tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21072770
Tiểu thuyết
01.11.2008
Triệu Xuân
Giấy trắng
Chương 1


Lời Tác giả, nhân lần tái bản lần thứ mười tiểu thuyết Giấy trắng (NXB Văn học, 2007). 


Hơn chục năm trời, từ 1977 đến 1989, tình hình kinh tế xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh cũng như cả nước lâm vào tình trạng vô cùng khó khăn. Nền kinh tế suy thoái theo đà trượt dốc thẳng đứng, đời sống vật chất của nhân dân cực kỳ thiếu thốn, khổ cực. Đời sống văn hóa tinh thần nghèo nàn, nền tảng đạo lý rạn vỡ… Đất nước tụt hậu quá xa so với những nước láng giềng trước năm 1975 vẫn coi Sài Gòn là Hòn Ngọc Viễn Đông! Nguyên nhân có nhiều, nhưng trước hết phải kể đến nguyên nhân chủ quan: do ấu trĩ, nóng vội, duy ý chí khi hoạch định những chính sách kinh tế, cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh… Và nguyên nhân khách quan là cuộc chiến tranh chống bành trướng ở biên giới phía Bắc, chống bọn Polpot diệt chủng, gây hấn, lấn chiếm biên giới Tây Nam. Đặc biệt là việc Hoa Kỳ cấm vận toàn diện chống Việt Nam. 


Mười hai năm ấy, nhà máy không có nguyên, vật liệu sản xuất, xăng dầu khan hiếm, nạn ngăn sông cấm chợ dẫn đến gạo châu củi quế; trẻ em thiếu sữa, người bệnh thiếu thuốc, phần lớn cán bộ công nhân viên chức, những người gắn bó cả cuộc đời với Nhà nước, lâm cảnh túng đói triền miên. Hàng vạn người - trong đó phần lớn là những người lao động chân chính, nhưng không chịu nổi gian khổ - bỏ nước ra đi tìm chân trời mới…! 


Thời kỳ đau buồn ấy đã qua mau rồi, từ khi Việt Nam tiến hành công cuộc Đổi mới. Ngày nay, kể lại chuyện của mười hai năm 1977- 1989, thế hệ trẻ sinh sau năm 1980 cho là cha mẹ mình… bịa đặt ra để răn dạy con cháu! Làm gì mà khó khăn gian khổ như rứa! Không thể tin được!  


Con cháu chúng ta không tin cũng phải!


Tôi viết tiểu thuyết Giấy trắng trong bối cảnh đó. Ban ngày tôi đi làm báo, hết giờ làm việc buổi chiều, và ngày nghỉ cuối tuần xách máy đi chụp hình dạo để kiếm tiền nuôi con. Tôi đã đạp xe lang thang hết các xã trong huyện Hóc Môn, Gò Vấp (Thành phố Hồ Chí Minh), các huyện phía bắc tỉnh Long An, sáu huyện của tỉnh Tây Ninh, về Cần Thơ, Sóc Trăng... Nghề chụp hình dạo không chỉ giúp tôi kiếm sống mà còn giúp tôi thâm nhập thực tế để có vốn sống tươi rói viết văn, viết báo. Nhưng mà sức người có hạn, người tôi lêu đêu khẳng khiu như que củi. May mà Trời thương, không ốm đau gì. Vợ tôi chụp hình trên lầu Tám, ca nhạc hàng đêm của Nhà hàng - Khách sạn Lê Lai (Nay đã đập đi để xây dựng New World Hotel). Mười giờ đêm, về tới nhà (lúc đó tôi ở 413, Lô E, cư xá Thanh Đa), tôi tráng film xong để cho vợ rửa hình, còn mình ra bàn ngồi viết phóng sự, hoặc viết tiểu thuyết. Tôi thường chỉ có thể hoàn toàn rảnh rang để tập trung sáng tác từ 12 giờ khuya cho đến sáng, khi nào mệt, gục xuống bàn thì mới chịu nghỉ. Nhà văn Nguyễn Khải có lần nói với tôi: Đêm qua mình đang có mạch văn mà mệt quá phải buông bút, giá như lúc đó có lát thịt bò với mẩu bánh mì thì sẽ viết được đến sáng cho dứt mạch cảm hứng! Tôi cũng thường xuyên như vậy! Nhờ sức trẻ trai, thức khuya vậy mà sáng hôm sau, đúng tám giờ tôi lại có mặt ở cơ quan để hành nghề nhà báo, là phóng viên chuyên viết phóng sự... Một hôm ra chợ Huỳnh Thúc Kháng - chợ Trời mua bán film, giấy, máy ảnh - để mua film, tình cờ tôi gặp một người bạn rất có tài văn chương, nhưng vì đói quá đã bỏ việc, bỏ niềm say mê sáng tác văn học, ra đứng chợ Trời. Tôi chưa kịp chào thì anh lên tiếng:


-    Ông sống thế nào? Nghe nói Những người mở đất bán chạy lắm? Nhuận bút được mấy cây?


Những người mở đất là tiểu thuyết đầu tay của tôi, viết xong năm 1979, Nhà xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành năm 1983, số lượng in 10.000 bản. Sách bán chạy, nhưng nhuận bút chỉ tương đương với ba chỉ vàng lúc đó. Tôi cười, trả lời:


-    Cũng khớ!


-    Dóc! Tớ biết cậu là một nhà báo có cỡ, nhưng sống chẳng ra sống, phải đi chụp hình dạo kiếm ăn, đạp xe khắp miền quê, đít đỏ như đít khỉ! Tội quá! Thôi, theo gương tớ, bỏ phắt Nhà nước ra đứng chợ Trời ngon lành hơn! Một ngày trúng mánh, tớ thu được bằng vài chục cái nhuận bút Những người mở đất của cậu! 


Nghe bạn nói mà tôi buồn se sắt! Anh nói đúng, nhưng tôi khác anh ở chỗ không thể kiếm tiền bằng mọi giá, không thể bỏ nghiệp văn chương! Tôi trao qua đổi lại với anh vài câu cho qua chuyện, rồi chia tay. Đi xa chừng dăm bước, tôi còn nghe anh huýt sáo bản nhạc ngoại quốc đã được chế lời Việt: Nếu một ngày trúng mánh ngày đó huy hoàng… 


Tôi là con một nên đến lượt mình, tôi nhiều con. Nuôi được các con ăn học nên người là quyết tâm của tôi. Cháu trai sinh năm 1980, gầy nhẳng vì thiếu dinh dưỡng. Tôi không thể kiếm đủ tiền mua thịt, sữa, trái cây nuôi con. Một lần, cháu bị sốt xuất huyết, suýt chết. Ngày ấy, tôi đi giảng dạy cho lớp phóng viên trẻ ở tỉnh Cửu Long. Sau khóa học, Tỉnh mời tôi đi thực tế ở huyện Duyên Hải vài ngày. Đêm trước ngày đi Duyên Hải, tiệc chia tay có uống vài ly rượu, lẽ ra phải ngủ ngon, vậy mà tôi không sao ngủ được, thao thức suốt đêm. Linh tính báo cho tôi biết có chuyện chẳng lành ở nhà… Thuở ấy chưa có điện thoại, lòng dạ không yên, tôi quyết định hoãn chuyến đi Duyên Hải, lên xe trực chỉ Sài Gòn. Về tới nhà, con trai sốt li bì, tôi đưa con đi cấp cứu. Huyết áp tụt xuống mức thấp nhất: 7/5. Bác sĩ Phó Giám đốc Bệnh viện Nhi Đồng mắng: “Sao anh chị liều thế, tính để thằng bé chết hay sao mà giờ này mới đưa đến bệnh viện?”. Dịch sốt xuất huyết tràn lan, mỗi giường bệnh có bốn cháu nằm, có giường năm cháu. Người lớn chen nhau đứng chăm con! Ngày, vợ canh chừng con. Đêm, tôi đến trực, vừa canh con vừa canh chừng chuột cống. Chuột cống to bằng cẳng tay cẳng chân chạy nhảy tung tăng, kiếm ăn suốt đêm, như giữa chốn không người! Đêm nào tôi cũng chứng kiến vài cháu tắt thở. Người y tá rút chai nước và bịch máu truyền ra khỏi mạch máu ở cánh tay để đưa đứa bé vắn số xuống nhà xác, trong tiếng khóc than tuyệt vọng của cha, mẹ! Đêm nào tôi cũng không cầm được nước mắt khi giúp y tá chuyển các cháu đã lìa cõi trần xuống nhà xác! Con trai tôi nằm đúng một tuần, truyền hết mười tám chai nước, đến ngày thứ sáu thì… đái được! Nước tiểu nóng hổi như nước sáu bảy chục độ. Cháu được cứu sống! Đến lúc đó, tôi không còn tiền mua dù chỉ một hộp sữa cho con!  


Nhớ lần về công tác ở tỉnh Minh Hải. Tỉnh tặng Nhà báo hai ký lô tôm khô và một bao chỉ xanh gạo (loại bao tải dệt bằng sợi đay, viền sợi đay màu xanh, có trọng lượng 100 kg). Tôi có lấy giấy tờ hẳn hoi. Tôi bảo người lái xe: “Anh với em chai hia (chia hai) nhé, có chút gạo và tôm về cho vợ nuôi con!”. Người lái xe vui lắm, nhưng niềm vui không trọn! Đến Trạm kiểm soát Tân Hương, bao gạo và hai ký lô tôm khô bị tịch thu! Tôi không buồn chút nào, vì chuyện này tôi thấy quá nhiều rồi. Về cơ quan, tôi điện thoại cho ông Bí thư đã tặng gạo cho nhà báo, kể rõ sự tình. Ổng nói: “Phép nước vậy mà! Biết làm sao bây giờ! Để tuần tới tôi đi họp, tôi sẽ trực tiếp mang gạo và tôm khô tặng bạn cho chắc ăn nghe!”. Cuối năm ấy, tôi nhận được Giấy mời dự Lễ đón nhận Huân chương của trạm Tân Hương, tôi nhận ra cái người tịch thu bao gạo và hai kí lô tôm khô. Anh ta tránh mặt tôi! Tội nghiệp! Nhiệm vụ của ảnh mà, tôi đâu có giận gì anh cơ chứ! 


Tiểu thuyết Giấy trắng được viết trong vòng một năm trời, nhưng tôi làm tư liệu và ngẫm nghĩ về nó thì từ đầu năm 1980, khi tôi viết loạt bài phóng sự điều tra về tình hình đời sống đô thị và sản xuất công nghiệp đang sa sút thảm hại. Tôi có quá ít thời gian dành hẳn cho sáng tác văn học nên sau gần mười ba tháng mới viết xong. Vả lại, tôi hơi kỹ tính khi viết. Chỉ khi nào tôi có sẵn một chương tiểu thuyết trong đầu rồi mới ngồi vô bàn, chỉ việc tuôn ra. Thời đó, tôi chỉ có máy đánh chữ ở cơ quan, về nhà không có máy, đêm khuya tôi đành phải viết bằng tay, mà viết tay thì không kịp so với cảm hứng từ trong đầu. Bản in với bản thảo gần như hoàn toàn giống nhau! Giấy trắng được ấn hành năm 1985 bởi Nhà xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, lúc đó do ông Hà Mậu Nhai làm Giám đốc, nhà văn Thái Thành Đức Phổ biên tập. Ngay sau khi sách phát hành, dư luận văn học và xã hội nhiệt liệt hoan nghênh. Có hàng chục bài phê bình trên các báo trung ương và địa phương viết về tác phẩm này. Từ năm 1985 đến nay, các NXB Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, NXB Văn học, NXB Hội Nhà văn lần lượt tái bản Giấy trắng. Đây là lần tái bản thứ mười. 


