tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19003179
Tiểu thuyết
28.04.2009
Hoài Anh
Vua Minh Mạng

Ông bước về phía trước, nhận tám mũi tên từ tay Nguyễn Tri Phương rồi nhắm mắt và ném. “Vút! Vút!” Hai mũi tên lao đến, gõ lên con ngựa, lọt qua miệng hồ, dội lên mặt trống kêu “binh! binh!”. Sau đó, ông lui lại bốn bước, quay người ra sau rồi tung bốn mũi tên lên trên không. Những mũi tên vòng qua đầu ông, lộn hai vòng trước khi gõ lên con ngựa và lần lượt chui vào miệng hồ. Không kịp để mọi người tán thưởng, ông ngồi xuống, quay lưng lại và nói: “Ta sẽ ném hai mũi tên cuối cùng vào hai hồ nhỏ ở hai bên”. Dứt lời, ông vung tay về phía sau. Cả hai mũi tên gần như bay đi cùng lúc, nhún lên mình ngựa rồi chia nhau rơi vào hai hồ nhỏ gắn bên cổ hồ lớn. Mọi người sửng sốt một hồi rồi mới kịp xuýt xoa thán phục: “Kỳ tài! Kỳ tài!”. “Quả là danh bất hư truyền!” Minh Mạng cười bảo: “Ta chẳng có tài cán chi cả, đó chỉ là nhờ sự luyện tập thường xuyên mà thôi!” Rồi ông đón ba chung rượu mừng, ngửa cổ uống cạn, quay lại dặn Nội các làm cho xong dự án dâng lên, rồi lui về cung. Nguyễn Tri Phương nhìn theo rồi nói với Hà Quyền, Hoàng Quýnh:


- Xem cách ném tên của hoàng thượng, thấy rõ ngài là người trí lự, mưu lược, biết lùi để tiến, chịu nhún mình nhường người khác một bước, để chờ dịp ra tay giành phần thắng cuối cùng. Có lẽ nhiều kế sách trị nước ngài đã nghĩ ra trong khi luyện tập đánh đầu hồ.


 


XV


Nghe tin Lê Văn Duyệt định tuyển binh, dân số Gia Định thành tăng lên hơn vạn người, Minh Mạng trong lòng lo ngại nhưng bề ngoài vẫn dụ khen Duyệt khéo vỗ nuôi dân, hộ khẩu sinh sôi ra nhiều là tốt. Ít lâu sau lại nhận được sớ của Duyệt nói: “Gia Định là trọng khẩn Nam Kỳ, tâu xin thuê dân đánh đá ong, cấp thêm tiền gạo, mộ nhiều dân đinh xây đắp thành hào cao rộng thêm lên để phòng thủ cho nghiệm”.


Vua liền mời quan Nội các Hoàng Quýnh vào bàn bạc. Hoàng Quýnh nói:


- Tâu Ngài Ngự, nếu Duyệt bảo xây thành cao hào sâu để phòng giặc Xiêm thì đường biển nên phòng ở Hà Tiên, đường bộ nên phòng ở Chân Lạp, há có lẽ bỏ bốn tỉnh An, Hà, Long, Tường không phòng thủ mà phòng thủ ở Phiên An? Thế rõ ràng là phòng triều đình chứ không phải là phòng ngoại hoạn. Vả chăng, thành Gia Định do tiên đế cho xây vào năm Canh Tuất(1) khi đó cũng coi như kinh thành nên đã cao lắm rồi, nếu nay lại xây cao thêm nữa, thì sẽ cao hơn cả kinh thành Phú Xuân, như vậy chẳng phải là mắc tội tiếm lạm hay sao?


Minh Mạng gật gù. Hoàng Quýnh lại nói tiếp:


- Thần nghe tin cáo mật, những tù phạm Bắc Kỳ phát phối vào Gia Định, Duyệt cho ở trong thành, rồi tha cho làm lính, gọi là Hồi lương, Bắc thuận, để làm tâm phúc, chiêu dụ những thổ mục, thổ hào hung ác, để dùng làm nanh vuốt. Lại kén lấy voi khỏe, đem ra nơi đồn thú, vét lấy những khí giới, thuyền bè của sáu tỉnh Nam Kỳ chứa vào thành Phiên An...


- Còn gì nữa?


