Cảm ơn anh Tư đã cho chúng tôi bài học về cảnh giác cách mạng, về lòng trung thành. Bây giờ xin hỏi anh, và mong được trả lời ngắn gọn nhất: Anh không nhất trí với Phương án Giấy trắng?


- Nghĩa là làm bột giấy?


- Phải. Cậu Sáng đã đặt cái tên mà tôi nghĩ là rất hay cho công việc đó.


- Phương án Giấy trắng. Hừ. Hay thiệt. Rất tiếc là tôi không thể đồng ý với việc giẫm đạp lên nguyên tắc, lên chế độ chính sách hiện hành!


- Kể cả những nguyên tắc, chế độ chính sách đã lỗi thời?


- Anh cho cái gì là lỗi thời? - Vết thẹo trên má Tư Phát giật giật liên hồi. Mồ hôi ông rịn ra trên trán.


- Thí dụ như các quy định về quyền sử dụng tài chính, chế độ thưởng, chế độ bồi dưỡng độc hại… ban hành từ năm một ngàn chín trăm năm mươi chín đến nay. Doanh nghiệp mà không có quyền tự chủ về tài chính thì làm ăn sao được?


- Khi nó chưa được sửa đổi thì nó còn căn bản pháp lý!


- À. Ra vậy đó. Anh Tư ạ, tôi buộc lòng phải nói thẳng ra rằng: Anh là một kẻ há miệng chờ sung rụng! - Giọng Thịnh gay gắt.


- Đừng xúc phạm! - Tư Phát đập bàn quát lên. Chiếc ấm trà bằng sứ của hãng Nôritakê Nhựt Bổn nẩy tưng lên và rơi xuống sàn nhà vỡ tan. Nước trà vàng sậm loang lổ.


- Anh nổi nóng vô lối quá đấy. Làm sao ta tranh luận được?


- Tranh luận kiểu gì? Anh tưởng cứ là giám đốc là có quyền xúc phạm người khác đó à? Này, lúc tôi là trung đội trưởng thì anh mới là cậu bé con mười lăm tuổi, quần xà lỏn thủng đít, áo rách bươm bỏ nhà vô cứ11 thôi đấy!


- Tôi biết chứ anh Tư, nhưng điều đó có liên hệ gì đến chuyện làm bột giấy? Thôi, xin anh bớt nóng. Tôi không có ý xúc phạm anh.


Im lặng bao trùm căn phòng. Chiếc đồng hồ trên tường điểm mười tiếng chuông, hết những tiếng ngân nga của nó, sự im lặng lại đè nặng trên vai bốn người đang đối diện nhau. Những gì đang diễn ra trong đầu của họ? Những gì đang bùng lên trong lòng họ? Họ ngồi đó, chìm trong khói thuốc và sự im lặng. Họ ngồi mà nhìn nhau, giận dữ hay cảm thông, đồng lòng hay kỳ thị? Giám đốc Thịnh cảm thấy nực nội đến cao độ. Anh đưa mắt nhìn Sáng. Hiểu ý, Sáng nhanh nhẹn kéo rèm cửa. Tiếng ròng rọc chạy ro ro. Những tấm rèm cửa màu vàng lần lượt thu lại, cửa kính được mở ra. Gió ngoài trời thốc vào phòng. Khói thuốc lá theo chiều gió thoát ra khỏi cửa sổ phía đối diện mang theo sự im lặng và bực bội của căn phòng. Sáng nhấn nút số ba, những chiếc quạt bàn Sanyo quay nhanh. Không khí trong phòng trở nên thanh thoát. Tiếng Lệ Thy vang trong máy bộ đàm:


- Thưa chú, khách chờ quá nhiều ạ.


- Phòng sản xuất đâu?


- Dạ, ảnh đang tiếp khách ạ. Nhưng có nhiều người đòi gặp chú cơ.


- Tôi bận. Mời họ chiều lại.


- Dạ.


Một lát, tiếng của Lực phó phòng sản xuất vang trong máy:


- Báo cáo anh Thịnh, lu bu quá ạ!


- Cái gì, nói đi, bớt mấy câu “lu bu quá” đi. Không có nó ta cũng xù ra rồi.


- Dạ, thói quen mà anh! Báo cáo anh, khách đến quá nhiều, cuối năm rồi, hợp đồng in của họ chưa được ta thực hiện.


- Anh cứ  nói thẳng với họ là không có giấy.


- Dạ, nói rồi ạ. Lu bu quá! Họ nói tại sao hồi đầu năm nhận in?


- Có trời mà biết nổi! Nhà máy in thì phải nhận hợp đồng chứ sao? Nói với họ là mang giấy đến! Chúng tôi chưa làm ra giấy!


- Lu bu quá. Chết thật!


Trở lại chỗ ngồi, Thịnh nhìn Tư Phát:


- Anh thấy đấy, chúng ta đang ngồi ở miệng núi lửa!


- Tôi hiểu. Vấn đề là không có cách nào chữa cháy đâu. Phụ trách kinh doanh, tôi cũng mong nhà máy làm ăn khấm khá chứ!


- Còn Phương án Giấy trắng?


- Tôi không muốn vào tù.


- Được. Anh cứ việc bảo lưu ý kiến của anh. Anh sợ vào tù. Anh sợ trách nhiệm. Nói thẳng ra như thế cho rồi. - Thịnh quay sang phía Hảo - Còn đồng chí, với cương vị bí thư chi bộ?


