tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21098371
Những bài báo
14.01.2015
Triệu Xuân
Mãi mãi thương nhớ anh Thu Bồn


Từ phải qua, hàng đứng: Thu Bồn, Hải Như. Hàng ngồi: Hoàng Cầm, Triệu Xuân. Ảnh chụp lúc 9 giờ ngày 12-03-1995 tại Đại hội V, Hội Nhà văn VN, Hội trường Ba Đình, Hà Nội.


Có những nhà văn cả năm tôi mới gặp một lần, biết nhau chủ yếu qua văn chương, vậy mà đầy trân trọng, ấn tượng. Nhà thơ Thu Bồn đối với tôi là như thế! Sau những ngày nằm điều trị tại bệnh viện Chợ Rẫy (nơi nhà thơ Chế Lan Viên đã điều trị những ngày cuối đời, và cũng xin về nhà để...), biết không qua khỏi, gia đình nhà thơ Thu Bồn đã xin bệnh viện được đưa nhà thơ về nhà tại 367 ấp Nội Hóa, xã Bình An, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Nhà có điện thoại bàn và di động là: 0650 751 578; 0913 74 28 22. Đêm ngày 17 tháng 6 năm 2003, tôi nhận được tin nhà thơ Thu Bồn đã từ trần lúc 19 giờ 30. Đêm 17 tháng 6, tôi thức trắng đêm...


Anh Thu Bồn ơi! Em đang chịu tang Mẹ. Mẹ em chín mươi tuổi, mất ngày 27 tháng 5 năm 2003, đến nay mới được hai mươi ba ngày. Nỗi đau xót vô biên, làm sao nguôi ngoai được? Đã nhiều đêm em thức trắng vì thương nhớ Mẹ. Đêm nay được tin anh qua đời, em nghe điện thoại mà trào nước mắt!


Mãi mãi thương nhớ người anh, người bạn lớn, người có nhân cách, tài năng lớn. Cầu mong cho linh hồn anh Thu Bồn được thanh thản nơi chín suối!


... Mãi đến sau ngày đất nước hòa bình thống nhất tôi mới gặp anh Thu Bồn. Thế nhưng thơ anh thì tôi đã thuộc từ thời còn là sinh viên khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp Đại học, tôi tình nguyện vào Nam làm phóng viên mặt trận tại chiến trường Trung Trung Bộ. Đã hai lần tôi về xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, nơi anh cất tiếng khóc chào đời. Điện Thắng ngày đó bị giặc cày ủi tan tành, chà đi xát lại đến mức không còn gì là biểu hiện của màu xanh, của sự sống! Sau này khi gặp anh, tôi kể chuyện đã từng viết về Điện Thắng quê anh, về các xã kế bên như Điện Ngọc, Điện Nam... với những con người trung dũng kiên cường, thà chết chứ không chịu khuất phục quân xâm lược. Anh Thu Bồn cười rất vang, rất tự hào, nói: “Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm, Rượu hồng đào chưa ngấm đà say, nặng tình nặng nghĩa lắm, nhưng đồng thời cũng vô cùng can đảm, gan góc, kiên trung”. Năm 1988, tôi xuất bản cuốn tiểu thuyết Trả giá, anh Thu Bồn gặp tôi, dang tay ra ôm rất chặt: “Rất mừng cho Xuân, em viết chí lý, can đảm lắm, mà cũng đằm thắm lắm, tả về Nam Bộ thế là đạt!”. Năm 1991, khi tôi xuất bản cuốn tiểu thuyết Sóng lừng, bất ngờ gặp anh Thu Bồn ở một cuộc gặp gỡ cuối năm, anh Thu Bồn lại dang tay ra ôm tôi rất chặt và nói: “Anh đọc rồi, đọc rồi, đã lắm, can đảm lắm!”. Sau Đại hội Toàn quốc lần thứ V của Hội Nhà văn một thời gian, nhân một chuyến công tác ra Hà Nội, tôi đến thăm một người bạn văn thân thiết ở cơ quan cũ của anh Thu Bồn. Chi bộ của cơ quan gửi tôi mang vào Sài Gòn cho anh Thu Bồn: Hồ sơ Đảng viên. Bao thư màu vàng, dán kỹ, ghi bên ngoài: Tổng cục Chính trị, Hồ sơ Đảng viên, Họ và tên: Thu Bồn. Cấp bậc Đại úy. Đơn vị: Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Quê quán: Điện Thắng, Điện Bàn, Quảng Nam. Số Hồ sơ: TN 1316CT/LLĐV.


Vào tới thành phố Hồ Chí Minh, tôi sốt sắng liên lạc với anh và nói cần chuyển gấp cho anh Hồ sơ Đảng viên nói trên. Lúc này anh Thu Bồn rất ít khi ở Sài Gòn. Anh trả lời tôi qua điện thoại: “Cứ giữ giúp anh, Triệu Xuân nhé!”. Từ đó, mỗi lần gặp anh, toàn bất ngờ, tôi lại nhắc đến cái bao đựng hồ sơ màu vàng. Anh nói ngay: “Anh suốt đời là một người Cộng sản! Triệu Xuân cứ giữ cái đó cho anh!”. Tôi băn khoăn, bảo: “Em mang đến tận nhà anh nhé?”. Anh trả lời: “Không, anh bảo là cứ giữ lấy mà!”. Trong lòng tôi thật không hiểu anh có ý gì? Vì sao anh lại không nhận, cứ bảo tôi giữ? Tôi giữ nguyên vẹn bao Hồ sơ mà người ta gửi cho tôi. Năm ngoái, trong lễ tang của nhà văn Mai Văn Tạo, anh Thu Bồn có vẻ khỏe mạnh hơn hẳn trước đó. Ai cũng mừng cho anh. Khi ngồi uống nước với nhau tại sân rợp bóng mát của khu nhà 81 Trần Quốc Thảo, tôi nghe chị Lý Bạch Huệ kể về những ngày lâm bệnh nặng của anh. Anh bảo: “Anh sống được là nhờ Huệ!”. Tôi lại nhắc đến bao Hồ sơ. Anh Thu Bồn ghé sát tai tôi nói: “Anh quí Xuân nên mới nhờ em giữ. Nay anh kiệt sức rồi, nhận nó làm gì?! Cứ giữ nó, Xuân nhé!”.


