tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21283722
Tiểu thuyết
27.04.2009
Hoài Anh
Đất thang mộc

V


Công tử Vũ Sư Thước được lão bộc Ngô Sơn Tảo đưa về huyện Hoằng hoa nuôi nấng. Lão bộc cho cậu đổi sang họ Ngô, lấy tên là Sơn Khoái. Lão bộc coi Sơn Khoái như con đẻ, khi cậu lên sáu tuổi, lão bộc đến đón thầy về dạy cho chữ nghĩa. Sẵn tính thông minh, Sơn Khoái học một biết mười, ông thầy nào dậy cậu được ít lâu cũng xin cáo từ gia chủ đi nơi khác vì hết chữ dạy. Ngoài việc học văn, lão bộc còn thân truyền thụ võ nghệ cho cậu vì ngày xưa ông đã từng là một võ sư nổi tiếng. Sơn Khoái học võ cũng tấn tới, chẳng bao lâu đã học hết những môn võ bí truyền của nghĩa phụ. Ông phải đưa cuốn võ thế mà sư phụ ông ngày trước truyền lại, để cậu tự nguyên cứu lấy những thế võ trong sách, không những đã mầy mò tìm hiểu để tập luyện thành thục những thế võ chân truyền, Sơn Khoái còn dựa theo những thế đó để sáng chế thêm những thế võ mới lợi hại hơn, kỳ bí, khiến cho nghĩa phụ cũng phải phục.


Năm muời ba tuổi, có lần Sơn Khoái đi xem một người sơn đông mãi võ, múa võ biểu diễn cho mnọi người xem để bán thuốc cao. Với con mắt am hiểu về võ thuật, Sơn Khoái nhận thấy người đó bộ pháp linh hoạt, tiến lui có phép tắc, tuy chỉ đánh cầm chừng để dấu bớt bản lĩnh, nhưng luồng kinh phong từ bàn tay người đó vẫn phát ra mãnh liệt. Đến khi người đó mang thuốc cao đến trước mặt Sơn Khoái mời mua, cậu vờ nắm lấy cánh tay người đó để thử sức. Bỗng thấy người đó vận công khiến cánh tay cứng như sắt, có một sức gì từ bên trong đẩy ra khiến bàn tay Sơn Khoái nhức buốt nóng ran lên như phải bỏng, Sơn Khoái phải vội buông tay ra. Biết là mình gặp một cao thủ trong võ lâm, Sơn Khoái khẩn khoản mời người đó về nhà, thưa với nghĩa phụ xin giữ người đó lại để dạy cho cậu võ nghệ. Ngô Sơn Tảo bằng lòng mời, người đó cũng vui vẻ nhận lời. Hỏi lai lịch mới biết người đó là Hoàng Vũ Kiếm, một võ sư có tài nhưng mai danh ẩn tích trên núi Hồng lĩnh, gần đây mới xuống núi, mượn cớ đi mãi võ để thu thập đồ đệ. Được thầy giỏi dạy, võ nghệ của Sơn Khoái ngày càng tinh thông.


Hoàng Vũ Kiếm truyền dạy cho Sơn Khoái pho Thái cực kiếm phổ, còn gọi là Thập tam thế kiếm, gồm 13 tự quyết là Trừu, Đới, Đề, Cách, Kích, Sí, Điểm, Bảng, Khuấy, Áp, Phách, Tiệt, Tiễn(1). Động tác toàn do chân và hông làm chủ, không rời khỏi quy tắc của Thái cực quyền. Khi động thì Hư Lãnh Đỉnh Khinh, Hàm Hung Bạt Bối, Trầm Khiêm Thuỳ Chẩu, Tùng Eo Hoạt Uyển, Khí Trầm Đan Điền, Khinh Do Tích Phát(2).


