tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20185524
Tiểu thuyết
08.05.2009
Hoài Anh
Đất thang mộc

Tôi đọc cho anh nghe bài thơ tôi làm trong lúc ngủ ở cái quán bỏ không đầu chợ kia kìa:


Trời làm màn gối, đất làm chiên,


Nhật nguyệt cùng ta một giấc yên.


Đêm khuya chẳng dám dang chân ruỗi,


Chỉ sợ sơn hà xã tắc nghiêng.


- Anh sai rồi, bài thơ ấy là của vua Lý Thái Tổ chứ có phải là của anh đâu?


- Thái Tổ hay Thái Tông gì cũng được tuốt! Đời vua Thái Tổ, Thái Tông, con bế, con dắt, con bồng, con mang. Các ông vua ngày xưa là nhiều con lắm đấy nhé. Con chính, con hoang, con đẻ rơi đẻ rụng, chỗ nào mà chẳng có. Này anh xem cái tướng tôi có đúng là con vua không nào? Con vua thì lại làm vua, con nhà thày chùa đi quét lá đa, à quên, con nhà bán than đi quét lá đa về phơi khô đốt lên làm nồm cho than bén cháy chứ! Này anh có biết không, ông Châu Trí ngày xưa chỉ đốt lá đa soi sáng để mà học, sau này cũng thi đỗ làm quan đấy. Anh xem tôi sau này có thể làm vua được không?


- Anh say quá rồi, cứ nói năng lảm nhảm thế có bữa mất đầu đấy!


- Anh vừa nói mất đầu, thế là cái điềm tôi sắp sửa làm vua đấy. Này nhé, hiện giờ tôi đang là Chúa Chổm, chứ Chúa mất đầu chả hóa thành chữ Vương là gì?([1])


- Tôi đến chịu cho cái tài ngụy biện của anh. Thôi để hạ thần vực bệ hạ về long sàng của bệ hạ nằm nghỉ, kẻo ở đây gió máy nhỡ cảm mạo thì nguy hiểm lắm.


Nói rồi Sơn Khoái dìu Ninh về quán của cậu, đặt cậu nằm xuống chõng. Sơn Khoái thấy đầu óc mình rối loạn không còn hiểu ra sao nữa. Sao cậu ta lại nói toàn giọng khẩu khí, có ý nhận ngầm mình là con vua cháu cháu. Nếu là con vua Quang Thiệu thật thì liệu có sơ hở như thế không? Hay là có kẻ mạo nhận mình là con vua để đánh lừa chàng? Biết đâu không phải là mưu chước của kẻ thù, cho người giả làm con vua cốt để đưa chàng vào bẫy. Nếu mình hỏi thẳng chàng có phải là hoàng tử hay không, như vậy chẳng khác gì lạy ông tôi ở bụi này, họ Mạc sẽ khử chàng ngay trong khi việc lớn vẫn chưa tròn. Chàng cần phải bí mật để khám phá ra sự thật.


Chàng lại nghĩ tướng mạo cậu ta không có gì đặc biệt, lại dáng điệu thô tục, ăn nói sàm sỡ, nếu quả thực là dòng máu đế vương, ắt phải có ẩn tướng gì đây. Nhớ lại bài thơ Ninh nó là làm lúc ngủ trong quán hàng, chàng bèn chờ đến đêm khuya mới quay lại quán, rình xem Ninh có gì khác lạ không?


Đến nơi thì thấy ánh trăng sáng vằng vặc chiếu vào trong gian quán bỏ hoang. Ninh đang say ngủ, co cả hai tay lên làm gối đầu, vì trời lạnh nên Ninh co cả hai chân vào đúng như câu thơ: “Đêm khuya chẳng dám dang chân ruỗi”. Trên mình Ninh vắt ngang một mảnh chiếu rách. Sơn Khoái nhìn thì ra Ninh n gủ theo hình chữ Vương với một nét đọc, ba nét ngang, đúng đây là ẩn tướng của cậu.


Rình một hồi lâu, bỗng thấy Ninh ú ớ nói mê:


- Tấm áo long bào... mẹ ơi... sao mẹ dại thế... mẹ làm khổ con... Làm vua hay mất đầu... Mặc Đăng Dung... nợ máu phải trả máu...