Hảo nãy giờ chỉ chờ câu hỏi đó. Anh nói trầm tĩnh:


- Anh hỏi tôi với cương vị bí thư chi bộ thì tôi xin được nói thẳng: Tôi rất lo lắng khi chúng ta xé rào. Cấp trên sẽ kỷ luật chúng ta. Anh Tư Phát có lý của anh ấy.


- Nhưng anh phản đối hay đồng ý?


- Tôi không phản đối, anh Thịnh ạ. Nhưng tôi lo lắng…


- Tốt rồi. Không phản đối là tốt rồi. Còn lo lắng thì rất đúng. Tôi lo hơn anh. Tôi là giám đốc mà. Coi như anh đã đồng ý. Cái quan trọng là chúng ta dám làm. Đã dám làm thì dám chịu, phải không? Nếu vào tù, tôi sẽ ngồi trong nhà đá, chứ không phải các anh. Nhưng tốt nhất là sẽ không để chuyện đó xảy ra. Trong những lúc khó khăn, Đảng đòi hỏi chúng ta chỉ được phép nghĩ đến thắng lợi, phải vượt khó mà đi lên. Tính cách mạng có phải là vậy không, anh Tư?


Tư Phát không nói gì. Ông rời ghế xa lông đi tới chỗ bàn của thư ký:


- Cậu ghi vào biên bản là tôi phản đối Phương án Giấy trắng. Số phiếu một trên ba!


- Không đâu, anh Tư ạ. Tôi nghĩ rằng phương án này sẽ được sáu trăm công nhân nhà máy ủng hộ đấy. Như thế, tỉ lệ sẽ là năm trăm chín mươi chín trên một cơ. - Thịnh vừa cười vừa nói.


- Cứ tin là như vậy đi. Hãy chờ xem! Tôi thất vọng và tự giận mình là đã không làm cho các anh sáng mắt ra.


- Cám ơn anh Tư về ý định tốt của anh! - Lộc nói, không giấu nổi bực bội - Tôi cũng nói rằng anh cứ việc chờ, rồi xem ai sáng mắt ra, anh hay chúng tôi.


- Tôi sẽ chống đến cùng! - Tư Phát nhìn thẳng vào Thịnh và Lộc - Có chuyện gì xảy ra, đừng trách là tôi đã không nói trước.


Tư Phát nói rồi cắp cặp bước ra.


- Yên tâm đi, anh Tư! - Thịnh cười. Tiếng cười bỗng vang lên thật sảng khoái.


Tiếng cười đầy ắp căn phòng khiến cho vẻ mặt những người ngồi đó tươi tỉnh lên. Họ cùng hiểu rằng ngay từ bây giờ, họ càng phải gắn bó với nhau hơn, để cùng nhau bước vào trận đấu mới. Trong trận đấu này, chắc chắn họ sẽ bị coi là phạm quy, nhưng phần thắng phải thuộc về họ.


 


năm


Lầu tám của một khu nhà mười một tầng xưa kia là trụ sở của cơ quan viện trợ Mỹ USAID. Trên chiếc giường không nệm, đứa con trai hai tuổi của Lộc đang sốt cao. Vợ Lộc, một phụ nữ có nét mặt già trước tuổi ba mươi lăm của chị - hậu quả của những năm tháng vất vả, đang nghiền thuốc cho con uống. Đứa bé bị viêm họng mãn tính, sốt cao suốt mấy ngày nay. Chồng bỏ nhà đi từ sáng sớm đến khuya mới về, mình chị phải lo cơm nước, giặt giũ cho cả nhà, đồng thời phải đi làm đúng giờ như mọi công nhân khác. Chị là nhân viên phòng tổ chức của một xí nghiệp sản xuất bột giặt ở thành phố. Cách đây mười lăm năm, khi cô gái tên Hà mới hai mươi tuổi, cô đã yêu say đắm anh chàng nhà báo đến xí nghiệp của cô ở vùng mỏ Quảng Ninh. Họ sống với nhau rất hạnh phúc. Ba đứa con trai lần lượt ra đời. Tuy nhiên, khi còn làm báo cũng như khi chuyển qua làm kinh tế, Lộc rất ít ở nhà. Hà hiểu và chấp nhận chuyện đó ngay từ khi chưa cưới. Chị hiểu mà chị vẫn yêu anh say đắm. Chị bằng lòng làm mọi chuyện ở nhà một cách chu tất và vui vẻ để chồng mình yên tâm công tác. Mặt khác, chị cũng luôn luôn là một cán bộ làm trọn phận sự của mình tại xí nghiệp. Đứa con trai lớn của chị được mười bốn tuổi. Nó ra đời sau khi vợ chồng cưới nhau một năm. Hai năm sau, đứa con thứ hai ra đời. Hai anh em nó giống cha như đúc. Chúng khỏe mạnh, thông minh, chúng là niềm vui, niềm tự hào của chị. Nhiều lúc vắng chồng, chị nhớ anh và dành tình yêu tha thiết của mình vào việc chăm sóc dạy dỗ các con. Đất nước được giải phóng, chị dắt con theo chồng vào Sài Gòn. Lộc say sưa đi tới những miền đất mà anh đã sinh ra, lớn lên và chiến đấu thuở trước. Những bài báo, những tấm ảnh của anh nói lên tất cả tấm lòng của anh với quê hương. Chuyện nhà cửa, Lộc vẫn phó thác cho vợ. Hà giận chồng, vì với sự quen biết và uy tín, sao không chịu xin nhà riêng mà ở, cứ ở cheo leo tít trên lầu tám như vầy. Thang máy hư, mọi người phải leo thang bộ mà lên. Điện mất, không có nước, phải xách nước từ dưới đất lên. Rồi củi, rồi gạo... cái gì cũng phải vác trên vai leo qua một trăm chín mươi sáu bậc thang mà lên. Sức lực vì thế càng giảm xuống. Chị già trước tuổi. Đứa con trai thứ ba ra đời càng làm chị già thêm, gia đình đã túng, càng túng hơn. Con đau, chị xin cơ quan cho nghỉ, trưởng phòng nói với chị:


- Chị nghỉ nhiều quá sao tiện?