Giấy trắng tái hiện một thời kỳ đầy gian khổ của thành phố Sài Gòn - Hồ Chí Minh, đô thị lớn nhất nước. Đây là thành phố mà tôi coi như quê hương thứ hai của mình. Từ trong gian khổ, cơ hàn lúc đó, đã chói ngời hình tượng những con người mang tư tưởng đổi mới, tiến công vào sự nghèo nàn lạc hậu trong tư duy, tiến công vào những cơ chế, chính sách lỗi thời cản bước đi của đất nước, dù có phải tù tội, hy sinh. Đây thực sự là một cuộc chiến đấu mới, đầy gian nan, thử thách, hy sinh, không kém gì trong chiến tranh chống ngoại xâm. Tư tưởng trung tâm của Giấy trắng là ở đó! Những ai nếu thật lòng yêu nước thương dân thì không thể bó tay trước hoàn cảnh, không thể ươn hèn ngồi chung chiếu với bọn cơ hội, sâu dân mọt nước; phải dám nghĩ dám làm, sẵn sàng hy sinh vì nghĩa lớn! Thế hệ trẻ hôm nay đọc Giấy trắng, như là xem một bức tranh toàn cảnh, hiện thực, về con người và xã hội của mấy chục năm về trước. Trong Giấy trắng, lấp lánh hình ảnh những con người tài đức, giàu tình yêu thương, nhân ái, thực sự vì Dân, vì Nước, kiên quyết chống lại cơ chế hành chính quan liêu bao cấp, chống lại sự giả dối, thoái hóa, sẵn sàng hy sinh vì mục tiêu dân giàu nước mạnh. Những con người như thế đã góp phần mở ra một kỷ nguyên mới cho đất nước, kỷ nguyên Đổi mới!  


Hy vọng rằng, những bài học đau xót trong quá khứ sẽ không bị lãng quên. Hy vọng rằng bạn đọc, nhất là giới trẻ, hiểu thấu quá khứ để càng tự hào về lớp người đi trước: anh dũng trong kháng chiến, tiếp tục dũng cảm trong sự nghiệp Đổi mới, vì hạnh phúc của nhân dân, đất nước mình!  


Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh, Tháng Tám 2007



 


PHẦN THỨ NHẤT 


CHƯƠNG MỘT


 


một


Một cô gái trẻ, đẹp, lặng lẽ đứng nối tiếp vào đoàn người xếp hàng dài trước Cơ quan công tác người nước ngoài. Đôi mắt to, đen láy với hàng mi dài của cô mở lớn, nhìn suốt chiều dài đoàn người như áng chừng xem mình là người thứ bao nhiêu. Mới bảy giờ sáng mà đã đông người quá. Con đường Nguyễn Du vốn yên tĩnh nằm dưới hai hàng cây me xanh ngát quanh năm, giờ đây như càng trầm mặc thêm bởi những gương mặt đăm chiêu, tư lự, chăm chú của những người đang xếp hàng chờ đến lượt nộp hồ sơ, bổ túc hồ sơ làm thủ tục xuất cảnh. Một phần lớn, trong cái đoàn người hàng mấy trăm người đó, hầu như ngày nào cũng có mặt nơi đây, lặng lẽ xếp hàng để hỏi xem hồ sơ số... của mình ngày nào mới được xét. Họ gồm đủ mọi lứa tuổi, nam có, nữ có, trẻ có, già có... Một điều dễ nhận ra là những người đang xếp hàng nơi đây ăn mặc rất đẹp - nếu không muốn nói là sang trọng. Những ông già, mặc dù trời nóng, vẫn diện quần tây vải đắt tiền, áo sơ mi trắng tay cài măng sét, thắt cà vạt đàng hoàng. Trên tay các ông thường là chiếc nón phớt, chiếc can, hoặc là một cặp hồ sơ mỏng bằng giấy các tông mịn mặt màu nâu hay màu kem. Các bà già, những phụ nữ đứng tuổi thì vẫn chiếc áo dài cổ truyền bằng nhung, bằng soa, hay là lụa đắt tiền nhất, được cắt may rất khéo. Cổ các bà thường đeo dây chuyền bằng vàng y hay vàng tây, có bà đeo chuỗi hạt cườm đen bóng, có bà đeo chuỗi ngọc sáng lấp lánh. Còn cổ tay các bà thường mang vòng cẩm thạch hoa thiên lý. Trên tay các bà thường mang chiếc bóp bằng da mềm xinh xắn, hoặc những chiếc giỏ được sản xuất từ nước ngoài. Thảng hoặc có bà cầm tờ báo hay báo ảnh làm quạt. Bà nào cũng giương dù lên vì trời nắng quá. Thành thử, những múi dù của các bà mở ra, màu đỏ, màu xanh, màu nâu... cứ như những chiếc nấm mọc trên sườn đồi sau những ngày mưa tầm tã mà gặp nắng chói chang. Những thanh niên trẻ vẫn mang phong độ của người trai Sài Gòn - dù bây giờ đã là mùa nắng của năm một ngàn chín trăm bảy mươi tám - với quần ống loe, áo sơ mi may sát người để hở một cúc ngực, áo thun kẻ sọc ngang hay sọc dọc, chân mang sa bô hoặc mang giày. Trên tay họ điếu thuốc lá đầu lọc cháy liên tục. Nhiều chàng trai để tóc dài, có người tóc quăn; nhưng nói chung đầu tóc quần áo họ rất chải chuốt, lịch sự. Còn những người đẹp - như cô gái trẻ, nhân vật của chúng ta - thì quả là rất duyên dáng trong lối phục sức. Có lẽ trước khi đi tới đây xếp hàng, các cô đã phải dậy thật sớm để sửa soạn, trang điểm. Gương mặt mỗi người một vẻ, tất nhiên, cái đẹp nào mà lại giống cái đẹp nào! Nhưng tất thảy đều tự nói lên một lối trang điểm rất có lý, nghĩa là hợp với khuôn mặt và phong thái của người đó. Một điều nữa vốn dĩ từ xưa nay đã vậy, là lối ăn mặc của các cô cũng phong phú hơn các ông, các bà hay các chàng trai. Người mặc áo dài. Có những chiếc áo dài thật sự và có những chiếc áo dài hơi ngắn, hở sườn hơi cao! Người thì mặc áo thun. Có tới hàng mấy chục kiểu, loại áo thun ở đây (có lẽ những người nào thích sưu tầm các loại áo thun, khỏi cần mua catalô, chỉ cần ra đây đứng mà ngắm các cô là thấy đủ). Người mặc rốp, chiếc thì màu trắng tinh có điểm mấy bông viôlét nho nhỏ màu tím. Chiếc màu xanh dịu, viền cổ bằng màu xanh đậm. Lại có nhiều người mặc váy ngắn - tất nhiên đó là những cô gái có cặp chân dài, thon thả. Và không ít người mặc quần tây trắng, áo sơ mi, giản dị mà khỏe mạnh, gọn gàng. Nhiều cô mặc quần jean và chiếc áo may bằng hàng tơ mỏng dính rộng thùng thình, loại áo mặc một hai lần rồi bỏ. Cũng có một vài cô - ở đâu và bao giờ cũng thế - mặc đồ quá mỏng, hở cổ, hở tay, hở chân hơi nhiều.


Riêng cô gái trẻ đẹp - nhân vật của chúng ta - tên cô là Lệ Thy, thì mặc áo dài trắng, quần soa trắng, đi giày trắng, chiếc nón trắng cầm trên tay, tay kia có chiếc bóp trắng. Trừ mái tóc đen nhánh và đôi mắt đen láy kia, toàn thân cô toát lên màu trắng thanh khiết, đầy sức hấp dẫn. Đến nỗi, từ khi cô đẩy chiếc Vespa loại năm mươi phân khối sơn màu trắng vào nơi gửi xe cho đến lúc cô thong thả bước qua đường, lặng lẽ đứng tiếp vào đoàn người, thì có hàng trăm cặp mắt tế nhị liếc nhìn cô. Cả những ông già, bà già cũng phải nhìn cô. Trong ánh nắng ban mai, giờ đẹp nhất của Sài Gòn, màu trắng từ thân thể cô gái dễ gợi người ta liên tưởng đến những gì là trong trắng, cao khiết và đáng mơ ước... Với gương mặt đầy đặn, đôi má bầu bĩnh, mũi cao, nước da cứ trắng hồng lên, Lệ Thy hầu như ít phải dùng đến son phấn. Lông mày cô cũng để tự nhiên không tỉa tót, mắt không kẻ, môi không dùng son, nghĩa là ở Lệ Thy vẻ đẹp là tự nhiên - thậm chí là vẻ đẹp hồn nhiên. Năm nay cô mới hai mươi hai tuổi. Chẳng riêng gì đoàn người đang xếp hàng chờ đợi dài dằng dặc này, ở nơi nào cô đến, ai cũng nhìn cô, có người nhìn cô rất lâu. Có lẽ, điều người ta phải chú ý, bị lôi cuốn nhiều nhất là ở cô, vẻ đẹp tự nhiên, thuần khiết luôn luôn hiển hiện. Nhất là ở nhà máy in Hy Vọng, nơi Lệ Thy làm việc, cô đứng ở vị trí mà hàng ngày có tới hàng ngàn người đi qua; và tất nhiên, ai cũng thích được dừng lại - dù chỉ vài giây đồng hồ - để nhìn cô, chào cô. Cô là nhân viên tiếp tân - phụ trách phòng thường trực, phòng khách và tổng đài của nhà máy.


Mặt trời lên cao dần. Nắng ngày càng gay gắt. Đoàn người vẫn xếp hàng rồng rắn. Lệ Thy còn cách cửa ra vào của phòng xuất nhập cảnh gần năm trăm mét nữa. Nắng chói mắt, Lệ Thy mở chiếc bóp trắng lấy cặp kính mát màu trà lợt. Cô lại tiếp tục quan sát. Vẻ im lặng, kiên nhẫn chờ đợi lộ rõ trên từng gương mặt. Không ai nói với ai một lời. Sự im lặng làm mất đi sức sống của cả một đoàn người ăn mặc đẹp, sang trọng như đi vào một ngày hội. Đúng thế. Nếu không có sự im lặng, kiên nhẫn chờ đợi này; nếu như những gương mặt rạng rỡ lên thì cả đoàn người giống như đang đi vào một lễ hội lớn. Bởi họ sang trọng và lịch lãm. Thật đáng sợ trạng thái lặng lẽ này. Trước mặt họ là phòng xuất nhập cảnh, là những nhân viên của Sở Công an. Nhưng xa hơn, đó là những chân trời nào đó, mờ mờ mà đầy hấp dẫn, là những miền đất hứa, những thành phố sầm uất, là những... tất cả những gì mà họ mơ ước - những viễn cảnh được mô tả trong các bức thư của người thân họ gởi về. Còn sau lưng họ là gia đình, là cơ nghiệp của họ. Cái gia đình, cơ nghiệp mà họ gắn bó, họ vất vả để kiến tạo nên, là quê cha đất tổ, là bà con họ mạc, là bạn bè bồ bịch, là cả một dân tộc với lịch sử và truyền thống đáng tự hào, là những kỷ niệm bâng quơ mà da diết nhớ suốt đời người. Nhưng xung quanh họ, cả một thành phố dường như đang ngày một sa sút. Giá cả ngày một đắt đỏ. hàng hóa ngày càng khan hiếm. Cái gì cũng trở nên khó khăn. Ngày trước ai mà lo đến chuyện gạo nước làm chi. Nay thì hạt gạo là đầu câu chuyện. Ở phường, người ta xếp hàng dài từ ba giờ sáng để mua mấy ký lô bo bo (lúa mì chưa xay). Kẻ đi xin ăn, người thất nghiệp, gái mại dâm… bỗng thấy xuất hiện ngày càng nhiều. Đồ đạc trong nhà, vàng bạc, hột xoàn... lần lượt “đội nón” ra đi. tất cả đã thay đổi! Đời sống vương giả của một thời oanh liệt nay còn đâu... Bỏ lại tất cả đằng sau, ở xung quanh để ra đi - đau lắm, xót lắm - nhưng phải vậy thôi! Biết làm thế nào khác được! Thành phố này, cái Petit Paris(1) này rồi sẽ đi về đâu! Số phận của họ, con cái của họ đi tới đâu? Thiên đường hay địa ngục? Hay là một sự nhùng nhằng sống không ra sống, chết không ra chết? Cái sống và cái chết của sự làm ăn thời vàng son trước năm một ngàn chín trăm bảy mươi lăm của họ. Họ đã chờ đợi. Một mùa nắng, hai mùa nắng, rồi ba mùa nắng... Hy vọng đã tan. Họ phải bỏ lại tất cả để ra đi... Nhưng để ra đi, họ phải qua hàng ngàn thủ tục hành chính của nhà nước. Cái nhà nước chịu nhận cho họ nhập cảnh, xem ra có vẻ dễ dàng hơn cái nhà nước quê hương họ. Hồ sơ xin xuất cảnh xếp từng chồng trong tủ. Họ chờ để đến lượt xét. Một năm, có người hai năm... Họ vẫn kiên nhẫn chờ. Kiên nhẫn là đức tính tối cần thiết. Chúa chẳng dạy loài người như vậy đó sao...