Qua những ời nói mê rời rạc của Ninh, Sơn Khoái cố gắng chắp lại để lần ra ý nghĩ của nó. Ninh nhắc đến tấm áo long bào thì đúng là con vua Quang Thiệu với bà hàng rượu rồi, vì nếu người ngoài chưa chắc đã biết việc vua xé mảnh áo trao cho bà để làm tin. Chàng đã toan đánh thức Ninh dậy hỏi cho rõ đầu đuôi. Nhưng chàng biết làm như vậy là thất sách, Ninh sẽ chối ngay và sau đó cậu sẽ tìm cách trốn đi nơi khác thì có mà giời tìm. Nếu cậu ta lọt vào tay họ Mạc thì giọt máu cuối cùng của nhà Lê sé bị diệt, biết lấy ai là người để lập lên làm minh chủ hẩu dễ bề tập hợp dân chúng. Nếu có người khác cũng mưu đồ chống Mạc mà lại nắm được Ninh trong tay trước mình, lỡ ra họ tài hèn sức yếu, cơ đồ tan nát, như vậy há chẳng họa lây đến Ninh hay sao?


Nghĩ vậy chàng tạm thời không để cho Ninh biết tung tích cậu ta đã bại lộ, để cậu yên tâm ở lại đây đừng trốn đi nơi khác.


Hôm sau chàng võng lọng đến thăm quan phủ doãn Phụng thiên là bạn đồng khoa với chàng. Quan phủ doãn mời chàng vào nhà trong pha trà khoản đãi. Trà nước một tuần, chàng hỏi:


- Thưa nhân huynh, chẳng hay việc trị an trong phủ độ này có được nghiêm minh không?


Viên phủ doãn nói:


- Thưa nhân huynh, từ khi Hoàng thượng có lệnh cấm các xứ trong ngoài người ta không được cầm giáo mác và binh khí hoành hành ở đường sã, ai trái thì cho pháp ty bắt, từ đấy người buôn bán và người đi đường đều đi tay không, ban đêm không có trộm cướp, trâu bò thả chăn không phải đem về, chỉ mỗi tháng điểm soát một lần, hoặc có sinh đẻ không thể biết là vật của nhà mình. Đường sá không nhặt của rơi, cổng ngoài không đóng, nhờ vậy trong phủ cũng được yên ổn.


Sơn Khoái cười nhạt:


- Ai nói với nhân huynh như vậy. Mới hôm qua, tôi vâng lệnh đức vua cải trang đi vi hành để dò xét dân tình, đến chợ Hoàng Mai, có một tên lưu manh võ nghệ nghiệp xúc phạm đến tôi, nếu tôi không có chút sức khỏe tự vệ thì đã bị nó đánh gục rồi...


Viên phủ doãn tròn xoe mắt:


- Tên nào mà lại dám vô lễ mạo phạm đến nhân huynh. Nhân huynh cứ cho tôi biết, tôi sẽ sai linh bắt ngay nó về phủ trừng trị thật nặng cho nó biết tay.


Sơn Khoái xua tay, nói nhỏ:


- Tôi vâng mật chỉ đi vi hành, không dám để lộ cho bên ngoài biết, e dân chúng sẽ xôn xao. Nếu bắt giải nó về đây e kinh động đến các hàng ty thuộc nha lại, chuyện đồn thổi ra ngoài, Hoàng thượng hay được sẽ quở trách tôi vì tội bất cẩn. Nhân huynh cứ thảo cho tôi một trát bắt, tôi sẽ sai lính của tôi bắt nó về dinh tôi để tôi tự tay tra hỏi nó xem trong truyện này có ẩn tình gì không, như vậy sẽ giữ được bí mật, khỏi để tai tiếng cho triều đình.


Viên phủ doãn vội sai đề lại thảo một đạo trát bắt tên Phạm Ninh vô nghề nghiệp trú ngụ ở chợ Hoàng Mai vì tội xúc phạm đến bậc quan trưởng. Sơn Khoái cảm ơn, mang về, ngay đêm đó chàng sai mấy tên lính hầu của mình ập đến quán chợ, lừa lúc Ninh đang ngủ, túm chặt lấy rồi trói nghiến cậu ta lại. Ninh tỉnh giấc ngạc nhiên:


- Sao các chú lại trăng trói tôi thế này? Tôi có tội gì mà trói?


Một tên lính giơ tờ trát ra:


- Có trát của quan phủ doãn Phụng thiên bắt ngươi về tội xúc phạm đến bậc quan trưởng...


- Tôi chỉ là dân hèn có gần gũi các bậc quan trưởng bao giờ đâu, mà bảo tôi xúc phạm?


- Cứ biết có lệnh bắt là bắt! Không nói lôi thôi gì nữa. Về phủ rồi khắc hiểu!