Thấy Sơn Khoái mới bắt đầu học công phu non nớt chưa được thâm hậu, trong khi tập thường hay đứt đoạn, tư thế không liên lạc, ra thế không đúng không đẹp mắt, Hoàng Vũ Kiếm liền giảng giải:


- Con mắc những lỗi lầm vì Eo và Chân chưa có công phu và không hiểu cách dùng. Khu kiếm là vũ khí bén hai mặt không phân biệt mặt phải trái, sống hay lưỡi, hai mặt đều dùng được. Lưỡi rất bén nên kiếm sinh không nên Trút hoặc Lôi, Tỳ gần thân thể, hoặc đã Quấn trên đầu, hoặc để ngang Eo. Nếu không biết lý ấy thì địch chưa công mà bản thân đã bị thương rồi. Bởi thế nên khi dùng kiếm toàn thân phải linh hoạt, động tác phải nhanhg nhẹn, tinh thần phải sáng suốt, hô hấp tự nhiên, mắt nhìn ngọn kiếm để Khí, Thần và Kiếm hợp nhất. Một tay cầm kiếm phải thong thả, linh hoạt, không nên nắm chặt cứng lấy cán kiếm, vì như thế cản trở kỹ thuật kiếm chiêu. Chỉ nên dùng ngón cái và ngón giữa cùng ngón áp út của bàn tay đề nắm lấy cán kiếm thôi, còn ngón trỏ và ngón út nên thong thà buông lỏng. Lòng chưởng cũng để trống rỗng như cầm bút lông vậy.


Khi kiếm xuất Khinh, sức khởi sự Đan điền, phát từ Tích bối xương sống sau lưng. Từ cánh tay đến ngọn kiếm khi phát ra thì đi như tên bắn. Khi người và kiếm hơi động thì kiếm mình đã tới. Phu kiếm là như vậy.


Xong rồi có thể thần nhập hóa, sự tuyệt diệu khi dùng liếm là tận dụng sở trường của kiếm. Kiếm có công hiệu nhất là dùng để tấn công vào cổ tay địch. Nếu tay cầm vũ khí của địch đã bị thương thì vũ khí của địch đã mất hiệu lực rồi. Bởi thế cho nên các danh gia cao thủ về kiếm dạy và lưỡi kiếm chỗ cách mũi, từ đầu vào, khoảng năm mươi phân phải mài cho thật bén để tấn công hiệu quả đối phương nơi cổ tay. Ngoài ra Kiếm Đàm tức phần cuối của kiếm, đốc kiếm cũng phải được chú ý, tay không cầm kiếm phải để sau cán kiếm, không nên để qua tới khỏi cán. Tục ngữ có câu: “Đơn đao khán Thủ, Bảo kiếm khán Đàm” là như vậy.


Được sự chỉ dẫn tỉ mỉ cảu thày, Sơn Khoái ra sức tập luyện nên chẳng bao lâu đã đến mức tinh thông. Tư thế của kiếm rất đẹp mắt, phép dùng lại linh diệu. Chàng cảm thấy sử dụng kiếm tạo ra những thế độc đáo cũng chẳng khác gì vung ngọn bút lông viết nên những dòng thơ tuyệt tác. Thì ra văn với võ không phải là hai con đường. Võ mà thiếu văn thì kém về mưu trí, văn mà thiếu võ thì không bảo vệ được mình trong cơn nguy biến nói gì đến chuyện đánh bại kẻ thù. Muốn trả thù cho cha, giúp dân giúp nước thì phải luyện sao cho văn võ song toàn. Nghĩ vậy đêm ngày chàng khổ luyện không quản gì mệt nhọc. Thấy chàng đã nắm vững được những bí quyết về kiếm thuật, Hoàng Vũ Kiếm từ biệt chàng trở về núi cũ. Sơn Khoái cố lưu nhưng ông không chịu ở, chàng bùi ngùi tiễn thày một đoạn đường rồi mới chia tay.


Năm Sơn Khoái mười sáu tuổi, nghĩa phụ cho chàng đến tập văn ở bảng nhãn Lương Đắc Bằng tại làng Hội trào, huyện Hoằng hóa.


