tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19683092
Những bài báo
20.05.2009
Đỗ Duy Ngọc
Quê

 


Tôi rời quê ra đi khi vừa đôi ba tuổi. Hình ảnh quê nhà trong tôi chẳng đọng lại chút nào. Mấy chục năm chia cắt đất nước, tôi nghĩ về quê qua những lời kể của ba mạ tôi. Những hôm nhà có giỗ hay những lúc Tết về, Ba tôi thường âm thầm khóc. Lúc còn bé, chưa hiểu hết những giọt nước mắt ấy, tôi thường chẳng chút áy náy gì. Nhưng rồi càng lớn lên và nhất là khi đã bắt đầu có tuổi, tôi mới hiểu được đó là những giọt nước mắt của người đàn ông đang nhớ về quê nhà và những mồ mả của giòng họ đang bị cắt chia không biết bao giờ gặp lại.


 


Trong ngôn ngữ của tiếng Việt, có rất nhiều từ ngữ để chỉ về nơi chốn đó như quê hương, quê nhà, quê quán, quê cha đất tổ, quê mẹ, quê nội, quê ngọai... Với tôi, tôi chưa bao giờ biết được những chốn quê ấy. Ra đi từ khi còn bé, khi nước nhà thông thương, tôi đang lãng du xa gia đình, nên trong những năm tháng "miền Nam nhận họ, miền Bắc nhận hàng", khi bà con tôi từ miền Bắc vào thăm gia đình tôi và kiếm chút quà "tư bản" mang về, tôi chưa được hân hạnh gặp. Đến khi gia đình tôi được đoàn tụ với nhau ở Sài gòn, quê nhà lại được ba mạ tôi kể nhiều hơn với nhiều thương nhớ hơn. Nhờ những chuyện kể rời rạc đó, tôi hình dung quê nhà xa xôi mà gần gũi.


 


Quảng Bình có nhiều cảnh đẹp. Vùng đất đó còn là nơi sản sinh ra cho đất nước và thời đại những người góp phần làm nên lịch sử Việt Nam. Qủang Bình còn là quê hương của nhiều văn thi sĩ để lại nhiều tác phẩm muôn đời.


Đó còn là vùng đất có chiều ngang nhỏ nhất nước Việt, nhìn vào bản đồ nó như là chiếc eo thon của người phụ nữ mà phần trên là đồng bằng sông Hồng và phần dưới là vựa lúa Cửu Long. Miền đất đó nghèo triền miên từ đời này sang đời khác, dù đã có một thời có nhiều bài ca ca ngợi nó, dù chỉ là những lời ngợi ca sáo rỗng để lên dây cót tinh thần.


 


Mẹ tôi vốn là con gái của vùng Lệ Thủy, huyện giàu có nhất của Quảng Bình như dân gian thường truyền tụng - thứ nhất Đồng Nai, thứ nhì hai huyện - hai huyện chính là quê mẹ tôi. Mẹ tôi con địa chủ, bà ngọai tôi vốn làm nghề buôn bán nhiều nơi, có nhiều tiền của. Nhưng khi bà ngoại qua đời lúc mẹ tôi còn bé, gia tài bị người anh trai của bà ngoại tôi, người tôi gọi là ôn Lý, làm thầy thuốc, chiếm hết. Mẹ tôi từ một người mà tuổi đã lên mười còn được người giúp việc cõng đi xem hát, phải bươn chải giữa chợ đời bán buôn để nuôi ông ngọai tôi lúc này đang lâm trọng bệnh. Phải sống trong mái nhà rách nát trong khi khu vườn và nhà cửa của mẹ mình để lại đều bị người khác chiếm hữu và sử dụng. Lúc còn nhỏ, mỗi lần nghe mẹ kể chuyện này, tôi ức lắm, và cũng vì chi tiết đó, tôi cũng chẳng có bao nhiêu cảm tình với bà con bên ngọai. Mẹ tôi có người anh trai võ nghệ rất giỏi, thường đi hành hiệp giang hồ và có nhiều tên tuổi trong giới võ nghệ thời ấy, đến thời kỳ kháng chiến, cậu tham gia đánh Tây, nhưng đến thời cải cách ruộng đất, lại bị đem ra xử tử. Sự tráo trở của con người trong dòng họ, sự tàn ác của những con người ở vùng đất đó qua những lời kể của mẹ tôi làm tôi mất dần thiện cảm với quê ngoại.