Dứt lời chúng bắt Ninh về dinh. Ninh thầm nghĩ hay là tung tích mình đã bị lộ rồi nên họ Mạc cho lính đến bắt mình, phen này chắc chết đến nơi rồi. Mình chết cũng không tiếc gì cái thân này, chỉ buồn vì nỗi không trả hù được cho cha và để lập lại cơ nghiệp nhà Lê. Nếu lúc bình thường thì Ninh đã có thể dùng tuyệt chiêu Ngũ long trảo để thoát thân, nhưng lại bị trói trong lúc đang ngủ thì làm sao gỡ thoát ra được. Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn. Ninh đành để mặc cho bọn lính khiêng đi như con lợn đã bị trói gô lại, mang đến một tòa dinh thự lộng lẫy.


Tới nơi Ninh hết sức ngạc nhiên vì bọn lính cởi dây trói cho cậu và đưa cậu vào một căn phòng bày biện hết sức trang nhã. Trước mặt trông xuống cái ao vuông trong ao thả bạch liên, chung quanh bờ trồng thanh liễu và cam quýt. Phía tây chặn ngang một hàng rào trúc, phía đông là một khoảnh sân nhỏ, có trồng mấy cây hoa nhài, hòa hồng, hoa ngâu, hoa mẫu đơn.


Trong phòng đặt một chiếc sập gụ chân quỳ, gần đó là một tủ sách chứa không biết cơ man nào là sách quý.


Giữa nhà là một tủ trà, trong bày mấy bộ đồ trà, có loại ấm Thế Đức, bằng sứ trắng men đỏ tươi, gọi là ấm da Chu, có loại ấm Lưu Bội và Mạnh Thần, màu đỏ nâu và màu gan gà. Có cỡ độc ẩm, song ẩm và quần ẩm, lại có mấy bộ dùng cho bốn mùa: Xuân ẩm, Thu ẩm và Đông ẩm. Bộ chén có đủ loại: chén tống đặt trên đĩa dầm, bốn chén quân đặt trên đĩa bàn, tất cả đặt trên khay bằng gỗ trắc, khảm xà cừ. Đĩa có đủ loại thành lòng đứng và thành lòng nứa, vẽ chàm sơn thủy như: đĩa vị thủy, đĩa siêu tương, đĩa tùng lộc, đĩa thạch lan, đĩa thạch trúc, đĩa con voi, đĩa con mối bắt con muỗi, đĩa lá lật vẽ một cái lá chàm, một lửa trong lòng đĩa, một nửa bên ngoài thành đĩa, đĩa viết một bài thơ trong một ô trắng hình quả phật thủ giưa nền men phun... Bên trái nóc tủ là chiếc lọ độc bình, sứ trắng men chàm, vẽ tứ quí mai lan cúc trúc. Góc tủ bên phải là một giá gương, gồm một tấm đá hình tròn và trắng, lấp ló như mặt trăng giữa đôi gạc nai già nối liền và một gốc khúc khiu, chạm trổ tài tình bằng gốc trắc. Giữa nóc tủ trà một lư trầm ba chân bằng đồng vàng dáng quả đào với đủ cánh lá. Trong lư, trầm kiệt sèo sèo cháy trên than và tro luyện bằng vỏ bưởi lặng lẽ tỏa một làn khói trắng, luồn qua mấy lỗ thủng ở chung quanh con sấu ám khói ngồi trên nắp lư, từ từ bốc cao, cuộn tròn mấy vòng trên khoảng không, rồi nghi ngút mịt mù che khuất dần dần một cảnh thiên nhiên của một bức tranh sơn thủy, treo cao trên nóc tủ trà.


Phía ngoài có một chậu lan đặt trên một kỷ vuông, chân dài nhỏ mình, bằng gỗ trắc Tàu đen bóng. Kỷ để trên bàn cuốn, bày vài cuốn sách cổ, những tập thiếp, tượng một thi nhân bằng sành nằm ngả vào vò rượu, vài quả đào giả, phật thủ giả, một nghiên mực, một ống bút bằng tre trong cắm bút, phấn trần, như ý...


Trên tường phía bên tả treo mấy bức tranh sơn thủy của Đồng Nguyên và Mã Viễn, tranh mỹ nữ của Đường Dần, tranh của Bát Đại Sơn Nhân, lại có mấy bức chữ có bút tích của Mễ Nam Cung, Trần Bạch Xa, Đổng Kỳ Xương...