Khổ chưa! Có bao giờ chị mang tiếng là bê bối việc nhà nước đâu cơ chứ! Đưa con đi bệnh viện, không may, chị gặp một bác sĩ hỏi bệnh chứ không phải là khám bệnh, kê cho vài món thuốc, đi mua khắp các cửa hiệu quốc doanh không được. Chị dằn lòng, ra chợ trời mua thuốc cho con. Thuốc gì cũng có ở đây. Chợ trời thuốc tây ở đầu đường Lê Thánh Tôn - Trương Định. Đúng là một kho thuốc. Thuốc nội, thuốc ngoại, thuốc Pháp, thuốc Mỹ, thuốc Hungary, Liên Xô... có đủ cả. Lương của chị có hạn, trong khi đó, theo đơn của bác sĩ, số tiền mua thuốc cộng lại khá nhiều. Ông bà ngoại ở Quảng Ninh. Ông bà nội ở Bến Tre. Chẳng nhờ vả được ai, phải tự lo hết. Đứa bé ho, lòng chị đau nhói theo cơn ho của con. Chị cắn môi, nín tiếng khóc chỉ chực bật ra.


Mười giờ đêm rồi mà chồng vẫn chưa về. Hai đứa con trai lớn ngủ ngay trên sàn nhà. Đứa nhỏ nằm sấp đang ú ớ nói mê. Buổi chiều đi đá banh với sắp nhỏ ở dưới đường, đêm về nó la hét như đang đá banh thiệt. Nó giống cha nó từ tật thích đá banh. Trận đấu nào ở sân Thống Nhất ba nó cũng cho nó theo. Đứa lớn nhất đã có dáng thanh niên, cao to giống bố, biết nghĩ như người lớn. Nó học giỏi và chăm làm phụ giúp chị. Chị ẵm thằng Tuấn dậy, cho con uống thuốc. Mùi thuốc Ampi dù đã nghiền chung với vitamin B1 và vitamin C, hòa bằng nước sirô ho ngọt lịm mà vẫn hôi dễ sợ. Chị nựng con, cho con uống từng muỗng nhỏ. Mắt đứa bé đen láy nhìn mẹ không chớp, uống hết được mấy muỗng thuốc rồi nhoẻn miệng cười. Đột ngột cơn ho dội lên. Mặt đứa bé đỏ gay, ho rũ rượi. Hà luôn tay vuốt nơi ngực con, miệng xuýt xoa, mắt nhìn con lo lắng. Cơn ho lên đến cực độ. Đứa bé nôn thốc ra ngoài số thuốc vừa uống lẫn với đờm rãi. Hà lấy khăn lau miệng con, ôm chặt con vào lòng, nước mắt ứa ra. Chị nhìn lên trên tường nơi có treo chiếc khung ảnh hai vợ chồng ngày cưới. Chị thốt lên thành lời:


- Anh ơi! Sao giờ này chưa về với em với con! - Nước mắt lăn qua đôi má đã hằn rõ nếp nhăn rơi lã chã xuống đứa bé. Chị nựng con. Đứa nhỏ sau cơn ho mệt quá ngủ thiếp đi. Tiếng khò khè rít qua hơi thở của nó.


Đã ba ngày nay Lộc không về nhà. Hôm đi, Lộc nói với vợ là sau hai ngày anh sẽ về. Vậy mà công việc đã làm anh sai hẹn như đã nhiều lần sai hẹn với vợ. Suốt ba ngày qua, anh đã lội khắp vùng rừng hoang của Đồng Nai, Sông Bé. Hàng ngàn héc ta cỏ Mỹ, nguyên liệu làm giấy mới được phát hiện, đã lôi cuốn anh, mang đến cho anh niềm say mê không thể nào dứt ra nổi. Được sự đồng ý của chính quyền địa phương, anh sẽ tiến hành việc khai thác cỏ Mỹ tại đây. Lộc nghĩ vấn đề nhân lực sẽ không thể nào giải quyết nổi, nếu không dựa vào lực lượng lao động tại chỗ. Nhân dân ở đây đa số theo đạo Thiên Chúa. Làm thế nào vận động bà con hợp tác với nhà máy, cắt cỏ bán cho nhà máy? Mùa khô nắng như thiêu như đốt, cỏ Mỹ dễ bắt lửa như xăng vậy. Chỉ cần sơ ý một chút là hàng ngàn héc ta cỏ này sẽ biến thành biển lửa. Cháy cỏ đã đành, cháy vào nhà cửa tài sản của dân, thì chỉ có nước vào tù. Vấn đề không còn dừng lại ở việc cắt cỏ nữa. Phải làm thế nào để mỗi người dân đi cắt cỏ đồng thời là một chiến sĩ bảo vệ cỏ, cảnh giác với bọn phá hoại đang trà trộn ở vùng này. Mệt. Đói. Khát. Lo cho vợ và con ở nhà. Đứa con đang bịnh không biết giờ này ra sao? Nhưng cỏ Mỹ và những vấn đề đi theo nó đã giữ chân Lộc ở lại.