 


Ba tôi xuất thân Tây học ở huyện Văn La, ông nội tôi có thời gian đi làm việc ở Pháp và sau đó đi làm ăn ở Lào và mất bên đó. Ba tôi là con út, ra đời khi ông nội tôi ở Pháp về. Lúc nhỏ ba tôi vừa học chữ Hán vừa học chữ Tây, trong bà con bên nội, Ba tôi là người có nhiều chữ nghĩa nhất thời đó. Lên trung học, ba tôi vào học ở Huế và ra trường làm việc ở Tourane (Đà Nẵng bây giờ). Khi Nhật chiếm Tourane, ba tôi bỏ về quê và tham gia kháng chiến, nhờ có học ba tôi được đề bạt làm lãnh đạo địa phương, nhưng cũng vì có học, nói giỏi tiếng Tây, ba tôi bị những người đồng chí của mình nghi kị. Vùng quê nơi ba tôi họat động là vùng xôi đậu, Tây thường về bố ráp ban ngày, ban đêm là quyền của Việt Minh. Trong những cuộc bố ráp, bắt bớ đó, ba tôi với tư cách là thầy giáo trong làng là người thường đứng ra nói chuyện với Tây để xin giải thóat cho bạn bè, đồng bào mình. Từ đó, những người lãnh đạo cho rằng ba tôi có quan hệ với thực dân, nên ra lệnh phải giết ngay ba tôi. May thay người nhận lệnh xử tử ba tôi là người học trò cũ, ông này báo cho tôi biết và tổ chức một cuộc trốn chạy . Ba tôi ra Đồng Hới và trở thành người phía bên kia chiến tuyến. Từ đó cho đến khi di cư vào Nam, ba tôi chẳng một lần trở về làng cũ. Khi kể lại chuyện này cho chúng tôi nghe, ba tôi cũng chẳng trách móc gì ai, mà chỉ cho rằng đó như là một qui luật của chiến tranh. Nhưng tôi, từ còn bé đã không chút cảm tình với những người đã có lần hạ lệnh giết ba mình. Gia đình bên nội của tôi cũng có đủ gái trai, nhưng rồi tan tác cả. Người anh đầu của ba tôi, chúng tôi thường gọi là bác Cai, bác có thời làm lý trưởng và di cư vào Nam cùng thời gian với gia đình tôi. Chắc là bác cũng có thời làm cai đội nên mọi người và gia đình tôi gọi bác bằng tên chức vụ ấy. Bác ở với gia đình tôi và mất năm 1963 tại Đà Nẵng. Sau bác Cai, tôi còn có một người Bác nữa tên gọi là bác Thừa, vì theo lời kể của ba tôi thì bác có một ngón tay thứ sáu. Bác học rất giỏi, đêm đêm chỉ cần cây nhang, bác đọc bài bằng ánh sáng của cây nhang ấy, đọc tới đâu thuộc đến đấy. Rất tiếc là bác Thừa mất sớm, nên không biết sự nghiệp của bác sẽ tiến đến đâu trong những năm cuối của Hán học. Tôi còn một người bác nữa, nghe kể cũng học rất giỏi, ra học ở thành phố VInh, được một người Pháp chủ rạp hát ở thành phố này nhận làm con nuôi và sau đó lưu lạc phương trời nào không biết. Ba tôi cũng thường nhắc đến Bác này với mong ước tìm được bác hoặc máu mủ của bác, rất tiếc cho đến cuối đời mong ước này ba tôi cũng không làm được. Và chắc đời tôi cũng chẳng làm được điều này vì cho đến bây giờ chẳng manh mối nào để lần cả. Đến đời ba tôi, giòng họ chẳng còn ai ở miền Nam, nên nỗi nhớ quê nhà và giòng tộc được ba tôi thể hiện bằng những giọt nước mắt ngậm ngùi.