Phía bên hữu treo một bộ tứ bình, vẽ bốn cảnh. Cảnh thứ nhất vẽ Lê Thái Tổ cùng các tướng tụ nghĩa ở Lam Sơn và Liễu Thăng bị chém đầu ở trận Chi Lăng. Cảnh thứ hai vẽ Lê Thánh Tông ngồi giữa các nhà thơ trong hội Tao đàn và dân chúng đang sống trong no ấm thái bình. Cảnh thứ ba vẽ vua Tương Dực đang uống rượu bên cạnh một cung nữ và Trần Cảo đem quân đến đánh Kinh thành. Cảnh thứ tư vẽ một viên quan mặt mũi nham hiểm ra lệnh cho hai tên lính kéo dây thắt cổ một ông vua, và một vị quan dáng trung chính nhảy xuống cửa biển tự vẫn.


Từ ngày được đưa đến đây, hàng ngày Ninh không biết làm gì chỉ hết xem sách lại ngắm tranh. Trong tủ sách Ninh thấy có quyển Lam sơn thực lục, quyển Quỳnh uyển cửu ca và quyển Hồng đức quốc âm thi tập. Với cái vốn chữ nghĩa mà Nguyên thất đạo nhân dạy cho khi trước, Ninh cũng võ vẽ đọc được ít nhiều và hiểu lõm bõm ý nghĩa của nó. Ninh hiểu là những sách này nói về sự nghiệp của tiên tổ nhà Lê nên ao ước được người dạy cho thông thạo chữ nghĩa để có thể am tường nghĩa lý trong sách. Ninh thích nhất là bài Minh lương cẩm tú ca ngợi vua sáng tôi hiền trong quyển Quỳnh uyển cửu ca. Còn chữ nôm Ninh chưa được thầy dạy nhưng dựa vào cách cấu tạo chữ gồm phần nghĩa và phần âm, Ninh đã có thể lần ra được một số câu thơ trong Hồng đức quốc âm thi tập Ninh thích nhất là bài thơ vịnh trống canh tư:


Kể lầu canh mấy khắc dư,


Đêm dài đằng đẵng mới sang tư.


Gió lay chồi ải khua chim thức,


Nước rẫy trăng tà giục sóng thưa.


Vạc thẩn thơ tìm nội quạnh,


Trời lác đác vẻ sao thưa...


Đã nhiều đêm Ninh đang nằm trong quán chợ, chợt tỉnh giấc nghe văng vẳng trống canh tư, Ninh cũng thấy quang cảnh đúng như bài thơ miêu tả. Ông cha mình làm thơ hay như thế, mà đến đời mình lại chịu dốt nát, thì thật là đáng hổ thẹn.


Mỗi bữa đều có gia nhân bưng một mâm thịnh soạn và một vò rượu vào cho Ninh ăn uống no say.


Một đêm, Sơn Khoái vào phòng thì thấy Ninh đang ngồi đánh chén tì tì. Ninh nhìn lên, thấy Sơn Khoái, sững sờ một hồi, chợt nhận ra chàng là người đã cùng uống rượu với mình hôm trước, nhưng nay không mặc thường phục mà lại ăn mặc sang trọng. Ninh cười gằn:


- À, té ra là ông! Hôm nọ tôi đâu biết ông là quan, nên mới ăn nói bỗ bã như thế, sao ông lại chấp nê chuyện nhỏ mọn ấy mà sai lính bắt tôi?


Sơn Khoái chắp tay:


- Xin túc hạ tha lỗi cho, tôi phải quyền biến làm theo cách ấy thì mới đưa được túc hạ về đây mà không sợ người ta nhòm ngó.


- Sao ông lại đưa tôi về đây?


- Tôi thấy túc hạ ở ngoài quán khổ quá, nên muốn mời túc hạ về đây kết làm bạn bè, để cùng uống rượu, thưởng trà và xem sách, ngắm tranh di dưỡng tính tình, ngoài ra không có ý gì khác cả.


- Mấy hôm nay ở đây buồn quá, tôi đã mạn phép ông xem một ít sách và ngắm những bức tranh này để giải sầu. Có một bức tranh mà tôi chưa hiểu hết ý nghĩa, xin ông làm ơn giảng hộ cho.