Có biết bao nhiêu điều đang cuộn lên trong tư duy mỗi người đang xếp hàng chờ đến lượt mình trên con đường Nguyễn Du thơ mộng này.


Lệ Thy đang đắm chìm trong dòng suy nghĩ. Đã mấy tháng nay má cô giục cô làm thủ tục gấp để ra đi. Lúc đầu cô im lặng. Sau má cô cứ hỏi hoài, Lệ Thy đành thú thật là cô chưa nộp hồ sơ vì cô không muốn đi. Hai má con cô, một căn nhà đúc hai lầu(2) ở con đường nhỏ, yên tĩnh kế trung tâm thành phố; một đời sống vật chất dư thừa vì tài sản cũ còn lại cộng với số tiền và quà hàng tháng ba cô gởi về. Ba cô vốn là một kỹ sư hóa chất giỏi, làm cho một công ty của Pháp có chi nhánh ở Sài Gòn. Tháng ba năm bảy mươi lăm, công ty này đưa ông qua Pháp và ông ở lại luôn đó. Cuối năm bảy mươi bảy, ông đã làm đơn xin bảo lãnh, được nhà đương cục cho phép đón vợ và con gái qua Paris. Giấy bảo lãnh gởi về, bà mẹ không vui cũng chẳng buồn. Trong thâm tâm bà muốn gần chồng lúc tuổi già, nhưng bà lại không muốn rời cái thành phố quê hương của bà. Bà thương ông lắm. Hai vợ chồng chỉ có hai đứa con. Người con trai đầu lòng bị xe nhà binh Nam Hàn cán chết khi anh vừa ra khỏi bệnh viện, nơi anh là bác sĩ khoa ngoại. Còn lại cô gái út là Lệ Thy. Bà cưng Lệ Thy và đặt hết tình yêu, hy vọng vào con gái. Tháng ba, chồng đi Paris. Tháng tư, Giải phóng tiến vào thành phố. Lệ Thy đang học năm thứ hai ở Đại học Văn khoa; Giải phóng về, cô bỏ học. Mãi đến đầu năm bảy mươi tám, cô mới xin vô làm ở nhà máy in Hy Vọng. “Ừ, thì đi làm cho nó vui, con gái đến tuổi bay nhảy, giữ con ở nhà sao được!”, bà mẹ nghĩ vậy.


Đi làm, Lệ Thy vui như con chim, hát suốt ngày. Từ ngày vô nhà máy, Lệ Thy thấy yêu đời hơn. Cô biết mình được nhiều người chú ý, nhưng không vì thế mà cô làm điệu làm bộ. Với bản tính hồn nhiên, Lệ Thy coi tất cả những việc được giao ở nhà máy là niềm vui của mình. Ở quầy lễ tân, cô vui vẻ chào hỏi, đón tiếp khách hàng của nhà in. Cô pha nước mời khách, cô nghe và trả lời điện thoại của khách. Cô bố trí giờ giấc cho khách gặp giám đốc và các phòng ban. Cô trả lời các câu hỏi của khách theo thông báo của phân xưởng sản xuất. Cô còn phụ trách đội văn nghệ của nhà máy vì cô có giọng hát hay. Giám đốc Thịnh lại giao cả thư viện có ba ngàn cuốn sách cho cô làm thủ thư nữa.


Không muốn đi qua Pháp, chẳng phải vì Lệ Thy không khát khao những chân trời mới, những miền đất mới, những nền văn minh xa lạ. Vốn là một sinh viên khoa văn, mê thích văn chương, cô đọc sách nhiều. Ở nhà cô có cả một thư viện nhỏ của riêng cô. Những cuốn sách viết về hai cuộc đại chiến thế giới đã giúp cô hiểu được thế nào là tha hương, là sự thiệt thòi của những người sống trên Tổ quốc của người khác.


Ba cô viết thư về không giấu được nỗi nhớ quê hương. Má cô cũng thổ lộ rằng bà đi thì không biết có chịu nổi nỗi nhớ quê hương xứ sở hay không. Với Lệ Thy, ngoài nỗi nhớ quê hương ra, còn là một quan niệm về cuộc sống, một lối sống. Cô gắn bó với thành phố quê hương, với từng gốc cây me sần sùi trước cửa nhà cô; từng chiếc cột neo tàu ở bến Bạch Đằng, nơi cô thường đi dạo; chiếc ghế quen thuộc trong rạp xi nê mà cô vẫn ngồi coi; và những người bạn. Ôi, còn gì đẹp hơn tình cảm bạn bè! Không gì, không có lý do gì thúc giục cô ra đi. Nhất là, từ ngày cô vô làm nhà máy, cô đã quen với Hải và đón nhận tình yêu của Hải, một kỹ sư lớn hơn cô bốn tuổi. Gia đình Hải rất đông người. Hải là con đầu, sau Hải còn tám đứa em nữa. Ba của Hải là thợ máy ở Caric. Bà vợ ông tần tảo chợ sớm chợ chiều cũng không thể giúp ông đưa gia đình qua cảnh túng thiếu. Nhưng có điều kỳ diệu ở bà mẹ ấy là sự kiên nhẫn và tính hiếu học. Bà lo cho các con được học hành còn hơn cả việc kiếm sống hàng ngày. Bù lại, các con bà rất chăm và học giỏi. Ngay từ khi còn học trung học, Hải đã vừa đi làm vừa đi học. Đi làm được vài ngàn đồng bạc mỗi tháng, Hải đưa cả cho má, không giữ một đồng nào. Vào đại học Phú Thọ, Hải vẫn tiếp tục làm thuê cho một chủ nhà in. Hải đã tiếp thu được ở cha lòng say sưa nghề nghiệp và ở má tính kiên nhẫn, làm nên nghị lực cho Hải vượt qua mọi sự nghèo hèn, học giỏi thành tài. Hải là một trong vài ba sinh viên tốt nghiệp hạng ưu. Về công tác ở phân xưởng chế bản của nhà máy in Hy Vọng, Hải được mọi người vị nể bởi phong độ hòa nhã và tính mẫn cán của mình. Tình yêu của Hải dành cho Lệ Thy ngày càng sôi nổi, tha thiết tuy rất vụng về. Thế nhưng chính cái vụng về ấy đang ngày càng trở nên lý do chủ yếu giữ Lệ Thy ở lại. Hàng tuần, má cô vẫn nhắc cô tới Sở Xuất nhập cảnh, xếp hàng, chờ tới lượt để hỏi xem hồ sơ đã được xét hay chưa.


Người ta có thể chịu đựng mọi sự thiếu thốn mà lòng vẫn thanh thản; nhưng khó mà thanh thản được khi thiếu quê hương, cho dù mọi thứ đều có đủ. Quê hương và tình yêu với Hải, tuy hai mà là một nguyên do giữ Lệ Thy ở lại. Cô chưa hề có ý nghĩ muốn rời bỏ Sài Gòn.


Trước cửa phòng làm việc có tấm bảng với dòng chữ lớn màu vàng kẻ trên nền đỏ: Không ăn hối lộ. Người hối lộ cũng bị luật pháp trừng trị. Lệ Thy bước vào. Một thanh niên trạc ba mươi tuổi, mặt sáng sủa, tóc hớt cao, nhìn cô không giấu nổi vẻ ngạc nhiên. Lệ Thy bối rối trước ánh mắt đó. Rồi, nhận ra cái không nên của mình, anh mời cô gái ngồi. Lệ Thy đưa mảnh giấy biên nhận ghi danh và số hồ sơ. Cô nhìn người thanh niên chăm chú. Một lát, người thanh niên ngước lên, nhìn thẳng vào mắt cô gái. Lệ Thy cũng nhìn anh không hề bối rối nữa.


- Hồ sơ của chị chưa đến lượt xét. Từ nay đến hết năm, chương trình của HCR3 đã làm xong...


- Nhưng đây là xuất cảnh qua Pháp. Trường hợp của tôi không phải là đi tị nạn... - Lệ Thy ngắt lời.


- Tôi hiểu. - Người thanh niên cười, không muốn giấu sự mai mỉa - Đi tị nạn hay đi để đoàn tụ gia đình tại Pháp thì cũng là bỏ đi cả thôi, phải không chị?


Lệ Thy mở lớn mắt, nhìn trân trân vào mắt người thanh niên. Im lặng trong giây lát...


- Mời chị trở lại vào tháng giêng năm tới.


- Dạ, cám ơn.


Bàn tay người thanh niên cầm tờ giấy biên nhận đưa lại cho Lệ Thy. Cô gái đưa tay lấy giấy. Bàn tay kia không buông ngay, vẫn cầm ở mép tờ giấy. Mắt anh nhìn vào mắt cô như muốn nói: Vì lẽ gì mà cô bỏ đi? Vì lẽ gì? Những thanh niên đầy sức sống như cô vì lẽ gì mà cứ bỏ đi. Ai là người xây dựng lại xứ sở này? Không biết người thanh niên có nghĩ vậy không, nhưng qua đôi mắt anh, Lệ Thy đoán ra điều ấy. Mặt cô nóng bừng lên, cô bối rối đi ra.


Đôi mắt người thanh niên, câu nói của anh: “Đi tị nạn hay đi đoàn tụ gia đình cũng là bỏ đi cả thôi” cứ bám riết tâm trí cô, như một lưỡi dao sắc cứa vào lòng. Tuổi trẻ đầy kiêu hãnh và tự trọng. Lệ Thy cảm thấy xấu hổ. Cô hối hả bước ra khỏi căn nhà có câu nói đó. Không nhìn đoàn người đang kiên nhẫn xếp hàng chờ, Lệ Thy băng qua đường, lấy xe, nổ máy lao đi. Bộ đồ trắng, chiếc nón trắng của cô loang loáng trong nắng.


 


hai


Giống như nhiều phòng khách của các hãng, sở, các văn phòng được xây cất từ trước ở Sài Gòn, phòng khách của nhà máy in Hy Vọng là nơi khá sang trọng. Người ta đồng ý với quan điểm cho rằng người thường trực ở quầy lễ tân và phòng khách chính là gương mặt của nhà máy. Ở đây, có Lệ Thy là người thường trực, thì hẳn là phòng khách phải lịch sự, tiện nghi chứ sao! Người vẽ kiểu tòa nhà này có được con mắt thẩm mỹ công nghiệp tốt. Phòng Lệ Thy ngồi là căn phòng thoáng mát, không dùng máy lạnh. Cửa lớn, lối cửa sắt kéo lên trên khi mở. Lề đường, lối vô cửa được xây thoai thoải tiếp giáp với lòng đường để cho xe hơi, xe gắn máy hay xe đạp khi lên lề đường vẫn được êm ái, không một gợn xóc. Cửa chính ở điểm giữa tòa nhà nhìn ra hai mặt phố của một ngã sáu. Bởi thế, dù đi theo ngả đường nào, ngay từ ở xa người ta cũng nhận ngay ra tòa nhà năm lầu với những chữ lớn ở trên nóc đúc tên nhà máy; và cửa phòng khách luôn mở rộng. Ở đó, trên một chiếc ghế chân bằng đồng rất cao, nệm bọc da, gắn bánh xe ở chân và xoay được ba trăm sáu mươi độ, Lệ Thy ngồi thư thái phía sau cái quầy bằng gỗ cẩm lai vân bóng. Bên trái cô là cuốn sổ lớn giấy trắng tinh có kẻ từng ô ghi ai ra ai vô nhà máy lúc mấy giờ, họ tên, chức vụ và cả số giấy chứng minh nữa. Bên phải cô, phía thấp hơn mặt quầy một chút là tổng đài tự động nhỏ xíu, chỉ vừa bằng hai trang in 13x19 ghép lại với các nút nhấn đo đỏ và ống nghe trắng màu sữa. Mặt quầy trước mặt cô là một bình hoa được thay mỗi ngày. Hôm thì bông mác gơ rít, hôm thì bông hồng, hôm thì cẩm chướng... Chiếc bình bằng sứ thủy tinh đục của Nhật Bổn có miệng loe ra và cố ý khuyết một bên, thoạt nhìn ai cũng lầm là bình bị bể!