 


Tôi rời nhà đi học xa từ năm 18 tuổi, mỗi lần nghĩ đến quê nhà tôi vẫn nghĩ đến thành phố Đà nẵng, nơi tôi đã lớn lên và có nhiều kỉ niệm. Và trong thâm tâm, tôi cho đó là quê của mình. Quê nhà thật sự của tôi chỉ còn trên giấy khai sinh và tờ căn cước. Những biến động của thời cuộc lí ra đã là dịp cho tôi được trở về nơi tôi được sinh ra và được gặp mặt những họ hàng chưa biết mặt. Nhưng rồi tôi đã không về. Và tôi cũng chẳng tìm dịp để về. Những năm cuối đời, ba tôi thường mong ước ba đứa con trai của ông về quê, trước là để biết quê cha đất tổ, sau là để được vinh dự với làng nước về những đứa con đã có đôi chút thành đạt. Nhưng ba anh em trai của chúng tôi chẳng đứa nào trở về. Ba tôi buồn lắm, nhưng cũng chẳng phiền trách gì chúng tôi, chỉ thấy trong ông những ánh mắt buồn lặng lẽ. Bây giờ ba tôi đã đi xa, nhưng những đứa con bất hiếu của ông vẫn chưa một lần biết quê hương. Quê nhà vẫn là chốn xa xôi mờ ảo trong tôi. Và tôi vẫn không lí giải được là tại sao tôi vẫn không muốn một lần về cho biết quê cha. Có lẽ những ấn tượng về một làng quê với những tàn nhẫn của những người cùng dòng tộc, những sự tàn ác trong cách giải quyết công việc theo qui luật của tàn khốc chiến tranh khiến tôi có ác cảm về vùng quê ấy.


 


Tôi đã đi nhiều nơi, trong nước cũng như nhiều thành phố, nhiều tiểu bang trên thế giới. Tôi có thể kể nhiều chuyện về những nơi chốn tôi đã đi qua. Nhưng tôi vẫn không có một hình ảnh nào của chốn chôn nhau cắt rún. Đối với ba tôi, tôi là đứa con bất hiếu và đối với quê nhà tôi là kẻ tuyệt tình.


 


Chế Lan Viên có viết hai câu thơ mà tôi hay chợt nhớ:


"Ở xứ chim không di cư người phải di cư


Lưu vong chính trên mình tổ quốc"


 


Có lẽ tôi không trở về quê vì sợ lưu vong chính trên quê nhà của mình chăng? Bởi đối với quê tôi vẫn là người khách lạ.


 


Và cho đến bây giờ tôi vẫn là kẻ chẳng có quê.


Mỗi lần viếng mộ ba tôi, tôi thường tự nhủ với lòng mình sẽ tìm dịp để thăm quê như ước vọng của ba. Nhưng sao tôi vẫn chưa làm được. Và tôi hiểu rằng, nếu chưa làm được điều này, tôi vẫn là đứa con bất hiếu. Ba ơi !


 


Đỗ Duy Ngọc


Tác giả gửi www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Biển Đông lại sắp…dậy sóng!? - Nguyễn Hồng Lam 22.06.2017
Nhà báo Nguyễn Công Khế nói về những 'điều cấm kỵ' - Nguyễn Công Khế 22.06.2017
Nghề báo lắm hiểm nguy - Nguyễn Công Khế 22.06.2017
‘IS đã chính thức thừa nhận thất bại’ - Nhiều tác giả 22.06.2017
Thủ tướng Hun Sen đi bộ qua biên giới, thăm lại 'đường cứu nước' - Nhiều tác giả 21.06.2017
Kiếp sau tôi vẫn chọn nghề báo - Trần Thị Sánh 21.06.2017
Muôn lần bất diệt con người! - Lưu Trọng Văn 19.06.2017
Tôi là dân Quận 3 - Sơn Trà - Võ Kim Ngân 19.06.2017
Làm báo thuở thanh xuân - Trịnh Bích Ngân 19.06.2017
Từ Trường thi Gia Định đến Nhà văn hóa Thanh niên - Hồ Tường 18.06.2017
xem thêm »