Ninh chỉ tay vào bộ tứ bình treo trên tường. Sơn Khoái cười:


- À bộ tứ bình ấy vẽ một số sự tích trong sử nhà Lê. Bức thứ nhất vẽ cảnh Thái tổ Cao Hoàng để khởi nghĩa ở Lam Sơn, chém đầu Liễu Thăng ở Chi Lăng, đuổi hết quân Minh về nước. Bức thứ hai vẽ cảnh Thánh Tông thuần hoàng đế sửa sang chính sự, khiến dân lành được no ấm thái bình, lập hội Tao đàn để chấn hưng văn học. Bức thứ ba vẽ cảnh vua Tương Dực ăn chơi sa đọa, gây nên họa loạn, khiến Trần Cảo đem quân đánh vào kinh thành, cuối cùng vua bị quyền thần Trịnh Duy Sản giết. Bức thứ tư vẽ cảnh vua Quang Thiệu được lập lên ngôi, nhưng sau đó bị Mạc Đăng Dung giết đi để cướp ngôi. Vị trung thần Vũ Duệ không chịu theo nhà Mạc nên nhảy xuống cửa bể Thần Phù tự vẫn.


Ninh ngắm tranh hồi lâu bỗng chảy nước mắt khóc. Sơn Khoái hỏi:


- Sao túc hạ ngắm tranh mà lại khóc? Hay là người trong tranh có liên quan gì với túc hạ có phải không?


- Không, tôi thấy cảnh người lương thiện bị kẻ gian tà giết hại, nên động lòng thương cảm thôi...


- Còn tôi thì xin thú thực với túc hạ, vị quan nhảy xuống biển vẽ trong tranh chính là gia phụ. Tôi nhớ mối thù của vua của cha, nên đặt vẽ bức tranh này để luôn luôn tưởng nhớ không quên. Chỉ buồn cho túc hạ, cứ say sưa tối ngày, nhởn nhơ không nhớ đến mồi thù cha và công ơn tiên tổ...


- Ông căn cứ vào đâu mà trách tôi như thế? Tôi đã nói với ông cha tôi làm nghề bán than lâm bệnh rồi qua đời, có kẻ thù nào giết hại đâu...


- Thôi túc hạ đừng giấu tôi nữa. Vừa rồi quan sát nét mặt túc hạ khi ngắm tranh, tôi đã đoán chắc mười mươi túc hạ là hoàng tử của đức tiên đế Quang Thiệu...


- Tôi chỉ là dân thường, không phải con vua cháu chúa gì đâu. Ông lầm tôi với người khác rồi...


Sơn Khoái mỉm cười:


- Ngay hôm ở quán rượu tôi đã nhận ra, nhưng sợ chưa đủ bằng chứng, nên sáng nay tôi đã thân ra ngoài quán tìm kiếm, thấy mảnh áo long bào có dòng chữ máu giấu trong một khúc cột bương bị cưa thủng để nhét vào rồi lắp một mảnh khác hàn kín lại. Như vậy rành rành túc hạ là con vua Quang Thiệu rồi...


Ninh đổi sắc mặt:


- Bây giờ ông đã biết tôi là ai rồi, vậy ông định làm gì tôi? Định bắt tôi nộp cho họ Mạc để lấy thưởng thì cứ việc!


Sơn Khoái chân thành:


- Tôi đã nói thật với túc hạ, cha tôi vốn là thiếu bảo Trình khê hầu Vũ Duệ, được đức vua ủy thác cho việc đi tìm kiếm và bảo toàn dòng máu của người. Khi cha tôi còn sống đã dặn lại: Nếu cha tôi có mệnh hệ nào thì tôi phải thay cha tôi làm tròn bổn phận đó.


Ninh hiểu ra xúc động:


- Nếu quả vậy thì tôi thật có lỗi với lệnh nghiêm và với nhân huynh, xin nhân huynh bỏ quá đi cho...


Sơn Khoái giọng thành khẩn:


- Túc hạ đừng bận tâm, tôi làm việc này trước hết là vì nghĩa lớn: Hỏi người dân Nam nào mà không đội ơn đức Thái tổ dẹp giặc cứu dân, đức Thánh Tông mở nền bình trị. Ngoài tôi ra cũng còn nhiều người khác ôm lòng trung nghĩa, quyết tâm phò Lê diệt Mạc. Tôi đã nhận nhiệm vụ của An thành hầu giao cho phải tìm bằng được con cháu nhà Lê, đưa sang Sầm Châu, lập nên làm minh chủ, dấy quân phù Lê diệt Mạc. Tôi sẽ tìm cách đưa được túc hạ đi.


- Nhân huynh định đưa tôi đi bằng cách nào?


(Còn tiếp)


Nguồn: Đất Thang Mộc. Phần I: Chúa Chổm. Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


 


 







([1]) Chữ Hán: Chúa bớt nét chấm ở đầu thì là chữ Vương.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 11.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
xem thêm »