- Duyệt đã tuyển mộ thêm nhiều lính, lại rất chăm việc luyện quân. Ngày mồng một đầu tháng, Duyệt lại dẫn quân từ Phiên An môn lên Đồng Tập Trận duyệt binh. Trong số thủ hạ của Duyệt có tên Nguyễn Hựu Khôi vốn là một thổ mục ở Cao Bằng, làm loạn, sau chạy vào Thanh Hóa, được Duyệt chiêu dụ, thăng lên đến chức Minh nghĩa phó vệ úy, và nhận làm con nuôi, đổi tên là Lê Văn Khôi. Tên này có sức khỏe kinh người lại võ nghệ tuyệt luân. Có lần sứ Xiêm sang, Duyệt bày ra cuộc đấu cọp gọi là để giải trí nhưng chủ tâm là uy hiếp tinh thần của đám sứ giả. Duyệt với sứ Xiêm ngồi trên khán đài xem. Hiệu lệnh vừa ban ra, một tên lính mở cửa chuồng cọp, cọp chạy ra gầm gừ trông thật hung tợn. Khôi trá hình làm một tên lính cầm đùi heo nhử cọp, con mãnh hổ rống lên nhảy xổ đến chụp kẻ địch liền bị Khôi dùng côn đánh chết tức khắc. Trên khán đài Duyệt vờ nổi giận, hạ lênh cho bọn võ sĩ lôi Khôi ra chém, và cho sứ giả biết là theo nguyên tắc đấu thủ phải dùng tay không chứ không được cầm vũ khí. Khôi xin lập công chuộc tội: trận đấu thứ nhì mở màn, trống chiêng nổi lên inh ỏi, một con cọp to lớn từ trong cũi nhảy vọt ra, lao thẳng tới địch thủ, nhưng chưa kịp trổ ngón gì thì đã bị Khôi đá một đòn chí tử vào hàm, cọp ngã lăn, Khôi rút dây trói chặt lại, kéo tới trước khán đài. Sứ thần Xiêm kinh ngạc, tỏ mấy lời khen ngợi rồi hỏi Duyệt: “Người ấy thuộc cấp bực nào?” Duyệt đáp: “Hắn chỉ là một tên lính chưa có công gì. Trong quân đội chúng tôi còn nhiều người khỏe hơn…”


- Thế ra Duyệt không chỉ dùng voi đấu với cọp mà còn dùng người đấu với cọp... Còn những gì nữa?


- Khôi vốn có máu làm loạn nên đã soạn vở tuồng San hậu cho đội hát bội của Duyệt, trong đó có chuyện Phàn Định Công trấn ở ngoài biên ải mang quân về triều hỏi tội hôn quân bạo chúa, ý muốn xui giục Duyệt cũng phải làm như Phàn Định Công ngày trước…


Minh Mạng cau mặt, hỏi dồn:


- Vậy hả? Còn gì nữa, khanh nói tiếp cho ta nghe.


- Duyệt ở miền Nam nghiễm nhiên như một vị phó vương. Theo lệ, hằng năm cứ tối 30 Tết là vua Chân Lạp phải có mặt tại thành Gia Định để làm lễ ở Vọng Cung. Có một lần không hiểu tại sao, đêm 30 Tết vua Chân Lạp lại ngủ tại Chợ Lớn không sang trú sẵn ở Gia Định. Sáng hôm sau, đúng lúc trống điểm sang canh năm, Duyệt một mình cùng thuộc hạ ra làm lễ tại Vọng Cung, không chờ vua Chân Lạp. Lễ xong, vua Chân Lạp mới lễ mễ tới. Duyệt chiểu theo điều lệ phạt vạ, vua Chân Lạp phải nạp đủ 3000 lượng bạc mới cho về nước. Duyệt còn sai thuộc hạ là Nguyễn Văn Độ đáp thuyền của người buôn là Phan Đạt đi riêng sang Miến Điện cấu kết ngoại giao. Khi tàu Anh Cát Lợi bị gió giạt vào Bình Thuận, Duyệt cho họ được đến Gia Định để tiện bề giao thiệp với họ. Duyệt còn tiếp kiến Giôn Hoai-tơ(1), thuyền trưởng chỉ huy tàu hai cột buồm Phờ-răng-klin(2), người nước Ma Ly Căn, cũng gọi là Hoa Kỳ(3).