Phía sau lưng Lệ Thy, trên tường được ốp bằng gỗ cẩm lai phủ véc ni màu cánh gián, treo trang nhã một bức tranh sơn mài, cùng một tấm lịch vốn là ấn phẩm của nhà máy. Trước mặt Lệ Thy là một căn phòng dài, chứa được ba chục chỗ ngồi, dành cho khách ngồi chờ đến lượt làm việc với giám đốc hoặc các phòng ban. Căn phòng này có gắn máy điều hòa không khí cho nên phía ăn thông với quầy thường trực được làm bằng kính dày. Lệ Thy ngồi trên quầy, quán xuyến mọi dịch vụ giao tiếp ở quầy và ở trong phòng kính. Cho dù cô đang nghe điện thoại hay đang trả lời một vị khách tại quầy thì chỉ cần một ngón tay giơ lên cao, người khách trong phòng cũng được Lệ Thy nhanh nhẹn tới giúp đỡ. Lối trang trí ở phòng khách cũng thể hiện trình độ các họa sĩ của nhà in. Trên vách tường được ốp gỗ, trông rất hòa điệu các bức họa nổi tiếng vốn là ấn phẩm của nhà máy; nhưng chỉ có vài bức thôi. Chủ nhà như không thích rườm rà và lòe loẹt. Còn nơi trưng bày quảng cáo của nhà máy ư ? Các ấn phẩm ư ? Xin mời đến chiếc bàn lớn ở giữa phòng. Ở đó có đủ cả. Mời khách cứ tự nhiên mang lại xa lông mình đang ngồi đợi mà đọc, mà coi, mà nhận xét. Nước trà nóng được chuyền từ chiếc ấm trà lớn bằng sứ hiệu Nôritakê ra các tách trà men trắng bóng, bốc hơi thơm ngào ngạt. Thuốc lá Du lịch đựng trong hộp bằng gỗ sơn mài. Máy lạnh chạy đều đều. Quý khách nào nóng tính, sốt ruột quá thì Lệ Thy kịp thời giải quyết ngay, ít để ai phải biểu lộ thái độ. Nụ cười của cô rất tươi cùng với cái gật đầu rất nhẹ làm phiêu lãng thêm mái tóc vốn rất đen và óng ả, và lời chào lịch sự - đó là nhận xét đầu tiên của rất nhiều người khách đã đến nhà máy. Không ít các vị khách khéo léo làm cho câu chuyện của mình dài thêm một vài phút để được đứng lại bên quầy. Khi Lệ Thy cười, người ta thấy được lúm đồng tiền duyên dáng trên má cô, và hàm răng trắng ngà đều như hạt bắp.


- Tôi ở Cửu Long lên, cần gặp giám đốc. Nhờ cô...


- Dạ, mời chú ngồi nghỉ một lát, để cháu báo với chú Thịnh.


Miệng nói, mắt nhìn người khách, rồi nhìn giấy giới thiệu, tay Lệ Thy nhấn nút interphone:


- Thưa chú, có cán bộ của Ty Nông nghiệp Cửu Long đến làm hợp đồng in ạ.


- Cô mời đồng chí ấy trực tiếp gặp phòng sản xuất nhé.


- Không có giấy. Tôi đã được phòng sản xuất trả lời như vậy. - Người khách nhìn Lệ Thy nói ngay.


- Dạ, - Lệ Thy nói vào máy - phòng sản xuất đã trả lời là không có giấy rồi ạ.


- Biết làm sao bây giờ! Tờ báo hàng ngày còn không có mà đọc. Cô lựa lời nói với khách đi.


- Dạ. - Lệ Thy tắt máy, cô nhìn người khách - Có lẽ cháu...


- Vâng, cô khỏi phải lựa lời nữa. Tôi hiểu!


Chuông điện thoại réo vang. Lệ Thy nhấc ống nghe.


- A lô, dạ, in Hy Vọng đây. Dạ, hợp đồng số năm không bốn một ạ?


- Dạ, rồi ạ. Xin mời đến ạ. Dạ ấn phẩm đã hoàn chỉnh.


- Dạ, không có chi. - Lệ Thy cúp máy.


Chuông điện thoại lại réo. Lệ Thy cầm ống nghe. Người khách ở Cửu Long vẫn đứng bên quầy nhìn cô.


- A lô. In Hy Vọng đây. Dạ. Không có giấy ạ. Dạ. Chú nói sao ạ? Có giấy ạ? Dạ, vậy thì nhà máy sẵn sàng. Dạ. Lẹ lắm. Nếu có giấy mang tới thì chú có ấn phẩm liền. Dạ. Đúng vậy. Bây giờ chú làm việc với phòng kế hoạch sản xuất nhé. Dạ!


Lệ Thy nhấn nút máy chuyển cho phòng sản xuất. Cô nhìn lên, người khách Cửu Long mặt đăm chiêu:


- Tại sao đến nông nỗi này cô nhỉ? Đến giấy mà cũng thiếu nữa?!


Lệ Thy hồn nhiên, nhưng giọng cô lại rất thông cảm với khách:


- Không có nguyên liệu. Nhà máy nào cũng thiếu nguyên liệu, chú ạ. Muốn có giấy phải có bột giấy. Nhà máy giấy thì ở Biên Hòa, còn tre nứa lại ở tận trên rừng cơ.


- Phải cho người khai thác chứ!


- Lấy ai đi hả chú? Phải có gạo cho người ta ăn chứ!


- Đó, lại chuyện gạo rồi. Đến gạo cũng thiếu nữa. Làm sao đến nông nỗi này?


Lệ Thy lại cười rất hồn nhiên:


- Nếu cứ đà này thì chú có kể cả ngày không hết sự thiếu thốn chú ạ. Máy đói nguyên liệu. Người đói lương thực, thực phẩm. Người bệnh thiếu thuốc. Trẻ em thiếu sách vở. Người lớn thiếu báo chí, sách văn học. Đến tờ giấy giới thiệu của chú cũng phải in nhỏ như cái vé coi xi nê là đủ thấy rồi đó chú! Thiếu tất cả!


- Nhưng lại thừa tất cả!


- Chú nói sao?


Lệ Thy mở lớn mắt ngạc nhiên. Bây giờ cô mới chú ý đến nét mặt người khách đang nói chuyện với mình. Gương mặt đen sạm, khoảng bốn mươi tuổi. Mắt sâu, thâm quầng, tóc vàng hoe vì dang nắng quá nhiều. Và những nếp nhăn có trước lứa tuổi...


- Có nhiều thứ có sẵn mà không được dùng đến. Vậy là thừa chứ sao?


- Dạ, cháu hiểu. Như ngành in của cháu - Lệ Thy nói lưu loát mấy từ ngành in của cháu - đang thiếu giấy ghê gớm. Trong khi tre nứa bạt ngàn trên rừng, rơm rạ đầy đồng ở miền Tây, sậy bạt ngàn dưới Minh Hải... Vậy mà không làm sao khai thác để chế biến bột giấy được.


- Giám đốc của cô ngồi bó tay à?


- Dạ, đâu có. Chú Thịnh đâu có chịu bó tay. Chú đang tìm cách gỡ mà chú. Vấn đề là... phải chờ.


- Chờ gì?


- Dạ... Biết nói thế nào với chú! À, chú là phó trưởng ty, vậy cháu xin phép được hỏi chú: Trong một cơ quan như Ty của chú, khi chú chưa cho phép, nhân viên của chú có dám làm việc gì không?


- À hà. Vấn đề hay đấy. Cô cho tôi gặp giám đốc Thịnh đi.


- Vẫn chuyện hợp đồng in?


- Không, để coi giám đốc của cô có dám làm khi thủ trưởng chưa cho phép không?


- Nghĩa là...


- Chuyện làm giấy.


- Dạ? Thiệt vậy sao?


- Cửu Long cũng muốn làm giấy, nếu nhà máy của cô có ý định làm, tôi sẽ huy động vốn của tỉnh cho.


- Trời ơi! Tuyệt vời! Tuyệt vời đó chú.


Lệ Thy nhấn nút máy interphone:


- Thưa chú, có chú Phó ty Nông nghiệp Cửu Long cần gặp chú nói về chuyện mà chú đang bí - tức là vốn để khai thác nguyên liệu đó chú.


- Ồ! Tốt quá. Cháu mời chú ấy lên!


Giám đốc Thịnh mở cửa đón khách.


- Chào đồng chí. - Thịnh cầm tay khách bắt chặt, lắc lắc! Anh có thân hình lực lưỡng, cao hơn khách cả cái đầu.


- Tôi là Nguyên ở Cửu Long. Nghe cô nhân viên của anh nói anh đang có ý định khai thác nguyên liệu làm bột giấy, tôi nảy ra ý định giúp anh, dù hợp đồng in của tôi không được ký.


- Cám ơn nhiệt tình của anh. Nhưng anh giúp tôi được chuyện gì? Gạo thì Ty Lương thực quản lý kia mà!


- Ồ đúng thế. Làm gì có gạo! Tôi chưa có ý định giúp anh về lương thực, nhưng tiền mặt thì anh cần chứ?


- Cái gì? Tiền mặt? - Thịnh như muốn bật khỏi xa lông.


- Ừ. Tiền mặt.


- Anh có?


- Tôi? Tôi mà có tiền! Ha ha ha! - Nguyên vụt cười sảng khoái - Đi Cách mạng năm mười bảy tuổi, đến nay là ba chục năm thoát ly. Vợ con chưa có, nói chi có tiền. Tôi ăn cơm bếp tập thể, và chỉ có tiền vào mấy ngày đầu kỳ lương thôi. Nhưng tôi sẽ giúp được anh. Ai chịu làm, dám làm là tôi phục. Tôi hết mình với ai chịu làm. Và tôi hết sức tức giận kẻ nào bó tay ngồi ì.


- Tôi giống anh ở điểm đó.


- Chắc anh thắc mắc cái cách tôi giúp anh phải không? Nhưng trước khi giải đáp, tôi được thắc mắc đã: Nhân viên của anh ai cũng thực sự lo lắng cho xí nghiệp như cô gái trực cổng đó à?


Thịnh  nhìn Nguyên tủm tỉm cười ý nhị:


 - Ồ, cô gái trực cổng hả?


- Anh đừng hiểu lầm...


- Không! Hà hà! Có gì đâu? Ở đây, tôi lo lắng cái gì, công nhân lo lắng cái đó.


- Anh tin vậy?


- Công nhân họ tin và tôi tin điều đó.


- Nhờ đâu có được niềm tin đó?


- Vì tôi tin họ!


- À.


- Anh gặp tất cả công nhân nhà máy, sẽ thấy ai cũng lo lắng như cô Lệ Thy. Máy ngưng, họ không có việc làm, ai mà không lo, không buồn. Làm giám đốc, phải thấy đó là cái tội của mình.


- À... - Nguyên nhìn Thịnh, gật đầu.


Đưa bàn tay to với những ngón tay dài, Thịnh mở hộp thuốc đẩy về phía Nguyên. Anh bật lửa cho khách rồi nhìn thẳng vào khách nói tiếp:


- Anh có nghĩ là chúng ta, anh và tôi, và tất cả những ai đang làm giám đốc, phó ty, trưởng ty đều phải cùng chịu trách nhiệm trước nhân dân, trước Đảng không?


- À... - Nguyên lại gật đầu, uống cạn tách trà và ngồi hút thuốc lắng nghe Thịnh nói.