Đã hơn tám năm trời tôi giữ Hồ sơ Đảng viên của nhà thơ Thu Bồn! Lúc tôi nhận nó thế nào thì nay nó vẫn nguyên vẹn như thế! Nay anh qua đời, tôi coi đó là kỷ vật mà anh Thu Bồn có ý lặng lẽ gửi cho tôi!


Nhà thơ lớn, Đảng viên Cộng sản Thu Bồn (tên khai sinh là Hà Đức Trọng) tham gia thiếu sinh quân từ năm mười hai tuổi, vóc người cao lớn, mũi to, giọng sang sảng, từng là chiến sĩ pháo binh, đã để lại hơn hai chục tác phẩm, trong đó có những tác phẩm như Bài ca chim Ch’rao, trường ca,1962; Mặt đất không quên, thơ, 1970; Quê hương và mặt trời vàng, trường ca, 1975; Người vắt sữa bầu trời, trường ca, 1985; Thông điệp mùa xuân, trường ca, 1985; Một trăm bài thơ tình nhờ em đặt tên, thơ, 1992; Chớp trắng, tiểu thuyết, 1970; Những đám mây màu cánh vạc, tiểu thuyết 2 tập, 1975; Đỉnh núi, tiểu thuyết, 1980; Vùng pháo sáng, tiểu thuyết, 1986; Cửa ngõ miền Tây, tiểu thuyết, 1986; Em bé vào hang cọp, tiểu thuyết 2 tập, 1986... Anh đã được trao nhiều giải thưởng trong nước và quốc tế. Gần đây nhất, năm 2001, anh được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, đợt 1.


Hơn hai chục tác phẩm của Thu Bồn toát lên một con người có tâm hồn lớn, nhân cách và tài năng lớn. Khi nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, anh đã yếu lắm rồi. Anh nói với tôi: “Nhận giải thưởng Nhà nước thì mừng lắm, nhưng già rồi, sức kiệt rồi, làm sao còn viết tiếp được? Còn sức, còn quỹ thời gian, ráng viết đi, viết cho can đảm!”.


Nhà thơ Thu Bồn luôn luôn nồng nàn, đa tình với đời, cháy bỏng ngọn lửa tình yêu Tổ quốc. Anh từng viết:


... “Tình yêu Tổ quốc của một nhà văn có nghĩa là phải can đảm ngợi ca và can đảm chỉ trích. Nói cho cùng là phải yêu đến tận cùng gan ruột. Tổ quốc lâm nguy, nhà văn phải đem hết tim gan mình phơi lên trên chiến địa và có lúc phải hy sinh như người lính:


... Rồng lửa đã xé toang mở cửa


Trái tim ta bật dậy trước chiến hào


Trước lửa đạn quân thù không thể nào dối trá


Rất có thể anh không bao giờ nhìn thấy


Một làn môi em hay một nụ cười...


Nhưng tất cả sẽ trở thành vô nghĩa


Nếu những mồ bia kia không gọi được mặt trời.


Đất nước hòa bình thống nhất và đổi mới, con người dễ hờ hững và buông xuôi với thời cuộc để lo cho cuộc sống sau nhiều năm chiến tranh gian nan. Tôi nghĩ nhà văn có nhiệm vụ rất nặng nề. Vì đây là cuộc chiến đấu vô cùng phức tạp và tế nhị...”.


Mãi mãi thương nhớ nhà thơ Thu Bồn!


 


Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 6 năm 2003.


TX.


www.trieuxuan.info


 


Nguồn: Rút từ Lấp lánh tình đời. Truyện & ký chọn lọc của Triệu Xuân. NXB Văn học, 2007.


Trước đó, đã in trên Báo Gia đình & Xã hội, số 73, ngày 20 tháng 6 năm 2003.  


- In trong tác phẩm Thu Bồn - Gói nhân tình, Nhà Xuất bản Văn học, 2004.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thầy trò đời nay với thầy trò xưa - Phan Khôi 19.11.2017
Nhân Ngày Nhà Giáo VN 20/11/2017: Những điều ít biết về Thầy tôi – Nhà thơ Thúc Hà - Nguyễn Văn Thanh 18.11.2017
Thuyết trình khoa học với chủ đề: Tính hiện đại của tiểu thuyết M. Proust - Tư liệu 13.11.2017
Tàu sân bay Mỹ sẽ đến thăm cảng Việt Nam - Tư liệu 12.11.2017
Hoàng Như Mai văn tập - Đoàn Lê Giang 12.11.2017
hai bài của GS Trần Hữu Tá viết về GS, NGND Hoàng Như Mai - Trần Hữu Tá 12.11.2017
DONALD TRUMP phát biểu tại APEC, Đà Nẵng, ngày 10-11-2017 - DONALD John Trump 11.11.2017
Kiểm dịch "Luận chiến văn chương" (quyển 4) của Chu Giang, Nguyễn Văn Lưu - Kiều Mai Sơn 07.11.2017
Cụ Triệu Thái - cùng thời Nguyễn Trãi - Danh nhân đất Việt - Vũ Truyết 06.11.2017
Cát Bà & huyện Cát Hải, Hải Phòng - Nhiều tác giả 05.11.2017
xem thêm »