Nghe Hoàng Quýnh nói, Minh Mạng càng thêm lo ngại. Nhưng nghĩ lúc đó việc ngoài biên chưa ổn định, mà Duyệt lại được dân miền Nam biết ơn và kính trọng gọi ông là Thượng công hay Ông Lớn Thượng. Nếu làm trái ý Duyệt, sẽ mất lòng dân miền Nam, nơi được coi là đất “long hưng” gây dựng nên nền móng của triều Nguyễn, như vậy không có lợi cho việc ngăn chặn ngoại xâm. Minh Mạng đành phải cho phép Duyệt đắp cao thànhGia Định và sai Duyệt phòng bị ngoài biên.


Minh Mạng còn gia ơn truy tặng thêm cho cha Duyệt là Toại hàm Đô thống chế nhất phẩm, mẹ là Nguyễn Thị hàm nhất phẩm phu nhân. Minh Mạng còn cho Lê Văn Yên cháu gọi Duyệt bằng bác ruột là con thừa tự của Duyệt được lấy công chúa Ngọc Ngôn, con gái Gia Long, em gái cùng mẹ với Quảng Oai Công Quân.


*


Ở Pháp, Louis XVIII lại khích lệ việc xuất dương đã bị tê liệt từ ngày Napoléon có chiến tranh với Anh quốc. Công tước De Richelieu thúc đẩy việc trang bị tàu buôn, miễn hẳn quan thuế cho các hàng nhập cảng, trọng thưởng các tàu buôn mỗi khi trở về nước. Do đó mà năm 1816, công ty hàng hải Pháp hạ thủy được hai chiếc tàu buôn. Tháng 9-1918, các thương thuyền La Paix và Le Henry có chiến hạm La Cybèle hộ tống, chủ hàng hóa đến cửa Hàn. Hạm trưởng chiếc La Cybèle là Bá tước Kergariou xin lên Huế để ddâng phẩm vật (Binh khí, đồng hồ, lọ thủy tinh, ảnh vua Louis XVIII) đồng thời đệ trình Gia Long biết về việc phục hồi vương quyền của Louis XVIII và xin thi hành hiệp ước Versailles mà Bá Đa Lộc đã ký trước đây, cũng là việc bảo hộ thường dân Pháp ở nước ta. Được tin, Gia Long sai Vannier và hai quan chức ta vào Đà Nẵng để đón tiếp. Nhưng Kergariou không có quốc thư, nên nhà vua không cho chiêm yết, không nhận phẩm vật, chỉ sai khoản đãi rất hậu. Riêng hàng hóa trên hai chiếc thương thuyền, không hợp với thị hiếu người Việt Nam, nên bán không chạy, thấy thế nhà vua thà không đánh thuế, lại sai chỉ cho những món hàng có thể nhập cảng...


Tuy thất bại, De Richelieu vẫn còn hy vọng là Pháp sẽ thiết lập được một căn cứ ở Đàng Trong, nên đã viết thư bảo Chaigneau cố gắng lập quan hệ thông thương giữa Pháp và Việt. Để khuyến khích, De Richelieu tặng cho Chaigneau một Bắc đẩu bội tinh.


Năm 1819, có hai chiếc tàu buôn ba cột của Pháp là La Paix và Le Henry cùng vào cửa Đà Nẵng. Lần này hàng hóa đem sang bán được là vì đã có một danh sách các hàng có thể tiêu thụ được do Vannier trao cho họ từ trước và họ lại mua một số hàng của Việt Nam về như trà, đường, bạc nén, lụa mộc... Nhân dịp này, Chaigneau xin vua Gia Long cho nghỉ phép 3 năm để về thăm nước nhà. Gia Long chấp thuận và đặc cấp cho 2 năm lương, Chaigneau liền đưa vợ con xuống tàu Le Henry.