Giám đốc Thịnh như tìm được lúc để trút bỏ sự bực bội của mình:


- Bó tay ngồi chờ, giữ được cái ghế giám đốc, nhưng anh sẽ trở thành thằng tồi tệ nhất. Biết mà không làm. Đó là đồ ăn hại, là “giá áo túi cơm”. Làm thì bị ngăn cản. Vấn đề là phải can đảm, phải xóa bỏ vật ngăn cản đó. Hình như có một danh tướng nào đó đã từng nói “mất can đảm là mất tất cả”.


- À...


- Tôi quyết làm và sẽ làm bằng được mặc dù có rất nhiều cửa ải tôi phải vượt qua. - Thịnh chống tay lên mặt kiếng làm rung mấy tách trà, nhìn sát mặt Nguyên.


- Được... Tôi quyết định giúp anh. Anh ruột tôi là Trưởng ty Tài chính4 . Cửu Long đang phát hành vé số mà không có giấy in. Tôi sẽ nói anh tôi giao tiền mặt cho anh để anh làm bột giấy.


- Thiệt sao? - Thịnh bất ngờ chồm tới, hai bàn tay chắc nịch nắm chặt hai vai của Nguyên - Thế thì số một rồi còn gì. Huy động vốn. Tôi đang đau đầu vì ba chữ đó thì anh tới.


- Thôi, tôi về. Tôi sẽ nói anh tôi bàn cụ thể với anh.


- Anh về à? Này, thế ông in cái gì đó? - Thịnh xòe bàn tay ra.


- Không, tôi không cần anh trả ơn kiểu đó đâu!


- Kìa. Cứ nói thẳng ra. Tính tôi, dân Minh Hải mà, ăn ngay nói thẳng.


- Hàng lô biểu mẫu, giấy tờ, hóa đơn, vài cuốn sách hướng dẫn cách dùng thuốc diệt trừ sâu rầy và dùng phân hóa học… khoảng một tấn giấy!


- Được. Tôi có thể mượn cho anh một tấn giấy của khách hàng đang gửi tại đây.


- Cám ơn. Nếu cần trả bằng gạo hay tiền mặt cũng được.


Thịnh viết mấy chữ vào tờ giấy rồi nhấn nút chuông. Lệ Thy bước vào.


- Cô đưa giấy này cho phòng kế hoạch làm hợp đồng với Ty Nông nghiệp Cửu Long.


- Dạ! - Lệ Thy quay sang Nguyên - Mời chú! - Cô gái nhìn Nguyên cười hồn nhiên.


Nguyên và Thịnh chia tay nhau. Vừa lúc  đó, Lộc bước vào. Anh ngồi phịch xuống xa lông chẳng nói chẳng rằng. Thịnh nhìn Lộc. Mái tóc cắt ngắn cứ dựng lên. Mặt vuông chữ điền, mắt to, lông mày rậm, có nhiều nếp nhăn ở trán. Lộc hơn Thịnh sáu tuổi. Ngày Thịnh đi làm liên lạc cho Việt Minh, gặp Lộc ở chiến khu, hai người trở thành bạn thân của nhau. Năm ấy Thịnh mới có mười tuổi, còn Lộc mười sáu. Khi Thịnh được chuyển về nhà in Trần Phú, chính Lộc đã hướng dẫn cho Thịnh học nghề in; vài năm sau, cũng chính Lộc giới thiệu anh vào Đảng. Sau này, khi tập kết ra miền Bắc, hai người lại cùng làm ở một nhà in. Rồi Thịnh được đi qua Đức học, Lộc chuyển sang làm báo, một tờ báo ở vùng mỏ. Ngày Thịnh được cử làm giám đốc nhà máy, Thịnh đã đi tìm Lộc ngay sau khi tiếp quản xí nghiệp. Vì bạn, Lộc bỏ nghề báo, chuyển sang làm kinh tế, làm phó cho Thịnh. Một người trực tính, nói ít làm nhiều, giàu tình nghĩa. Đúng truyền thống dân xứ dừa Bến Tre. Có thể nói về Lộc bằng ấy chữ.


Chờ cho Lộc uống nước và hút hết nửa điếu thuốc, rồi Thịnh mới hỏi:


- Không ăn thua gì à?


- Ban giám đốc ngân hàng biểu vay vốn là phải có tài sản thế chấp. Bộ cả nhà máy to tướng này chưa đủ để thế chấp sao?


- Thôi đừng nóng làm gì. Mấy ổng nói đúng nguyên tắc đó. Vốn sản xuất mà ta được cấp thì chỉ đủ theo kế hoạch. Nay ta vay vốn làm bột giấy, tức là không có kế hoạch trước, lại không có một chút gì để làm tin cho ngân hàng cả. Ngân hàng không cho vay là đúng nguyên tắc rồi!


- Vứt cái nguyên tắc ấy đi! Bộ tôi vay tiền nhà nước đi nhậu chắc?


- Thôi, ông Lộc này, ta có tiền rồi!


- Cái gì? Vậy sao? Tiền ở đâu?


Thịnh kể lại câu chuyện tiếp xúc với Nguyên vừa rồi. Lộc đốp luôn:


- Có tin được không?


- Tôi tin.


- Nếu vậy thì xuya rồi! Nhưng liệu được mấy cắc đây?


- Có thể đủ xài trong đợt đầu.


- Hay là ta huy động vốn của tư nhân?


- Điều đó là dễ nhất. Nhưng… như giám đốc Sở đã nói, làm thế tức là lại vi phạm nguyên tắc rồi.


- Cái gì cũng nguyên tắc cứng còng. Bước một bước là phạm qui rồi. Chỉ có nước bung ra mà bước thôi. Hay là anh  sợ?


- Tôi không sợ gì cả. Không ăn cắp, không ăn hối lộ thì tôi không sợ gì hết.


- Nhưng anh sợ phạm qui, sợ phạt việt vị, sợ phạt đền?


- Có lẽ cả ông và tôi, Lộc ạ, chúng ta phải làm sao cho bóng vô lưới mà không bị phạm qui, không bị thẻ vàng thẻ đỏ.


- Tôi hiểu. Chỉ có cách lẳng lặng mà làm, nói toạc ra, chỉ có cách làm lén thôi, miễn có sản phẩm, miễn không tư túi một cắc một xu. Khi kết quả rồi, ta ngả bài mà chơi!


- Trước mắt, phải tính vậy. Nhưng về lâu dài, phải làm sao để cái cách ta làm, kết quả việc ta làm, tác động đến cả một lề thói cũ, làm thay đổi nó. Điều đó mới là hệ trọng!


Chuông báo hết giờ làm việc buổi chiều đã lâu, Thịnh và Lộc vẫn mải mê đàm đạo trong phòng.


 


ba


Phó giám đốc Lê Phát vốn là người trực triệt, thẳng thắn - đức tính của người chính gốc Sài Gòn. Anh về nhà máy trước Thịnh. Sinh ra và lớn lên ở vùng đồn điền miệt Củ Chi, Lê Phát chẳng được học hành đến nơi đến chốn vì nhà anh quá nghèo. Năm hai mươi tuổi, anh làm thuê cho một xưởng in của người Tàu ở Chợ Lớn. Người thợ cả của xưởng đã không những chỉ cho anh những kiến thức, kinh nghiệm để làm thợ in, mà còn dạy anh cái đạo làm người. Hồi đó, Lê Phát đâu có biết rằng người thầy dạy nghề cho mình là Cộng sản. Mãi đến ngày hai mươi ba tháng chín năm một ngàn chín trăm bốn mươi lăm, khi Lê Phát theo thầy tham gia lực lượng Thanh niên Tiền phong, cướp chính quyền ở vùng Chợ Lớn, anh mới hiểu mình là người đi làm Cách mạng. Rời xa những cỗ máy in đạp pê đan thân thuộc, Lê Phát cầm súng chiến đấu trong kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ. Trong những năm gian khó, ác liệt nhất, ở trong tâm can mình, Lê Phát vẫn khao khát, ước mơ ngày nào đó khi xứ sở thanh bình, anh được trở về với nghề in mà anh đã ham mê.


Con người, một khi đã nhất quyết thì thế nào cũng đạt được ước muốn. Lê Phát tin như thế và ông đã đạt được nguyện vọng của mình. Lê Phát trở lại nghề in ở rừng, một xưởng in nhỏ của quân đội. Sau trận càn Giônxơn Xity, bị thương nặng, không đủ sức chỉ huy đơn vị chiến đấu được nữa, đại úy Lê Phát được cử sang phụ trách xưởng in. Với những chiếc máy quay rônêô và máy in typô đặt tay cũ kỹ, xưởng in của Lê Phát đã làm được nhiều chuyện, góp một phần xứng đáng vào thắng lợi của các chiến dịch. Ngày Sài Gòn giải phóng, Lê Phát ở trong ban quân quản tiếp thu các cơ sở in ấn ở thành phố. Đến giữa năm bảy mươi sáu, ông chính thức chuyển ngành, công tác tại ban cải tạo ngành in. Nhà máy in Hy Vọng ra đời, ông mang chiếc ba lô - toàn bộ tài sản của mình - cùng với Thịnh về tiếp thu nhà máy. Ông làm phó giám đốc, một vị trí mà thực lòng, ông chẳng hài lòng tí nào. Vốn tính trực triệt, ông đã nói thẳng với Phó tổng giám đốc Xí nghiệp Liên hiệp phụ trách tổ chức suy nghĩ của mình:


- Tôi mà đi làm phó cho một tay tập kết từ Hà Nội về à? Nó nhỏ hơn tôi cả một giáp đó!


Nhưng nói là nói cho đỡ giận thôi, chứ Lê Phát vốn là người chấp hành nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức. Vả lại, ngay từ những phút đầu gặp Thịnh, Lê Phát đã cảm thấy tay giám đốc này có vẻ chịu chơi. Ông tặc lưỡi: “Cứ làm đã, tính sau!”.


Giám đốc Thịnh biết Lê Phát hơn mình mười hai tuổi nên thường gọi Phát một cách thân mật là anh Tư. Những ngày đầu, Tư Phát bám nhà máy, lo cho nhà máy đến quên ăn mất ngủ. Ông để mắt đến từng chi tiết dù nhỏ nhất. Ông coi nhà máy như nhà mình và mong cho nhà máy sớm đi vào ổn định sản xuất. Khi linh mục Đạt - người quản lý cũ của nhà máy - bàn giao giấy tờ, sổ sách, tài sản cho ban giám đốc, ông Phát lo đến héo cả ruột. Thâm tâm, ông hoài nghi, ông không tin là giám đốc Thịnh có thể cáng đáng nổi cơ ngơi này. Một  nhà máy không còn một đồng vốn, nguyên liệu hết, làm ăn sao đây? Ông biết trách nhiệm thuộc về Thịnh. Ông tự nhủ lòng: Phải làm mọi cách cho nhà máy có trật tự, có kỷ luật, trên ra trên, dưới ra dưới. Phải lập lại trật tự mới - mới hoàn toàn - thì mới là nhà máy quốc doanh chứ!


Mái tóc bạc quá nửa, sức lực ông Phát mất quá nhiều vì năm lần bị thương. Về tình cảm, ông lại chịu sự mất mát quá lớn: vợ và hai con hy sinh trong chiến tranh. Ở quê nội, gia đình họ mạc của ông cũng tan tác hết. Với ông, sự mất mát để giành lấy hôm nay là vô giá. Vì thế mà hòa bình rồi, ông vẫn chưa hề có lúc nào nghĩ tới cái riêng của mình. Thời kỳ công tác ở Ban cải tạo Xí nghiệp Liên hiệp, ông hết mình với công việc, ăn và ngủ trong cơ quan. Mãi tới đầu năm nay, nghe bạn bè khuyên nhủ, hối thúc, ông mới chịu lấy vợ. Chẳng ai xa lạ, chị Tảo, vợ ông, vốn là bạn chiến đấu của ông, thua ông mười tuổi, hiện là Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường. Hai vợ chồng mong mỏi có được đứa con để vui tuổi già. Nhưng đã gần một năm rồi mà mơ ước đó chưa đạt được. Ông càng buồn thì càng gắn bó, chí thú với công việc của nhà máy. Công việc, những chiếc máy in… làm cho ông khuây khỏa bớt nỗi buồn.