Vốn là một người chỉ quen tìm ra lối thoát cho mọi khó khăn bằng chính công việc, Lộc quyết định không cần suy nghĩ dài dòng, cứ làm rồi khắc tìm ra lối thoát. Anh vào bưu điện, điện về cho Thịnh: “Yêu cầu cho lực lượng khai thác lên gấp. Cỏ Mỹ rất nhiều đang chờ chúng ta. Chú ý lo đồ ăn. Ở trên này dân còn thiếu ăn. Nhớ mang theo mùng vì muỗi rất nhiều. Lộc”.


Từ bưu điện bước ra, Lộc đi thẳng đến nhà thờ gần đó. Không gặp khó khăn gì, anh đã được linh mục trông coi xứ đạo tiếp kiến.


- Thưa cha, tôi ở nhà máy in Hy Vọng. Chúng tôi có ý định khai thác nguồn cỏ Mỹ có sẵn ở đây đưa về nhà máy sản xuất ra giấy. Chúng tôi mong được cha đồng tình. Tôi nghĩ rằng, nếu như có lời của cha thì bà con giáo dân sẽ đi cắt cỏ bán cho nhà máy. Chúng tôi có thể trả bằng tiền hoặc bằng gạo, thưa cha.


Vị linh mục sau khi nghe Lộc nói, quan sát anh rất kỹ càng rồi giơ tay làm dấu Thánh giá:


- Cầu Chúa ban phước lành cho anh! Nghe anh nói, ta hiểu đó là việc của đời. Nhưng Chúa đã chẳng dạy những con chiên của Chúa phải làm điều lành đó sao. Ta bằng lòng.


Lộc lễ phép:


- Xin chân thành cảm ơn cha!


Lộc được vị linh mục dẫn đi thăm khu vực giáo đường. Đây là một nhà thờ lớn xây từ thời Pháp. Lối kiến trúc theo kiểu Gôtích quả là đã làm cho người ta có cảm giác nhỏ bé lại trước vũ trụ, trước Chúa. Từ trong nhà thờ nhìn lên, mười bốn bức tranh kể về sự tích Chúa Jésus chịu chết được ánh sáng từ bên ngoài rọi tới tạo ra vẻ sinh động lạ thường. Nhìn lên bục giảng của nhà thờ, Lộc nghĩ: Thật là tuyệt diệu biết bao nếu như trong bài giảng vào sáng chủ nhật tới, ngoài chuyện đạo lại có cả chuyện cắt cỏ Mỹ làm bột giấy. Và nếu như vậy thì tôn giáo với cuộc sống đâu có sự cách bức nữa! Hơn lúc nào hết Lộc tin vào sự nghiệp của nhà máy mình, tin vào mình.


Ở thành phố, Thịnh ký quyết định nhận Mạnh và Tâm vào làm hợp đồng. Theo hợp đồng này, Mạnh là đội trưởng đội khai thác nguyên liệu với sự chỉ đạo trực tiếp của Lộc, sẽ đưa lực lượng lên rừng khai thác cỏ. Nhà máy sẽ thanh toán bằng tiền mặt cho đội khai thác. Đội khai thác có trách nhiệm thanh toán với người khai thác bằng tiền mặt hoặc bằng lương thực tùy theo yêu cầu của người cắt cỏ. Phương tiện vận chuyển do nhà máy chịu trách nhiệm. Giá cước vận chuyển trừ vào giá thành mỗi tấn cỏ v.v...


Buổi sáng hôm đó, Sáng, Hải, Lệ Thy cùng nhiều người ở nhà máy đưa tiễn đội khai thác lên rừng. Từ trên chiếc xe vận tải, Sáng và Mạnh nhảy xuống báo cáo với giám đốc Thịnh. Sáng nói rành mạch:


- Thưa chú, mọi chuyện đã chuẩn bị xong.


- Tốt! Cậu đi với anh em trong đợt đầu này nhé. - Thịnh để tay lên vai Sáng, tay kia lên vai của Mạnh, nhìn sâu vào mắt họ.


- Chú yên tâm. Con trai Sài Gòn đã nói là làm, chú ạ. Chịu chơi mà! - Mạnh nói và cười, đưa tay vuốt mái tóc đen mượt, đội lên chiếc nón bằng nhựa màu vàng vốn là nón chuyên dùng của thợ xây dựng. Trong bộ quần áo jean và đôi giày đi rừng - không biết họ kiếm được từ lúc nào - Mạnh và Tâm trông thật phong trần, rắn rỏi. Nét mặt và ánh mắt của họ đã thay cho lời hứa với giám đốc. Xe nổ máy. Lệ Thy nhìn theo và cô nhìn thật lâu vào đôi mắt của Sáng, người bạn thân nhất của cô, người rất nhiệt tình vun đắp cho cô với Hải. Nhưng cô vẫn biết trong lòng Sáng có một tình cảm khác thường dành cho cô.


*


*           *


Thịnh tới nhà Lộc, anh kiên nhẫn đếm từng bước một cho đủ một trăm chín mươi sáu bậc cầu thang. Anh nghĩ: “Mình ở lầu tư đã thấy cao rồi, Lộc còn ở cao gấp hai mình”. Đứa con trai thứ hai của Lộc ra mở cửa:


- Chú vô trong nhà chờ má con. Má đi mua thuốc cho em bé. Nó không chịu ngủ, ho suốt đêm.