Cập bến Bordeaux được vài ngày thì Bộ trưởng Hải quân Pháp là Bá tước Portal mời đến tiếp chuyện, Chaigneau trình bày tất cả mọi vấn đề về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa... của Việt Nam. Portal liền trình Louis XVIII chính thức gửi sứ thần sang Việt Nam. Louis liền cử Chaigneau làm Lãnh sự kiêm chức Đặc ủy Pháp và xuống tàu năm 1821, đem theo một số tặng phẩm của vua Pháp, trong đó có một cuốn tự điển khoa học và mỹ nghệ Tây phương. Tháng 6-1821, Chaigneau đến Huế thì Gia Long đã mất từ năm trước. Quốc thư và tặng phẩm được đệ lên vua Minh Mạng vào ngày 12-10-1821. Tuy nhà vua tiếp đãi ông rất niềm nở, nhưng không nhận chức đại diện của ông, và trả lời về việc xin lập điều ước thương mại xet không cần thiết, bở vì việc buôn bán người Pháp cứ theo luật lệ của nước Nam là đủ.


Tuy việc không xong nhưng Chaigneau vẫn kiếm cớ ở lỳ tại nước ta nên vào dâng vua một cái Hàn thử xích(1). Minh Mạng ướm ý hỏi: “Muốn về nước không?” Chaigneau tâu: “Tuổi đã già, xin ở trọn đời làm tôi”. Lúc đó Minh Mạng biết chắc là Chaigneau đã nhận nhiệm vụ của vua Pháp.


Một năm sau, năm 1822 (ngày 20-2) một hộ tống hạm Pháp mang tên La Cléopatre do Hạm trưởng Courson de la Ville Hélio cặp bến cửa Hàn, nhờ Chaigneau xin phép cho vào yết kiến Minh Mạng, nhưng bị chối từ mặc dầu Chaigneau đã khẩn khoản vận động. Không những thế, vua còn truyền lệnh cho Chaigneau phải mang lính xuống khám tàu lúc sắp nhổ neo.


Khi đó có linh mục Thất là cha đỡ đầu của cô Anne, con gái Chaigneau, được nghe cô Anne xưng tội, biết khi ở Pháp sang Chaigneau còn bí mật mang theo mấy giáo sĩ, đó là các linh mục Taberd, Olivier, Gagelin và Odoirico, những người này cải trang theo lối người địa phương miền Nam. Linh mục Thất đã báo cho triều đình biết việc này.


Lo ngại về họa “nuôi ong tay áo”, Minh Mạng bèn nhân ngày lễ Nô-en tặng hai vị cận thần của tiên đế mỗi ông một chiếc thuyền bé tí hon và một thanh gươm bằng gỗ trầm hương rất quý.


Nhận được món quà đặc biệt này, Chaigneau và Vannier trao đổi ý kiến với nhau và đều đồng ý là Minh Mạng bảo mình phải liệu mà về Pháp, nếu không thì sẽ có ngày bị rơi đầu. Hai người bèn xin từ chức, rồi đến ngày 15-12-1824 xuống cửa Hàn để chờ tàu Gia Định về Pháp. Khi còn nán ở cửa Hàn, Chaigneau lại lén lút đưa thừa sai Imbert vào nội địa Việt Nam.


Tháng 1-1825, Bộ trưởng Hải quân Pháp là Chabrol cứ Nam tước Bougainville, Đại tá Hải quân, dẫn hai chiến hạm Thétis và Esperance vào Đà Nẵng. Bấy giờ Chaigneau và Vannier đã rời Huế được hai tháng. Bougainville được lệnh làm việc gì ở đây đều phải có sự chấp thuận của Chaigneau, ngoài ra còn phải nghiên cứu mọi chi tiết cần thiết cho các cuộc hành quân trong tương lai của Hải quân Pháp ở các sông ngòi và bờ biển Việt Nam...


Bougainville xin gặp vua Minh Mạng để đệ quốc thư lên nhà vua. Triều đình nại cớ rằng không ai biết tiếng Pháp để dịch thư của vua Pháp, và bảo Bougainville rằng: “Nhà vua sẵn sàng để ông đi thăm mọi cửa bể Việt Nam, miễn là ông phải tuân theo luật lệ của Việt Nam”.


Thất bại, Bougainville lên đường trở về nước vào ngày 17-2-1825. Chaigneau còn ở lại một thời gian nhưng không làm được việc gì nên đến ngày 21-3-1825 cũng xuống tàu trở về Pháp.