Là phó giám đốc phụ trách kinh doanh, ông mang vào trong công việc hôm nay của ông thói quen chỉ làm việc theo lệnh trên và đúng nguyên tắc. Ông coi những qui định, chế độ hoạch toán kinh tế hiện hành là cái mốc không thể vượt qua. Nếu vượt qua nó, ông sẽ là kẻ chống Chủ nghĩa Xã hội. Những việc nào, dù có mang lại lợi nhuận lớn cho nhà máy nhưng trái nguyên tắc, ông kiên quyết phản đối. Đây là điều đầu tiên dẫn tới thái độ không nhất trí giữa ông và Thịnh.


Lý do thứ hai dẫn đến sự đụng chạm giữa hai người là thái độ cư xử khi làm việc của Thịnh với số người cũ. Thịnh đã giữ lại hầu như toàn bộ ê kíp quản lý cũ và thợ cũ của nhà máy. Điều này Tư Phát tán thành. Ông nghĩ rằng thời gian đầu phải sử dụng họ để nắm bắt lấy mọi ngóc ngách của qui trình công nghệ. Nhưng ông không nghĩ rằng sẽ có thể đưa họ vào quỹ đạo sản xuất xã hội chủ nghĩa. Cuộc đời ông, bao nhiêu mất mát hy sinh, bao năm tháng gian khổ đánh giặc... Làm sao ông tin ngay được những người đã phục vụ chế độ cũ. Chỉ nội điều đó thôi cũng đủ là sự đối kháng rồi.


Thời gian chưa có Hảo về làm phó giám đốc kỹ thuật, Lộc chưa về làm phó giám đốc vật tư, ban giám đốc chỉ có Thịnh và Phát. Vậy mà bất cứ cuộc họp nào Thịnh cũng mời linh mục Đạt cùng các trưởng phòng, quản đốc phân xưởng tham dự. Anh nghe ý kiến của họ. Nhiều lần ý của Tư Phát bị bác bỏ mà ý của họ được làm theo. Tư Phát phản đối kịch liệt, Thịnh chỉ cười. Anh lựa lời trao đổi để Tư Phát hiểu được cách dùng người của mình:


- Người Trung Quốc có câu “dụng nhân như dụng mộc”. Người Nhật lại có quan điểm khác. Họ dùng hình ảnh đi mua cà phê: Người nước khác đi mua cà phê, uống xong thì trả lại cái tách. Người Nhật mua cà phê và mua luôn cả tách. Uống xong cà phê, họ dùng cái tách đó để đựng thứ khác: nước trà, nước ngọt, rượu... Họ dùng người như dùng cái tách vậy. Còn chúng ta, người Việt Nam ta vốn có lòng tự trọng rất cao và rất quí chữ tín. Nếu tin nhau, tôn trọng nhau thì có thể sống chết vì nhau. Anh Tư ạ, tôi nghĩ rằng đa số những người còn lại ở đây là những người có nhiệt tâm với chế độ mới. Chúng ta muốn họ làm việc có hiệu quả nhất thì trước hết phải tin họ, phải tôn trọng họ. Anh Tư à, phải tin họ!


- Trời đất! - Tư Phát la lên - Anh tin họ hơn tin tôi à? Anh tính đưa Hy Vọng tới đích nào đây? - Nhìn Thịnh trừng trừng, Tư Phát cố nén sự bực bội. Vết thẹo ở bên má trái của ông giật giật. Mồ hôi vã ra nơi trán ông.


- Tới đích nào à? Như tôi đã nói với anh Tư hôm tiếp nhận nhà máy rồi đó. Anh Tư quên rồi sao? Chúng ta cùng chung lòng chung sức, xây dựng Hy Vọng thành một điển hình của nhà máy xã hội chủ nghĩa ở thành phố này. - Thịnh nhấn mạnh hai chữ chúng ta.


- Với những người cũ? Người của Mỹ ngụy?


- Họ là người Việt Nam như anh và tôi! Họ sống trong chế độ cũ chứ chắc gì họ ủng hộ nó? Không thể nói họ là người của Mỹ ngụy!


- Thế bây giờ họ sống trong chế độ ta chứ lòng dạ họ chắc gì theo ta? - Tư Phát mai mỉa.


- Chắc chứ! Miễn là chế độ ta phải thực sự tốt đẹp! Ai cũng theo cái tốt. Chế độ ta là ưu việt thì người ta sẽ trung thành với chế độ, sẽ làm chủ chế độ mới.


- Nói như sách vở thôi, Thịnh ạ. Anh học ở nước ngoài về mà!


- Tôi sẽ làm hết sức mình để được như điều tôi nói, và tôi mong anh cùng làm với tôi. Được chứ, anh Tư! - Giọng Thịnh chợt đằm xuống, tha thiết. Thịnh nhìn Tư Phát, cái nhìn thân mật, không một chút hờn giận, chê trách nào.


Nhưng Tư Phát đâu phải con người dễ bị người ta lay chuyển. Chỉ trong vòng mấy tháng đầu, phó giám đốc Lê Phát đã cự nự với hầu hết những người giữ các khâu then chốt của nhà máy: Ba Bình, quản đốc phân xưởng in; Hai Bảng, quản đốc phân xưởng chế bản. Đây là hai kỹ sư lâu năm trong nghề mà anh em thợ nhà máy rất kính nể. Kỹ sư Sáng, kỹ sư hóa chất, trưởng phòng tổng hợp mới ba mươi tuổi; kỹ sư Hải, tổ trưởng tổ chụp phim. An, thợ in, làm thư ký công đoàn... Tất cả đều hơn một lần bị ông Phát quát nạt, thậm chí đe dọa đình chỉ công tác chỉ vì những trục trặc tất yếu mà nhà máy nào cũng có.


Một lần, e rằng một hợp đồng in sẽ bị chậm trễ, Tư Phát đã to tiếng với linh mục Đạt. Nguyên do là chiếc máy Goss đang chạy dở một ấn phẩm của Nhà xuất bản Sự Thật. Phải hai ngày nữa mới có thể dùng máy Goss cho ấn bản mới. Nhưng đây lại là tài liệu cần gấp cho đợt cải tạo thị trường mà thành phố đang tiến hành. Là phó giám đốc phụ trách kinh doanh, Tư Phát không thể nào chịu được sự chậm trễ hợp đồng.  Ông không muốn bị khiển trách. vừa gặp Đạt ở cầu thang trước phân xưởng in, Tư Phát lớn tiếng:


- Ông Đạt này, bản kẽm đã phơi mài xong từ một tuần nay, vì lẽ gì mà ông chưa cho chạy?


- Dạ, báo cáo phó giám đốc, - linh mục Đạt từ tốn nói -  phải chạy xong cuốn sách đang in dở đã ạ. Chỉ hai ngày thôi mà!


- Không được! Đây là tài liệu cần gấp cho cuộc đấu tranh giai cấp. Thành phố đang cần nó như mặt trận cần súng đạn. Ông cho chạy liền đi!


Ông Đạt im lặng không trả lời. Thực ra, vấn đề đâu đã đến nỗi phải ngưng máy, tháo gỡ bản kẽm đang chạy ra để chạy bản mới. Bởi vì, ông Đạt biết rằng, với số lượng ba chục ngàn bản, mỗi bản hai mươi trang in 13x19, tài liệu cải tạo đó sẽ được hoàn thành đúng thời hạn hợp đồng. Làm gì mà phải quát tháo ầm ĩ lên như thế. Thấy ông Đạt im lặng, ông Phát bồi thêm:


- Ở đây tôi có quyền quyết định, ông hiểu chứ? Mệnh lệnh là phải thi hành. Điều này chứng tỏ thái độ của các ông đó.


Ông Đạt lắc đầu nhìn theo Tư Phát đang xăm xăm bước đi. Ông đã kể lại với thái độ hết sức thận trọng câu chuyện đó với giám đốc Thịnh. Đó là lần đầu tiên linh mục Đạt nói chuyện riêng với Thịnh về Tư Phát. Ông không lộ rõ ý phê phán phó giám đốc. Câu chuyện của ông dường như chỉ nhằm mục đích thông báo, tường thuật. Nhưng Thịnh đã hiểu cả. Thịnh hiểu những mặc cảm có sẵn và mới có đối với Cách mạng của những người như linh mục Đạt. Trách nhiệm của anh là phải xóa bỏ những cách bức tâm lý đó. Nhưng phải nói thế nào với Tư Phát đây? Rõ ràng vấn đề hết sức tế nhị.


Sau giờ làm việc buổi chiều, Tư Phát thường có thói quen nhìn qua cửa sổ lầu một xuống đường. Anh em công nhân nhà máy lục tục ra về. Nhìn họ, Tư Phát suy nghĩ miên man. Thịnh gõ cửa, bước vào:


- Ta nói chuyện với nhau một lát được chứ, anh Tư? - Vừa nói Thịnh vừa ngồi xuống xa lông, rót nước uống.


- Nói đi, có chuyện gì vậy? - Tư Phát trở lại ngồi đối diện với Thịnh.


- Dường như anh nóng nảy với anh em quá... - Thịnh vào vấn đề.


- tánh tôi vậy.


- Không! Không ai trách anh về sự trực tính, thẳng thắn. Tôi muốn nói rằng, đằng sau sự nóng nảy đó, dường như anh... À, nói thẳng ra nhé, anh mạt sát anh em. Anh không tôn trọng họ.


- Anh bắt tôi phải tôn trọng, phải đặt lên đầu cái đám người cũ ấy à? - Vết thẹo trên má Tư Phát giật giật.


- Đừng nói nữa. Xin anh để tôi nói. Tôi không hiểu anh ác cảm, đố kỵ anh em để làm gì. Họ tốt hay xấu bây giờ là trách nhiệm của chúng ta, của tôi, của anh. Những người trẻ bằng tuổi con anh như cậu Hải, cô Thy, họ đến với Cách mạng như tờ giấy trắng. Những người đã sống qua hai chế độ như Hai bảng, Ba Bình, đầy mặc cảm với Cách mạng, nay đã hợp tác, đã thể hiện nhiệt tình. Còn gì đáng quý hơn? Đáng nâng niu trân trọng lắm chứ. Vì sao cứ lấy cái quá khứ của họ trùm lên con người họ. Vả chăng con người như một dòng sông luôn luôn biến động. Cớ gì mà anh khăng khăng cho họ là đồ bỏ, xài tạm chứ không thể tin. Nếu không tôn trọng người ta, không tin người ta thì làm sao anh đòi hỏi người ta tin yêu anh được? Trong quan hệ vợ chồng cũng vậy thôi. Anh phản đối tôi khi tôi tạo mọi điều kiện cho linh mục Đạt làm việc. Đó là một kỹ sư giàu óc sáng tạo. Anh sợ ông linh mục ấy nhuộm đen chúng ta à? Khoan hãy nói chuyện ai nhuộm đen ai, ai nhuộm đỏ ai. hãy nói chuyện con người. Linh mục Đạt trước hết là một con người. Và công việc, chất xám của kỹ sư Đạt mới là điều ta đáng quan tâm. Đây vốn là cơ sở in ấn của giáo hội. Linh mục Đạt hợp tác với nhà máy, chung lưng đấu cật với nhà máy trong giai đoạn này còn có nghĩa là gần một trăm công nhân có đạo ở đây gắn bó với nhà máy. Công việc sẽ nói lên tấm lòng của họ. Đừng vì có định kiến mà mất cả khách quan đi, anh Tư ạ. Anh thừa biết cậu Sáng là con một liệt sĩ. Đồng chí liệt sĩ ấy là giám đốc một nhà máy lớn ở Hà Nội, đã chỉ huy tự vệ nhà máy bắn rớt máy bay Mỹ và dũng cảm hy sinh. Đó là điểm son chói sáng trong lý lịch của Sáng, có lẽ nào không đáng để ta nâng niu? Tuổi trẻ Sài Gòn như Sáng, Hải, Thy... là những người giàu nhiệt tình, có năng lực. Ai là người đưa nhà máy đi lên? Chính là họ đấy. Cách mạng làm sao tồn tại được nếu như chúng ta không tin cậy, trao cho họ gánh nặng của sự nghiệp?