Thịnh đến bên giường đặt tay lên trán đứa nhỏ. Trán đứa bé nóng hầm hập. Người nó đẫm mồi hôi. Đứa bé ngủ thiếp đi, giấc ngủ nặng nề qua hơi thở khò khè. Bất giác lòng Thịnh rưng rưng. Anh thật có lỗi với Lộc. Thịnh nhìn quanh nhà, trống tuềnh trống toàng, không một chiếc ghế để ngồi. Trong góc phòng cạnh toa lét, nồi xoong chỏng chơ bên cạnh chai nước mắm đã cạn và chiếc hỏa lò lạnh tanh. Một chậu quần áo đầy ắp chưa giặt. Có tiếng bước chân dừng trước cửa. Vợ Lộc cất tiếng chào Thịnh:


- Anh đến chơi! Mời anh ngồi tạm. Không biết ba thằng Tuấn chừng nào về, hả anh?


- Tôi thật có lỗi. Cháu bệnh lâu chưa hả chị? Tôi không biết nên đã để ảnh đi công tác trong hoàn cảnh này.


- Dạ không sao đâu anh. Má con em quen cảnh này rồi!


- Sao không đưa cháu đi bệnh viện?


- Dạ rồi, nhưng bác sĩ không cho cháu nằm. Không trách được họ, bệnh viện đông người quá.


Thịnh ngồi im không nói gì. Hà lấy bó rau muống ra khỏi giỏ, một miếng thịt được để một cách cẩn thận vào cái chén nhỏ. Bữa ăn cả ngày của ba mẹ con chỉ có thế. Thịnh đang lặng người đi suy nghĩ: “Sao mà cảnh nhà Lộc giống cảnh nhà mình đến thế”. Đứa bé đột nhiên nổi cơn ho dữ dội. Đôi bàn chân nhỏ xíu của nó cứ giật giật lên theo từng cơn ho. Hà vội đến ôm con, miệng nựng con, tay vuốt lên ngực thằng bé.


- Chị ráng lên, tôi sẽ điện cho anh Lộc về ngay.- Thịnh không biết nói gì sau câu nói đó nữa.


Đôi mắt người mẹ mở lớn, sáng lên nghị lực của một phụ nữ đã quen chịu nhiều vất vả thiếu thốn:


- Không sao đâu anh ạ. Cứ để ba cháu lo xong việc đã. Má con em tự lo được mà!


Thịnh rút bóp kín đáo đặt mấy tờ giấy bạc xuống cuối giường rồi đứng dậy:


- Thôi xin phép chị tôi về. - Anh vuốt tóc đứa con trai thứ hai của Lộc - Chú về nghe.


- Dạ, chào chú ạ.


Đứa bé lễ phép tiễn Thịnh ra cửa.


Căn nhà bị cúp điện. Cầu thang tối om như đêm ba mươi. Thịnh lần từng bước, nép sát vào vách tường bên phải mà xuống. Miệng anh nhẩm tính từng lầu. Cứ qua được mười hai bậc thang anh lại trừ bớt đi một lầu. Tới lầu tư, một cô gái đứng nghỉ, chiếc xe đạp dựng sát vào vách tường. Tối như hũ nút, không trông thấy gì, Thịnh xô vào cô gái. Cô gái kêu lên:


- Trời đất! Có người nè!


- Xin lỗi. Xin lỗi!


Vừa nói, Thịnh vừa cố nhìn. Một gương mặt còn trẻ, có lẽ khá xinh lờ mờ hiện ra. Anh bước vội xuống cầu thang...


 


sáu


Suy cho cùng thì con người ai cũng hướng tới những cái đích cao hơn cái mình đã đạt được. Tuy nhiên, trong quá trình tự hoàn thiện, dễ nhận ra hai loại người. Loại thứ nhất muốn đạt tới vinh quang, muốn tiến lên bằng lao động sáng tạo, bằng sự phấn đấu của thể chất và tâm hồn. Đây là những con người chân chính, muốn đóng góp cá nhân mình vào sự tiến hóa của cả nhân loại, cả tập thể. Loại người này có lẽ nên dùng chữ đầy khát vọng. Loại thứ hai lại bằng con đường khác. Để tiến thân, có chức có quyền hay có thể làm giàu, họ dùng thủ đoạn, sự giảo hoạt để đạt tới. Họ đạp lên lưng, lên đầu người khác mà đi. Họ cướp công người khác. Trong trường hợp không giở những thủ đoạn trắng trợn ấy được thì họ bôi đen người khác, tìm mọi cách hãm hại, hạ thấp người khác để tự đề cao mình. Loại người này tuy ít gặp nhưng ở nơi nào cũng có.  Loại người này đầy tham vọng. Phó giám đốc ngành in Hữu Học thuộc loại người này.