Đến năm 1832, triều đình Pháp lại cố gắng tấn công ngoại giao một lần cuối cùng nữa, bằng cách cử cháu Chaigneau là Eugène Chaigneau theo tàu Favorite do Đại tá Hải quân La Place chỉ huy, sang làm lãnh sự thay cho chú, nhưng sang đến nơi, triều đình nước ta không nhận, và nói rằng các tàu buôn Pháp vào đất Việt thi vẫn không có gì trở ngại cả. Sau khi thất bại trong việc vận động, Eugène Chaigneau liền nhổ neo về nước.


Lúc bấy giờ chỉ trừ mấy người giáo sĩ đi giảng đạo ở chốn thôn dã ra, thì trong nước cũng không có người ngoại dương nào nữa. Minh Mạng lại sai tìm bao nhiêu giáo sĩ ở trong nước đem cả về Huế để dịch những sách Tây ra chữ Việt Nam, chủ ý không phải vì việc dịch sách, nhưng là để cho khỏi đi giảng đạo ở các làng quê.


Nhưng điều mà Minh Mạng lo lắng hơn cả là sự phân tán quyền lực khiến chính quyền trung ương không kiểm soát nổi các địa phương. Trước đây, do mới thu phục xong đất nước, để thưởng công cho các công thần trung hưng, Gia Long đành phải để cho Tiền quân Nguyễn Văn Thành làm Tổng trấn Bắc thành, thống cả 11 trấn, chia làm 5 nội trấn: Sơn Nam thượng, Sơn Nam hạ, Sơn Tây, Kinh Bắc, Hải Dương, 6 ngoại trấn: Tuyên Quang, Hưng Hóa, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Quảng Yên. Lại để cho Tả quân Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn Gia Định thành, thống cả 5 trấn: Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh, Vĩnh Tường, Hà Tiên. Đến khi Nguyễn Văn Thành chết thì Hậu quân Lê Chất thay làm Tổng trấn Bắc thành.


Các viên Tổng trấn thường phải trông coi cả những công việc về dân sự cũng như quân sự trong vùng. Họ phải chỉ huy những đạo quân vốn không trung thành gì với các vua nhà Nguyễn (đặc biệt là ở miền Bắc). Nếu có vấn đề trong phạm vi quyền hạn của họ cần phải lưu ý hoàng đế thì các Tổng trấn đích thân tâu trình. Các quan ở các trấn thường không phải đi đâu, chỉ ngồi một chỗ hưởng mọi bổng lộc. Năm 1825, bộ Lại có báo cáo rằng hơn hai mươi viên Tri huyện vẫn đóng ở một nơi từ sáu đến chín năm liền. Năm 1826, Minh Mạng yêu cầu báo cáo về bổng lộc của các quan ngũ phẩm và lục phẩm, tức là Tri huyện trở lên.


Các quan Tổng trấn Bắc thành và Gia Định thành đã độc chiếm quyền kiểm soát trong vùng. Được nắm ấn tín, các quan Tổng trấn các miền có thể bổ nhiệm quan chức thuộc quyền của mình ở các phủ huyện. Giấy bổ nhiệm các học quan ở các trường thi các miền từ thời Gia Long do các quan Tổng trấn cấp.


Nếu cứ để tình trạng ấy kéo dài sẽ gây nên một trở lực rất lớn đối với củng cố nền thống nhất quốc gia. Để thực hiện một chế độ trung ương tập quyền triệt để, Minh Mạng buộc phải thi hành những biện pháp cải tổ các cơ quan hành chính ở địa phương.


Ngay từ khi mới lên ngôi, Minh Mạng đã ban hành một quy chế riêng cho kinh đô. Ông cho tách kinh đô Huế ra khỏi đất kinh kỳ, với 4 doanh là: Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức và Quảng Nam.


Từ năm 1822, Minh Mạng cho đổi Quảng Đức làm Thừa Thiên phủ, giao cho một viên Đề đốc kinh thành trông coi mọi việc quân dân, có một Phủ doãn và một Phủ thừa giúp việc. Trực thuộc Thừa Thiên phủ có 6 huyện được gọi là kinh huyện, tại mỗi kinh huyện có một Kinh tri huyện chịu trách nhiệm. Đồng thời, cũng vào năm này, Minh Mạng còn cho đổi đạo Thanh Bình làm đạo Ninh Bình, trấn Sơn Nam thượng làm trấn Sơn Nam, trấn Sơn Nam hạ làm trấn Nam Định, trấn Kinh Bắc làm trấn Bắc Ninh, trấn Yên Quảng làm trấn Quảng Yên.