Thịnh ngừng nói, đứng dậy châm thuốc, rít liên tục mấy hơi liền, đi đi lại lại trong phòng. Mỗi khi đầu óc căng thẳng, anh thường hút thuốc kiểu ấy. Anh cố kìm cơn giận, cố tìm những lời bớt gay gắt và cố chấm dứt cho mau những lời lẽ đang tuôn ra... Hai tay bó gối, thu cả hai chân lên ghế xa lông, Tư Phát nhìn về phía cửa sổ có riđô màu xanh nơi Thịnh đang đứng quay lưng lại. Tướng anh lừng lững, hai bàn tay chắp lại đằng sau, điếu thuốc lá cháy tới đầu lọc.


- Coi chừng Thịnh hữu khuynh mất thôi!


- Tôi tin là tôi đúng trong cách nhìn nhận con người. Người ta có thể mắc sai lầm, nhưng nếu lầm lỗi lớn trong cách nhìn nhận con người thì cực kỳ tai hại!


- Anh không chịu nghe tôi... - Tư Phát đốp lại.


- Có chứ! Tôi biết lắng nghe chứ! Nhưng những ý kiến mất lòng tin vào quần chúng, thái độ đố kỵ với quần chúng thì chịu sao được?


Tư Phát sa sầm mặt:


- Anh cố phủ nhận thằng Tư Phát này hả?


- Anh Tư! Xin chớ hiểu lầm. Cho đến giờ này tôi chưa hề có ý phủ nhận ai.


- Có lẽ chúng ta khó mà làm việc chung với nhau. Mỗi người một quan điểm. - Vết thẹo trên má Tư phát lại giật giật.


- Đừng nghĩ bậy. Chúng ta có đích chung mà! Anh và tôi, chúng ta đều tha thiết mong cho nhà máy phát triển. Đừng nói chuyện xa nhau khi cùng chung mục đích, anh Tư ạ. hãy cùng nhau tìm ra phương cách đạt mục đích.


- Hừ. Nói thì hay đấy. Nhưng hãy coi chừng! Đừng có lấy cứu cánh để biện hộ cho phương tiện. Thời buổi này, người ta dễ sa bẫy lắm đó!


- Cám ơn anh đã nhắc nhở. Nhưng tôi có bao giờ mất cảnh giác đâu. Nhờ thế tôi mới tin mọi người được chứ! Mong rằng thái độ cư xử của anh với anh em sẽ thay đổi.


Thịnh bước ra, cánh cửa đóng lại. Tư Phát ngồi vào ghế rút khăn lau mồ hôi rịn ra trên mặt, cảm giác tê nhức tấy lên ở vết thẹo trên mặt ông. Vì sao? Vì sao Thịnh lại cả tin như thế? Vì sao Thịnh lại phản đối cách cư xử của ta. hay là Thịnh không tin ta, coi thường năng lực của ta vì ta chẳng có bằng cấp gì? Suốt đời đi làm Cách mạng. ta đi làm Cách mạng chứ không phải chỉ đi theo Cách mạng như kiểu theo đóm ăn tàn. vậy mà giờ này những điều ta nói chẳng lẽ không được tôn trọng? Vậy ta là thừa? Cái chức phó giám đốc kinh doanh là thừa? Đâu có được! Một nhà máy in vào loại hiện đại nhất thành phố, sản lượng cả chục tỉ trang in 13x19 mỗi năm nếu có đủ nguyên liệu, thiết bị đủ cả ba phương pháp typô, ốpsét và ống đồng, lẽ nào lại để lỗ lã? Sểnh ra một chút, tụi phá hoại nó len vào, nó phá như chơi chứ không à? Anh chủ quan sẽ có ngày ân hận, Thịnh à.


Đồng hồ trên tường gõ năm tiếng chuông. Tư Phát đứng dậy cúp điện ở máy điều hòa. Ông mở cửa sổ. Gió từ bên ngoài ùa vào. Dưới đường, ông nhận ra những gương mặt quen, họ đang lên xe ra về. Kỹ sư Sáng đẩy chiếc Lambrettic ra. Bên kia đường, một cô gái đứng chờ Sáng. Anh mang giày da bóng màu nâu, tóc đen dày, trùm gáy, chiếc áo ca rô sọc xanh mờ bỏ trong quần thắt dây lưng to bản. Cô gái mặc jupe ngắn, áo thun màu hoàng yến cổ hở hơi nhiều, tóc ngắn như tóc Sáng. Chiếc Lambrettic của Sáng vừa đi thì Lệ Thy và hải cũng đẩy xe ra. Ông Phát nhìn theo họ. Hải mang kính cận, chúng nó đẹp đôi thật. Hai đứa con mình, nếu còn sống, cũng ở lứa tuổi này. Đời chúng nó sướng quá. Còn con mình, vợ mình và bao nhiêu người khác nữa, đã chiến đấu, đã nằm xuống vĩnh viễn với đất rừng. Bất giác ông thấy ngực mình đau nhói. Nỗi nhớ vợ con, vết thương lòng cùng với những vết thương trên thân thể hành hạ ông. Một cơn gió lạnh thổi tới, cánh cửa kính đập mạnh. Tư Phát đóng cửa, trở lại ghế ngồi. Biết bao người đã chiến đấu, đã bỏ cả gia đình hạnh phúc, tuổi trẻ, đã hy sinh để có ngày hôm nay. Có bao nhiêu người hiểu được và thấu được nỗi đau của sự mất mát như ta? Bởi thế, phải giữ lấy những gì giành được chứ. Phải xây dựng Chủ nghĩa Xã hội chứ. Làm sao lại có thể tin được những người đó. Họ mà xây dựng được Chủ nghĩa Xã hội ư? “Thay cờ thì dễ, chứ dễ gì thay được lòng người!”. Một tay tư sản ngành in đã từng nói thẳng với ta câu đó.


 


bốn


Trong phân xưởng in trung tâm của nhà máy Hy Vọng, chỉ có hai chiếc máy Goss chạy giấy cuộn đang in báo. Số máy còn lại được lau chùi sạch sẽ và nằm chơi. Đây là phân xưởng được xây cất và lắp đặt từ cuối thập niên bảy mươi. Máy móc hiện đại nhất vào thời điểm đó. Những người quản lý cũ của cơ sở in này được đào tạo từ Tây Đức, từ Pháp và Mỹ. Họ giỏi về nghề in đã đành, họ còn giỏi cả trong lãnh vực kinh doanh, quản lý xí nghiệp. Vào hồi bấy giờ, chưa có nghề kinh doanh nào (tất nhiên chỉ nói đến những nghề làm ăn chân chính) có lời nhanh bằng nghề in. Lúc đầu, cơ sở này chỉ có vỏn vẹn mấy chục máy đặt tay in typô. Về sau, cứ lãi mẹ đẻ lãi con, người ta đổ cả tiền lời vào việc đầu tư mở mang xí nghiệp. Hai chiếc máy Goss in cùng lúc hai màu được mua vào dạo đó. Trong khâu sắp chữ, thay vì lối sắp chữ bằng tay, người ta đã com măng từ Luân Đôn chiếc máy Monophoto, sắp chữ bằng máy, vừa nhanh, chữ lại sắc nét và đẹp. Lúc đó, ở Sài Gòn kỹ nghệ in đua nhau phát triển. Nhưng duy chỉ có cơ sở này sắm được thiết bị hiện đại. Một năm sau đó, người ta lại mua được chiếc máy Monophoto thứ hai, sang lại của một cơ sở bị phá sản. Với hai chiếc máy sắp chữ hiện đại này, người ta có thể hoàn tất một cuốn sách chín trăm trang trong vòng ba ngày. Một kỉ lục mà lối sắp những con chữ chì bằng tay không bao giờ đạt được. Một năm sau đó, người ta dốc vốn ra mua được chiếc máy ốpsét in bốn màu một lượt. Đây là chiếc máy duy nhất của Sài Gòn. Công việc làm ăn ngày càng phát đạt. Với số người rất ít, cơ sở in này đã có được sản lượng in bằng những xí nghiệp in lớn có hàng ngàn  thợ. Thế rồi giải phóng, xí nghiệp tiếp tục hoạt động được hai năm, tất nhiên là dưới sự quản lý của Nhà nước. Qua đợt cải tạo tư sản ngành in, những người chủ của cơ sở này đã hiến cho Nhà nước toàn bộ nhà xưởng và thiết bị. Khi đó phụ tùng, vật  tư, nguyên liệu đã cạn rồi.


Sáp nhập thêm ba cơ sở in của tư nhân vừa cải tạo, nhà máy in Hy Vọng ra đời. Lúc đó, ngành in thành phố thực hiện việc điều máy móc, thiết bị chi viện cho các nhà in trong toàn quốc. Năng lực của ngành in Sài Gòn quá lớn. Trước năm một ngàn chín trăm năm mươi lăm, Sài Gòn chỉ có bốn mươi nhà in, phần lớn là của người Pháp và người có quốc tịch Pháp. Đến năm bảy mươi tư thì Sài Gòn đã có tới chín trăm hai mươi hai nhà in lớn, vừa và nhỏ. Nền kinh tế thương mại và mức tiêu dùng phát triển thì ngành in tất yếu phải phát triển. Ở Sài Gòn, in không chỉ là ngành văn hóa mà còn là ngành kinh tế tác động mạnh vào sản xuất công nghiệp, thương mại xuất nhập cảng và du lịch. Kỹ nghệ in bao bì đựng sản phẩm, in trên ống thủy tinh, in trên nylon, in trên sắt tráng kẽm, in vải, in lụa... của Sài Gòn lúc đó đạt ngang với trình độ quốc tế.


Tháng tám năm bảy mươi sáu, công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa trong ngành in được chính thức tiến hành. Hai nhà in lớn là Thanh Tân và Nguyễn Tấn Long đã tự nguyện vào hợp doanh với Nhà nước. Đó cũng là xí nghiệp công tư hợp doanh in đầu tiên của thành phố. Một năm sau, tháng sáu năm bảy mươi bảy, việc cải tạo tư sản ngành in được áp dụng đại trà. Hàng loạt nhà máy in quốc doanh và công tư hợp doanh ra đời. Xí nghiệp Liên hiệp in của thành phố thành hình với lực lượng ấn loát chủ yếu của thành phố Hồ Chí Minh mà nhà máy Hy Vọng được coi là đơn vị thí điểm.


Sau khi điều phối máy in cho các xí nghiệp in trong cả nước, ngành in của thành phố còn công suất ba mươi lăm tỷ trang in 13x19 một năm, bằng một phần ba công suất trước giải phóng, tương ứng với một vạn cán bộ công nhân viên chức theo qui định. Ở nhà máy in Hy Vọng, nếu có đủ các điều kiện sản xuất, mỗi năm có thể đạt mức mười ngàn triệu trang in 13 x 19 với đủ ba phương pháp in typô, ốpsét, và ống đồng. Nhưng đó là nếu  như...


Đã mấy năm nay, nhà máy chỉ hoạt động cầm chừng. Mỗi ngày ra được hai tờ báo với số lượng hạn chế. Thịnh đau đầu vì khách hàng quá đông mà giấy không có. Công nhân thì ngao ngán. Hưởng bảy mươi lăm phần trăm lương, làm sao đủ sống? Tình trạng này còn kéo dài tới bao giờ?


Hai chiếc máy Goss vẫn điềm tĩnh nhả ra từng tờ báo. Nét chữ sắc, thơm mùi mực. Hình ảnh rõ, dịu, có chiều sâu. Ca sản xuất có sáu công nhân. Hai người coi máy. Bốn người xếp báo giao cho khách. Chỉ có ở đây, cái phần sống động duy nhất của nhà máy, mới thấy âm vang tiếng máy nên ít có tiếng người. Máy chạy đều đều, hai thanh niên trực máy liếc nhanh trên tờ báo. Những bài báo viết về tội ác của bọn xâm lược Pôn Pốt ở các tỉnh biên giới Tây Nam. Những tin tức về trận lũ lụt ở miền Tây. Những câu chuyện về bọn đầu cơ buôn lậu đang phá giá, lũng đoạn thị trường. Một bài báo có tựa đề rất hấp dẫn “Gạo và những kẻ buôn gạo”... Cả một đất nước trăm ngàn gian khó và thử thách dội vào đây, rành rành trên trang báo. Họ là những người đầu tiên thấm thía nỗi khó khăn, thiếu thốn. Một thành phố ba, bốn triệu người. Một tờ báo được phép xuất bản bảy chục ngàn bản mỗi số nhưng chỉ đủ giấy in mười ngàn bản. Họ còn sung sướng hơn hàng vạn người khác là có báo để đọc.