Học có dáng vẻ của một con người nhanh nhẹn, hoạt bát mà phong độ, nói năng đủ cho ta kết luận - dù chỉ mới gặp lần đầu - rằng anh rất giảo hoạt và hơi huênh hoang. Anh tốt nghiệp Đại học Kinh tế kế hoạch ở Hà Nội, hệ hàm thụ. Ngay từ khi chưa học xong chương trình đại học, Học đã luôn luôn tỏ ra rất coi thường những người không có bằng cấp. Đối với Học, mảnh bằng là cái mốc đánh dấu trình độ của một cán bộ, hơn thế, Học coi nó là cái mộc.  Bởi vậy, Học đã bằng mọi cách giành được tấm bằng đại học. Có được tấm bằng rồi, anh chẳng khó khăn gì từ một nhân viên kế toán ngoi lên chức phó phòng kế toán tài vụ. Ở cương vị này, bằng những thủ đoạn tinh vi, tế nhị nhất, Học đã chứng minh cho mọi người trong nhà máy thấy rằng mọi công việc của phòng tài vụ đều do anh và chỉ có anh mới giải quyết nổi. Chẳng bao lâu, người trưởng phòng được Học thay thế! Từ khi lên chức trưởng phòng tài vụ, Học càng được dịp sử dụng nghệ thuật luồn lách của mình. Anh biết lúc nào cần huênh hoang, lúc nào cần khúm núm. Anh biết những nhược điểm của cấp trên để khi cần thì đánh, cũng như khi cần thì ghé vai đỡ giúp. Thế rồi Học ngoi lên đến chức phó giám đốc xí nghiệp. Ngay trong thời kỳ này Học đã bị Thịnh nhiều lần vạch mặt chỉ tên. Vốn không chịu nổi sự giả dối, Thịnh đã thẳng thắn phê phán Học. Và thế là Học luôn luôn khắc ghi mối hiềm khích này, nó thường trực trong anh, chờ dịp trả thù. Khi còn ở Hà Nội, Học và Thịnh đều là phó giám đốc, Học phụ trách kinh doanh, còn Thịnh phụ trách sản xuất và kỹ thuật. Đến khi vào cải tạo ngành in thành phố, Học tỏ ra nhanh chân lẹ miệng hơn hẳn mọi người. Anh được cử giữ chức Phó tổng giám đốc Xí nghiệp Liên hiệp, còn Thịnh thì giám đốc một xí nghiệp, cấp dưới của Học. Trong thâm tâm, Học vẫn chưa hài lòng với thực trạng này. Dù là cấp dưới, nhưng Thịnh lại đứng đầu một nhà máy lớn nhất, hiện đại nhất, nhà máy đầu đàn của cả ngành in. Và điều đó luôn luôn là sự không vui canh cánh bên lòng.


Rất mừng cho Học là đã có Lê Phát vốn là chỗ tâm giao của Học. Chính Học đã đề nghị cấp trên cho Lê Phát làm Phó giám đốc Hy Vọng. Quan hệ giữa Học và Tư Phát càng gắn bó mật thiết hơn khi vợ Lê Phát đứng ra giới thiệu Nhàn với Học. Là người bà con xa của Tảo - vợ Lê Phát - Nhàn là một cô gái con nhà cực giàu, ngoài ba mươi mà chưa chịu kết hôn với ai. Ba má của Nhàn là chủ một hãng thầu lớn đã bỏ đi nước ngoài năm bảy mươi sáu, Nhàn ở một mình trong căn nhà đúc hai lầu khá đồ sộ. Nhờ vợ chồng Lê Phát mối lái, Học nhận Nhàn vào làm nhân viên trong Xí nghiệp Liên hiệp, rồi sau đó kết hôn với cô. Đám cưới của Học và Nhàn tổ chức rất linh đình. Việc Học lấy Nhàn lúc đầu có gây dư luận eo xèo, nhưng chẳng ai làm gì được Học. Nhà cô ấy không có ai theo Mỹ ngụy, ba má cô ấy đi theo sự bảo lãnh của người con trai, kỹ sư chế tạo máy đang làm việc ở Bỉ. Nhàn chưa có chồng, Học chưa có vợ. Vậy là hợp pháp rồi. Hơn nữa, là phó giám đốc phụ trách tổ chức, uy của Học ghê lắm chớ! Ai dám làm gì?


Thông qua Tư Phát, một người rất thích báo cáo, Học nắm được từng diễn biến dù nhỏ nhất ở nhà máy Hy Vọng. Từ chuyện Thịnh không tuyển dụng cán bộ mới, mà dùng công nhân tại chỗ làm công việc quản lý sản xuất, đến chuyện Thịnh tỏ ra ưu ái linh mục Đạt. Đặc biệt là chuyện làm bột giấy. Đã đến lúc Học phản công rồi! Học nghĩ vậy.


Trong cuộc họp ban tổng giám đốc Xí nghiệp Liên hiệp, Học đưa vấn đề này ra. Nhưng lạ thay, ngoài ý kiến phản đối quyết liệt của Học, tổng giám đốc và năm phó tổng giám đốc khác đều có thái độ dè dặt. Họ thống nhất với nhau rằng Thịnh tìm cách gỡ thế bí là đáng hoan nghênh. Nhưng cái cách để làm việc đó như thế nào thì chưa thể kết luận ngay được. Thậm chí, tổng giám đốc còn nói là biết đâu Hy Vọng lại sẽ mở đầu cho một giai đoạn mới.


Học biết chưa đến lúc mở cuộc phản công. Bây giờ phải tạo dư luận, gieo rắc nghi ngờ đã. Khi nào có được những chứng cớ rồi mới phản kích. Vốn dày dạn kinh nghiệm trong chuyện đấu đá này, Học nói như nhắc nhở mọi người:


- Tôi thấy chúng ta nên theo dõi sát tình hình ở Hy Vọng. Không thể chủ quan để cho ban giám đốc nhà máy Hy Vọng đi quá đà. Tôi rất lo cho Hy Vọng, đơn vị mà chúng ta lấy làm đầu đàn, rất dễ rơi vào cái bẫy của khuynh hướng tư sản trong quản lý kinh tế. Ở đó, ngay trong nội bộ ban giám đốc đã có sự không thống nhất. Tôi đề nghị chúng ta hãy cảnh giác đề phòng.