Năm Minh Mạng thứ 7 (1826) theo một đạo dụ được ban bố, các doanh Quảng Bình, Quảng Trị và Quảng Nam đổi gọi là trấn Quảng Bình, trấn Quảng Trị và trấn Quảng Nam. Từ đấy trở đi trong toàn bộ đất nước Việt Nam không còn đơn vị hành chính “doanh” hay “đạo” nữa. Nếu tính tới năm 1826, trừ Thừa Thiên phủ ra thì cả nước lúc đó chia thành 26 trấn. Trong khi đó trấn Bắc thành bao gồm 11 trấn, như vậy là về diện tích cũng như số dân đều vượt xa 11 trấn miền Trung đặt trực tiếp dưới sự cai quản của triều đình. Gia Định thành gồm 5 trấn, mặc dù có trấn ít hơn Bắc thành, song quyền lực của Tổng trấn Lê Văn Duyệt rất lớn. Nếu gây sự xáo trộn sẽ xảy chuyện không hay, nên Minh Mạng phải tiến hành dần từng bước.


Giữa lúc đó tình hình đất nước cũng không ổn định. Tháng 11 năm Minh Mạng thứ 11 (1830), tàu binh nước Pháp đậu cửa Đà Nẵng, nói muốn thông hiểu với nước ta và nói Hồng Mao(1) mưu xâm chiếm tỉnh Quảng Đông, thế tất liên can đến nước ta, dặn ta đừng giúp Quảng Đông. Người Pháp lại thiện tiện lên núi Tam Thai đứng trông, và nói muốn tìm một người hướng đạo dẫn qua các hạt Bắc Thành vẽ địa đồ, rồi chạy tàu đi. Minh Mạng nghe tin, cách chức cả Thành thủ và Thủy ngự ở Đài An Hải, Điện Hải.


Tiếp đó lại nghe tin báo nước Xiêm chuẩn bị 50 binh thuyền, đánh tiếng đem binh phòng ngự con A Nỗ nước Vạn Tượng là Hạt Xà Bông, kỳ thực muốn lén tới xâm lấn nước ta.


Lại nghe người Chân Lạp là Ốc Nha Chiết Ma ở Chàng Kê Súc lén dụ người ChânLạp trốn làm phản chống lại vua Chân Lạp được quân ta bảo hộ.


Lúc ấy người nhà Thanh nghe lời tên thổ mục Điêu Doãn An xui giục, phái binh Mục Luyện hơn 600 người tới đòi đồn Phong Thu. Minh Mạng sai đưa thư cho quân thứ nhà Thanh, đại lược nói: “tùy chỗ lập đồn giữ, bờ cõi đã rõ ràng, không nên nghe lời tên Điêu Doãn An mà sinh việc ngoại biên”. Sau đó, hai bên đều triệt binh về cả.


Vì bận lo đối phó với tình hình ngoài biên, Minh Mạng chưa thể thực hành ngay việc chia tỉnh. Đất nước ta hình thể quá dài, nếu việc biến xảy ra ở miền Bắc hay miền Nam, còn phải tạm thời phái quân ở Bắc thành hay Gia Định thành ra ứng phó, nếu đợi quân ở Kinh đô kéo ra thì rất lâu, e lỡ việc.


Nguồn: Vua Minh Mạng. Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học , 2006.


 


 


 


 







(1) Năm 1790, Nguyễn Ánh mới lấy lại được Gia Định.




(1) John White.




(2) Franklin.




(3) Sử triều Nguyễn chép tên nước Mỹ là Ma Ly Căn, có lẽ là dựa theo cách phát âm chữ American. Ở đoạn khác còn chép tên Mã Di Lý, có lẽ là dựa theo cách phát âm chữ Etats unis (Hợp chủng quốc)




(1) Hàn thử biểu.




(1) Hồng Mao: chỉ người Anh



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 26.04.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 16.04.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
Hà Nội xưa và nay - Bạch Diện Nguyễn Văn Cư 04.04.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 30.03.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
Hòn đất - Anh Đức 14.03.2017
Một chuyện chép ở bệnh viện - Anh Đức 14.03.2017
xem thêm »