Quản đốc phân xưởng in, Ba Bình, người cao và gầy, vầng trán hơi dồ ra, tóc đã bạc quá nửa ngồi trong phòng kính nhìn về phía hai chiếc máy Goss. Chiếc gạt tàn đã đầy tàn thuốc, những đầu mẩu thuốc cuộn bằng lề giấy báo. Khói thuốc ngột ngạt trong phòng kính. Ông đã nghĩ ngợi quá nhiều. Giờ này vợ ông đang làm gì? Chắc là bà đang lo bữa ăn trưa. Hai vợ chồng, tám đứa con, chỉ có hai đứa lớn đi làm, còn sáu đứa nhỏ đi học. Mức lương hiện nay mình ông sống cũng chưa đủ. Đồ đạc bán rồi cũng hết. Lấy gì nuôi sắp nhỏ ăn học đây? Cứ nhìn cảnh nhà in là ông thở dài. Mới có hơn ba năm mà nhà máy đã sa sút như vầy rồi sao? Nếu không có Thịnh, phải, nếu không có giám đốc Thịnh thì ông đâu có ngồi ở đây làm chi nữa. Nhưng liệu con người đầy nhiệt tình đó, có làm nên chuyện gì không? Ông nhớ lại buổi tối hôm qua, khi giám đốc Thịnh ghé thăm nhà ông. Thấy có khách tới, vợ ông bưng vội mâm cơm xuống bếp. Bữa ăn không có gì ngoài tô canh rau ngót nấu tôm khô, chén nước mắm. Vợ ông không muốn người ngoài thấy cái túng thiếu của mình. Mấy đứa nhỏ bê chén cơm xuống bếp ăn tiếp. Ông lau miệng rồi pha nước mời Thịnh. Thịnh vào đề ngay:


- Ở phân xưởng của anh có bảy người làm đơn xin nghỉ việc. Anh Ba thấy thế nào?


- Dạ, thưa giám đốc… - Ông vẫn xưng hô với Thịnh như thế. Ngày Thịnh mới về, ông cứ một điều: Dạ thưa ông giám đốc. Thịnh nói mãi rằng ông hơn tuổi Thịnh, thưa gởi như thế nghe kỳ quá, nghe nó không thoải mái chút nào. Ông vẫn không bỏ được thói quen đó, nhưng bỏ được chữ ông - Dạ thưa giám đốc, tôi không biết nói thế nào để giám đốc hiểu...


- Tôi hiểu. Lý do mà anh em ghi trong đơn xin nghỉ việc đều giống nhau: đời sống khó khăn. Đó là thực tế!


- Vậy thì làm thế nào mà giữ họ lại?


- Lo đời sống cho họ. Lo nguyên liệu cho máy.


- Ai cơ?


- Chúng ta.


- Thật khó tin, giám đốc ạ.


- Nhưng anh vẫn tin vào Chúa chứ?


- Tôi là một con chiên ngoan đạo.


- Thế thì chưa đủ. Cần phải là một con người giàu đức tin vào cuộc đời nữa. Tôi nói là tôi sẽ làm bằng được. Lo đời sống cho công nhân và lo giấy cho máy in. Đúng thế. Nhưng chỉ riêng mình tôi thì chẳng nên cơm cháo gì. Phải là tất cả mọi người cùng lo, cùng làm. Anh Bình ạ, hãy tìm cách giữ anh em lại. Ra ngoài bươn chải, chạy mánh hay đạp xích lô, thu nhập có cao hơn bây giờ đấy, nhưng còn lâu dài, còn nhà máy của ta? Rau muống đang trở thành món ăn chính của nhiều nhà. Nhưng rồi sẽ có ngày khá hơn, phải là thịt bò, thịt heo, là tôm, cua, cá chứ… - Thịnh dừng lại, nhìn Bình - Anh cứ suy nghĩ đi. Tôi biết anh em công nhân đang trong tình trạng thiếu thốn nhiều. Nhưng họ không dễ quên nhà máy của họ đâu. Bỏ nhà máy đi, họ cũng đau lòng đó. Ráng lên anh Bình. Tôi hứa với anh chỉ một thời gian nữa, chúng ta sẽ thoát khỏi cảnh này. Hãy nói với anh em công nhân như tôi đã nói với anh: Ráng lên anh em!


Ông Bình châm tiếp điếu thuốc vừa vấn. Phòng kính ngột ngạt khói thuốc. Ông tắt máy điều hòa, mở toang cửa ra. Tiếng máy chạy rào rào ùa vào phòng. Ông bước ra ngoài, tiếp tục dòng suy nghĩ. Chỉ những kẻ có tiền có của mới nghĩ đến chuyện vượt biên, ra nước ngoài. Còn những người thợ như ông, như các cô các cậu thợ trẻ ở đây, phần lớn là nhà nghèo, ai mà nghĩ đến chuyện ra đi. Họ bám nhà máy. Nhưng nhà máy không nuôi nổi họ. Họ phải ra ngoài kiếm sống chứ sao! Làm sao giữ được họ đây, khi mà chính ông cũng đã nghĩ đến chuyện ấy.


Nơi nào nhiều việc thì nơi đó không nhiều chuyện, và ngược lại. Ở đâu cũng vậy thôi. Ở phân xưởng thành phẩm, các bác các cô túm tụm nói chuyện nhà, chuyện phố,  chuyện chợ búa giá cả mắc mỏ. Bất cứ một sự kiện nào dù nhỏ nhất ở thành phố mà họ biết, họ cũng muốn được kể lại cho chị em trong nhà máy cùng nghe. Vả chăng, đã thành thói quen, người nào mà chẳng mong có một câu chuyện lạ cho một ngày làm việc tại nhà máy của mình.


- Cách đây hai ngày, cả một chuyến tàu đi từ Rạch Giá chở hơn bốn chục người bị chìm xuống biển.


- Sao bảo không phải chìm mà là mấy người đánh cá Thái Lan nhảy qua cướp? Họ quăng hết đàn ông và con nít xuống biển. Phụ nữ bị họ cưỡng hiếp rồi vứt xuống biển luôn. Tàu thì họ dắt về Thái.


- Đúng là lũ hải tặc. Cầu Chúa trừng phạt chúng đi!


- Ai biểu dấn thân xuống đáy biển làm chi! Tiền của, vàng bạc nhiều quá mà!


- Chị Năm biết không! Ở phường em, có nhà bà Tiền, bán tạp hóa thôi nghe. Vậy mà vừa bị kiểm tra, có mấy chục ký lô vàng lận. Trời ơi! Thì ra bả buôn vàng. Nhà bả là nơi hút vàng, và sau đó đem qua biên giới mua đồ. Người ta nói, cứ kiểu buôn vàng như thế, chỉ vài năm nữa là miền Nam này bói không ra một chỉ vàng cho coi.


- Thì đã gọi là chảy máu vàng mà!


- Lạy Chúa tôi! Sao mà có người phất lên nhanh thế kia chứ. Một ông cán bộ ở gần nhà tôi, khi mới đến nhận nhà, hai vợ chồng, ba đứa con chỉ vẻn vẹn có chiếc va ly bằng cây5 với vài giỏ xách. Vậy mà bây giờ, trong nhà ổng không thiếu một thứ đồ gì, ổng dùng cả xe cam nhông chở đồ về nhà. Bà vợ lúc đầu thấy đi làm, cũng lon guygô cơm như mình nè. Thế mà bây giờ, nghỉ việc rồi. Đi ra ngoài là ngoắc xích lô. Cũng quần sa teng dài phủ giày cao gót, áo soa Pháp trắng có thêu bông, viền cổ, tay đeo hột xoàn.


- Thế ổng làm gì?


- Nghe nói trưởng phòng gì của ngành thương nghiệp ấy.


- Hèn chi! Trúng quá rồi còn gì. Con nít ngoài phố nó hát: Muốn giàu lấy tàu biển, muốn diện lấy thợ may, muốn “cây” lấy thương nghiệp, muốn chết tiệt lấy công nhân...!


- Độc thiệt! Hát chi mà độc quá hà!


Mọi người cười vang.


Những câu chuyện đại loại như thế cứ lai rai suốt ngày. Ông Bình đi ngang qua phân xưởng thành phẩm giờ nào cũng thấy râm ran trò chuyện. Nhà máy càng ít việc thì phân xưởng này càng nhiều chuyện nhất. Đông người, toàn phụ nữ. Mà phụ nữ gặp nhau thì biết bao nhiêu chuyện trong nhà ngoài phố! Ông dừng lại trước hành lang sạch sẽ, nơi đặt chiếc tủ đứng có chia từng ô để máng áo, nón mũ và giỏ xách của công nhân. Những chiếc lon guygô, cặp lồng nhôm đựng phần ăn trưa, ông mở coi mấy lon. Một chén cơm với mẩu cá khô đen sẫm. Trong một lon khác, không thấy cơm, chỉ thấy bo bo hầm nhừ lẫn với vài hạt đậu nành. Ở một lon khác, nửa lon là bắp hầm, bên trên là một lớp đường mỏng. Bất giác ông thấy nóng ran ở hai bên thái dương. Anh em công nhân ăn uống như vậy đó. Thử hỏi làm sao người ta gắn bó được với nhà máy bây giờ?


Từ ngày nhà máy đổi tên ra Hy Vọng, bữa ăn trưa của công nhân không còn nữa. Lý do rất dễ hiểu là gạo không có mà tiền cũng không. Cứ kéo dài mãi tình trạng này hy vọng hóa thành tuyệt vọng! Ôi, cái sự đổi tên! Bất giác ông Bình nhớ đến câu đối truyền khẩu tại các quán cà phê cóc vỉa hè, chắc là của một kẻ độc miệng nào đó chế ra về chuyện đổi tên đường phố: Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý. Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do! Làm sao để Hy Vọng không tuyệt vọng? Giám đốc Thịnh có tài thánh cũng không khôi phục nổi bữa trưa không mất tiền của anh em thợ. Thật lòng, ông Bình thấy ái ngại cho Thịnh. Tiếp nhận một cơ ngơi đã kiệt về vốn liếng, vậy mà anh ta vẫn tự tin dễ sợ. Kể cũng lạ. Dần dần ông nhận ra trong con người của giám đốc một đức tin. Nó có phần khác với đức tin của ông. Bất giác ông lầm rầm cầu nguyện trong lòng: Lạy Chúa, xin Chúa che chở cho chúng con qua cơn nguy khốn. Chúa hãy phò giúp cho những người giàu đức tin... Và vì Chúa, sáng danh Chúa, mọi đức tin sẽ thành đạt!


 



Nguồn: Giấy trắng. Tiểu thuyết của Triệu Xuân. NXB Văn Nghệ TP.Hồ Chí Minh in lần đầu tháng 3-1985. Các nhà xuất bản khác tái bản nhiều lần. NXB Văn học in lần thứ 10 năm 2007.



www.trieuxuan.info



 


____


 


 




(1) Tiếng Pháp: Paris nhỏ.




(2) Ở các tỉnh phía Bắc, gọi nhà hai lầu là nhà ba tầng.




3 Tên đầy đủ là UNHCR: United Nations High Commissoner for Refugees:  Cao ủy Liên hiệp quốc về người tị nạn.


 




4 Từ năm 1982 trở về trước, ở các tỉnh, thành phố, cấp Sở vẫn gọi là Ty.




5 Cây: gỗ. Ở các tỉnh phía Bắc gọi là cái hòm bằng gỗ.


 



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.Chương 3
10.Chương 2
11.Chương 1
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
xem thêm »