Lời cảnh tỉnh của Học không gây được sức nặng như tham vọng của anh. Anh cũng biết chưa phải lúc. Nhưng dù sao, khi đã nêu vấn đề đó ra trước cuộc họp của ban tổng giám đốc, Học vẫn có quyền tự hào mình là người kiên quyết chống các hiện tượng tiêu cực. Và quả thật, nhiều người vẫn đánh giá anh như thế. Cảnh giác cách mạng, chống đường lối hữu khuynh... đó là những lời mà Học thường phát biểu.


*


*           *


Sau cuộc họp ban giám đốc mà Tư Phát bị Thịnh kêu bằng kẻ há miệng chờ sung rụng, Tư Phát ức lắm. Ngày hôm sau, khi thảo luận về vấn đề lập đội khai thác nguyên liệu, Tư Phát không dự. Ông quyết định ở ngoài cuộc. Ông chỉ còn có việc tối tối đến chơi nhà Học, uống rượu với Học, báo cáo với Học để nguôi đi cơn giận của mình. Ở đây, ông được cả Học và Nhàn, nhất là Nhàn tiếp đãi tử tế. Uống rượu Hennessy pha soda, ăn các món ăn ngon và nói chuyện đời, đó là những cái mà Tư Phát từ thích đến quen dần, rồi ao ước. Ông thèm khát được như Học. Ông ghen với Học: Vợ trẻ, đẹp, mơn mởn và hấp dẫn, nhà lại giàu, biết cách chiều chuộng và lịch thiệp khi tiếp khách. Nghĩ đến cảnh vợ chồng ông, ông lại thở dài. Hai vợ chồng già, sống bằng đồng lương nhà nước, không con cái, nghĩ đến cũng đủ não nề huống chi là sống trong cảnh đó.


Chiều hôm ấy, rời nhà máy, ông tính về nhà. Đến ngã tư, không hiểu thế nào ông lại quẹo tay lái chiếc Honda về hướng nhà Học. Căn nhà nằm im lìm trên con đường vắng, xung quanh những cây dầu cao vút, lá xanh quanh năm. Trong sân nhà không thấy xe hơi của Học, ông tính quay xe về thì tiếng của Nhàn vọng ra ngọt xớt:


- Anh Tư! Mời anh vô nhà đi anh! Nhà em hôm nay về trễ một chút thôi à.


Nhàn thoăn thoắt từ trên lầu xuống mở cửa đón Phát. Chiếc váy dài mặc ở nhà bằng valize trắng muốt, cổ hở rộng, sát nách, để lộ thân hình chắc nịch, không mặc áo ngực của Nhàn. Theo Nhàn lên lầu, Tư Phát nổi cả da gà khi nhận ra mình đi quá gần người đàn bà mà mùi da thịt hay mùi dầu thơm không rõ, cứ tỏa ra ngất ngây. Nhàn mời Tư Phát ngồi xuống ghế xa lông rồi mở quạt. Nhàn ngồi đối diện với Tư Phát, hai tay đặt lên hai thành ghế. Bộ ngực nhô cao nổi rõ trong làn áo mỏng đang phập phồng như chỉ muốn bung lớp vải mềm mỏng mà xổ ra. Tư Phát thoáng luống cuống. Thấy thế Nhàn lên tiếng:


- Anh ở chơi chờ nhà em về nghe? Hôm nay em mua được thịt nai tơ, ngon lắm anh Tư.


- Tôi e ảnh đi họp về trễ…


- Ờ, không sao đâu. - Mắt Nhàn sáng lên nhìn xoáy vào Tư Phát. Môi Nhàn mọng đỏ nhoẻn một nụ cười cố ý quyến rũ khiến Tư Phát rùng mình cúi xuống, nhìn tách trà - Không sao anh Tư! Em ăn cơm một mình buồn lắm. Anh Tư cứ ở chơi cho vui mà!


Giọng nói ngọt ngào của Nhàn lúc này, khi mà lòng ông thấy trống rỗng, có một sức lôi cuốn kỳ lạ, ông không cưỡng được lý trí nữa. Ông ở lại, Nhàn mau lẹ đứng dậy. Đôi chân dài và cặp mông tròn nhún nhẩy. Cô mở tủ lạnh lấy ra mấy chai bia 33. Tiếng nút chai bật bốp bốp. Bọt bia sủi lên trắng lốp, thơm ngậy. Nhàn cầm ly bia mời ông Tư. Ông nhìn cánh tay trần trắng như sữa của người đàn bà, chớp mắt, tợp một hơi cạn ly bia vàng óng, mát đến tận gan ruột. Nhàn nhìn cử chỉ Tư Phát, tinh ý nhận ra từng diễn biến nhỏ trong tâm trí ông. Cô cũng uống cạn ly của mình. Má cô hồng lên vì men rượu. Cô nhanh nhẹn xuống bếp, một lát mang lên dĩa thịt nai xào lăn hơi bốc thơm lừng. Nhàn đặt dĩa thịt xuống bàn, đưa chén đũa cho ông Tư. Khi đứng lên với tay lấy gói thuốc 555 ở phía bên kia bàn, làm như vô tình, Nhàn đưa cả bộ ngực nóng hổi của cô vào sát người ông. Tư Phát không kịp né tránh. Một sự va chạm cố ý, cùng với men bia và các loại mùi thơm đã lôi cuốn Tư Phát vào mê hồn trận. Nhưng rồi sự việc cũng chỉ đến thế. Nhớ lời vợ ông hồi nào: “Con Nhàn chỉ là họ hàng bà con xa lắc xa lơ của bà già em thôi mà. Phước cho nó gặp chú Học, may ra nó chịu tu tỉnh lại. Trước kia, nó nổi tiếng chơi bời, hết cặp người này đến cặp người khác đó anh”... Ông Tư nhìn vào mắt Nhàn, không còn là cái nhìn của sự buông thả nữa mà là dò xét. Mắt cô ta đang ngày càng long lanh. Đôi môi dày đầy dục vọng kia còn xui cô ta lả lơi tới mức nào đây? Đã cạn hết sáu chai băm ba. Nhàn mở tủ lạnh lấy ra mấy chai nữa. Cô đang vui trong lòng: Hôm nay chồng cô đi xuống tỉnh, không về, cô ở nhà tán lão già này cho vui. Để coi sắt đá có mềm ra không? Trẻ hay già đều có cái hấp dẫn của nó. Đối với Nhàn, biết thế nào cho thỏa chí tò mò! Nghĩ vậy, Nhàn lấy bia, đứng cạnh ông Tư rồi cúi xuống mở nắp chai. Tay cô run run. Mắt cô trào ra những ẩn ức bị dồn nén. Cô nhìn vào gương mặt khắc khổ đã đỏ gay của Tư Phát:


- Uống đi anh! Mấy khi em được chăm sóc anh Tư! Há há há. - Nhàn cười ré lên, ngồi phịch xuống cạnh Tư Phát - Uống đi mà! Lo nghĩ làm chi cho mệt. Anh Tư lớn tuổi rồi. Cả đời đi làm Cách mạng rồi! Cần gì nữa, anh Tư!


Một ý nghĩ lóe lên trong đầu Tư Phát. Đáp lại ư? Chẳng ai biết. Ta sẽ có người đẹp giải sầu. Ta vẫn còn tình bạn, quan hệ với Học. Còn cự tuyệt ư? Ta sẽ mất hết! Dại gì! Nhưng chớ nên nhiệt tình quá. Cứ tà tà...


Tư Phát đưa tay đón ly bia. Nhàn không chịu. Cô tự nâng ly bia lên môi Tư Phát, tay kia choàng qua cổ ông ghì chặt về phía mình. Ông nhìn Nhàn rồi vội vàng uống. Còn một nửa ly, Nhàn cúi xuống uống cạn. Miệng toe toét:


- Ly rượu thề đó anh Tư!


- Hôm nay ảnh không về?


Nhàn cười lẳng lơ:


- Dạ. Bởi có anh Tư rồi mà!


- Nói bậy nào. Chết đó nghe!


- Ai chết? Em chết hay anh chết?


- Cô đó.


- Anh thì có. Anh sẽ chết vì em cho coi! - Nhàn xỉa mạnh đầu ngón tay trỏ vào má Tư Phát.


- Ồ... - Tư Phát vụt đứng dậy. Câu nói như ngọn roi quất vào vết thẹo trên má ông - Thôi xin phép nhá, tôi về đây.


- Kìa, anh Tư! Anh Tư!


Tư Phát đi như chạy ra khỏi phòng. Ông nổ máy xe Honda phóng như bay.


*


*           *


Đêm đó, ông Tư không tài nào ngủ được. Cạnh ông, người vợ hiền, người bạn chiến đấu của ông đã ngủ yên. Ông cựa mình, thở dài. Ông giận mình sao lại để cho một con bé tồi tệ như thế gạ gẫm. Nó cần gì ở mình? Rõ ràng là nó chỉ muốn thỏa mãn dục vọng. Nó sẽ khi rẻ mình, coi mình như mớ giẻ rách. Nó hẳn đã cười thầm: Dù có là Cộng sản, dù có lăn lộn qua hai cuộc kháng chiến thì vẫn phải làm nô lệ cho nó! Ôi! Khốn khổ cái thân ông, sao ông ngu thế! Ông mà còn buông thả mình đến nông nỗi như vậy sao! Nghĩ giận mình, Tư Phát lại nghĩ tới Học. Tội nghiệp cho Học, người mà ông Tư mang ơn, nể phục và tin cậy. Ông đã trả ơn cho Học bằng việc mối lái cho Học một người đàn bà tồi tệ đến vậy hay sao? Tội cho Học quá. Anh ta đâu có biết người vợ mà anh ta yêu thương và tự hào lại có một quá khứ đáng ghê tởm; và hiện tại thì vẫn giữ nguyên bản chất xưa? Không! Thà già như vợ ông, ông vẫn thấy sung sướng hơn nhiều, thảnh thơi hơn nhiều. Bất giác ông đưa tay vuốt má vợ. Lòng ông trào lên tình yêu thương vợ mà bấy lâu nay, vì công việc, đôi lúc ông đã để mai một đi…


(còn tiếp)


Nguồn: Giấy trắng. NXB Văn học. 2007. 








(1) Một loại xuồng gắn máy, thân dài.


2 rải


3 rong




4 Đất Viên An - Thơ của Nguyễn Bá.


5 Gọi theo tiếng Pháp: Peugeot 404




6 Đoạn Quốc lộ I từ Sài Gòn đi Cà Mau  nguyên có tên Quốc lộ 4.


7 Mặt nhìn mặt, không nói với nhau bằng lời mà bằng cái tâm. 




8 Viết tắt theo tiếng Anh: Very Important Person - Nhân vật rất quan trọng.


9 Hợp đồng.


10 Tiếng Pháp (filtre): đồ lọc cà phê. Uống cà phê phin là uống theo kiểu Pháp.




11 Cứ: nói tắt từ căn cứ; còn gọi là R, tức là rừng. Căn cứ cách mạng đóng ở rừng.


 




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.Chương 3
10.Chương 2
11.Chương 1
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 22.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
xem thêm »