Lương Đắc Bằng thi đỗ bảng nhãn khoa Kỷ vị niên hiệu Cảnh thống nhà Lê. Khi Giản tu công dấy binh chống vua Uy mục bạo ngược, sai Lương Đắc bằng làm bài hịch dụ các đại thần và các quan, đại lược rằng: “Bạo chúa Lê Tuấn (1), phận con thứ kém hèn, làm nhơ bẩn nghiệp lớn, lần lữa gần được 5 năm, tội ác đến muôn vẻ. Giết hại người cốt nhục, dìm hãm các thần liêu. Bọn họ ngoại được tin dùng mà phường đuôi chó(2) tung hoành làm bậy, kẻ cương trực bị ruồng bỏ mà người đầu cá(3) ẩn nấp nẻo xa. Tước đã hết rồi mà thường bẫy không ngớt, dân đã cùng rồi mà vơ vét không thôi. Đánh thuế tỉ mỉ, tiêu tiền như bùn, bạo ngược ngang với Tần Chính(4), bề tôi ngựa trâu coi dân như rác, kiêu ngạo còn quá ngụy Canh(5). Huống chi lại làm cung thất to, làm vườn hoa rộng. Bắt dân trồng cây, theo bánh xe đổ gò Hoa cương(6) nhà Tống, lấp biển làm điện, nối gót hôn mê cung A phòng(7) nhà Tần. Việc thổ mộc làm lại thôi, thôi lại làm, mệt nhọc dân Hải dương, Kinh bắc, bọn quý tộc ngược lại ngạo, ngạo lại ngược, quấy rối vùng phiên trấn tứ Tuyên. Nhân dân nhức óc, cả nước đau lòng”.


Lại làm bài hịch rằng:”Đoan Khánh(8) làm vua, họ ngoại chuyên chính. Từ Mô phường ngu hèn nơi phố chợ, rối loạn triều cương, thằng Khoa là hạng trẻ con chốn hương thôn, càn làm uy phúc. Thậm chí đánh thuốc độc bà nội, giết hại các thân vương. Lấy lòng riêng mà giết nhân dân, không biết cùng cực, lấy thân thiết mà đòi tiền của, mặc sức tham lam. Bốn biển khốn cùng, muôn dân sầu oán”.


Cuộc nổi dậy thành công, Giản tu công lên làm vua tức là vua Tương dực. Lương Đắc Bằng đang giữa chức Hàn lâm viện thị độc tham chưởng Hàn lâm viện sự, được tăng lên chức Lại bộ tả thị lang. Nhưng cũng vì tính cương trực hay nói thẳng nên Lương Đắc Bằng bị cắt chức. Ít lâu sau vua lại xuống chiếu khởi phục ôngvà cho khiêm Đông các họa sĩ nhập Kinh diên, nhưng ông cố từ không nhận.


Nhân đấy, ông dâng lên 14 điều về việc trị bình, đại lược như sau:”Thần thấy thánh quân ngày xưa không cho là thiên hạ đã trị mà quên lòng răn ngừa, hiền thần ngày xưa không lấy làm vua đã thánh mà quên lòng can gián. Vì thế, thời Ngu Thuấn đã thịnh trị, mà Bá Ích bày mưu mô thì nói chớ ham nhàn rỗi, chớ đắm vui chơi, không trễ không lười, sợ hãi như nguy vong sắp đến. Đế Thuấn nghe lời mà răn ngừa những việc đáng răn, do đó đã nên bậc thánh lớn. Thời Hán Văn đã giàu đông rồi, mà Giả Nghị dâng kế sách tất nói để lửa gần củi đáng chảy nước mắt, đáng nên thương khóc, lo ngại như họa loạn đã thành. Văn đế nghe lời mà lo nghĩ việc đáng lo, do đó đã nên bậc vua hiền. Vì là người bề tôi dâng câu nói không khẩn khoản, không khích thiết, thì không giúp được vua về sự sáng suốt nghe lời can, vua nghe lới nói mà không tiếp nhận, không khoan dung, thì không mở đường cho bầy tôi dâng lời gián. Nay bệ hạ khoan nhân đại độ, không thích giết người, lấy lại cơ nghiệp của Cao tổ, cứu giúp sinh mạng cho muôn dân, người trong cả nước thoát khỏi nạn treo ngược, ai cũng vươn cổ kiễng chân, trông mong thành hiệu của chính mới, cổ vũ thịnh trị đời thái bình. Thế mà từ khi lên ngôi đến giờ, khí hòa thuận chưa điều tiết, việc binh đao chưa dẹp yên, triều cương chưa cất nhắc, quân chính chưa sửa sang. Tai dị thường thường hiện ra, sợ rằng đạo trời chưa thuận, núi đá bị sụp đổ, sợ rằng đạo đất chứa yên, kẻ gian phi lén phát, kẻ nghịch tặc manh lòng, sợ rằng đạo người chưa ổn. Quan trong triều biết mà không nói, tự lo cho mình được rồi, còn lo cho nước thì sao? Thần là người bề tôi cũ, nghĩa cùng với nước cùng vui buồn, tuy hiện còn trong lúc sô gai, tang trở chưa hết, mà bệ hạ lấy nghĩa cướp tình, cho làm chứa thị tụng, có ý muốn thần bàn bạc mưu kế để bổ ích cho thiên hạ, giúp đỡ nền thái bình. Nếu thần không nói, tiến lui theo chiều, hèn kém như người khác dựa dẫm lấy lộc, thì đạo trung hiếu của người làm tôi đôi đường đều thiết cả, lấy gì để báo lại ơn đức của bệ hạ, mà chọn được chức vụ của kẻ làm tôi. Thần mỗi khi nghĩ đến thời sự thì suốt đêm không ngủ, đến bữa không ăn, lòng trung thành khuyển mã không thể tự bỏ qua được. Kính xin bày tỏ 14 kế sách về việc trị bình tâu lên như sau:


1. Chăn săn ngừa để dẹp tai biến.


2. Dốc đạo hiếu để khuyên trung hậu.


3. Xa thanh sắc để gốc lòng được chuyên nhất, chính đính.


4. Đuổi bỏ kẻ tà nịnh đẻ trong nguồn muôn việc.


5. Sẻn tiếc quan tước dẻ cẩn thận việc khuyên răn.


6. Công bằng tuyển bổ để trong sạch đường làm quan.


7. Dè dặt của dùng để khuyên thói kiệm phác.


8. Nêu khen tiết nghĩa để trọng đạo cương thường.


9. Cấm hối lộ để bỏ thói tham ô.


10. Sửa võ bị để mạnh thế chống giữ.


11. Chọn người làm gián quan để phấn khởi người dám nói.


12. Nới nhẹ sức dân để thỏa tình mong đợi.


13. Ra hiệu lệnh cho tin để thống nhất tâm chí bốn phương.


14. Cẩn thận pháp độ để mở thịnh trị đời thái bình.


Các kế sách trên xin soi xét tới. Thần lại nghe cổ ngữ rằng: Lời nói của kẻ cắt cỏ, kiếm củi, thánh nhân cũng chọn lấy. Kinh thư nói rằng: Biết được không khó, làm được mới khó. Thần xin bệ hạ chớ cho lời nói của thần là vu khoát mà chọn lấy để làm, răn những điều đáng răn, lo những việc đáng lo, may ra đạo trời có thể thuận được, đạo đất có thể yên được, đạo người có thể yên được, có thể đến được thái bình”.


Vua Tương dực bề ngoài thì làm ra vẻ nghe theo, nhưng bên trong vẫn chứng nào tật ấy, hoang dâm vô độ, tin dùng kẻ nịnh thần, đi theo vết xe đổ của vua Uy mục. Lương Đắc Bằng thấy vậy chán nản, xin cáo quan về quê mở trường dạy học. Nghe nói ông bảng nhãn văn chương quán thế, học trò khắp nơi đều tấp nập đến xin học, trong đó có Nguyễn Bỉnh Khiêm.


Nguyễn Bỉnh Khiêm người làng Trung am, huyện Vĩnh lại, trấn Hải dương, thân sinh là Văn Định. Ông Văn Định học rộng tài cao, có đức tốt và đã có lần sung chức Thái học sinh đời Lê. Thân mẫu là con gái quan Hộ bộ thượng thư Nhữ Văn Lan, người làng An tử hạ, huyện Tiên minh cũng thuộc trấn Hải dương. Bà thông minh, học rộng văn hay, lại có chí hướng muốn giúp dân giúp nước như một bậc trượng phu nên chỉ chịu kết duyên khi gặp người trai nào vừa ý. Bà kén chồng đến ngót hai mươi năm, cho đến khi gặp ông Văn Định là người có tướng sing quý tử mới thành lập gia thất.


Sau khi đã lấy ông Văn Định, có lần qua bến đò Hàn thuộc sông Tuyết gần làng Cổ am, gặp một thanh niên khác, bà nhìn người này thấy có tướng lạ, ngạc nhiên than rằng:


- Lúc trước không gặp, ngày nay sao đến đây làm gì?


Bọn theo hầu không hiểu ra sao, cầm roi toan đánh đuổi chàng thanh niên ấy. Bà cản lại và hỏi tên họ. Khi được biết, bà nghĩ buồn rầu hối hận đến cả mấy năm trời. Người thanh niên ấy, không ai khác hơn là Mặc Đăng Dung sau làm vua nhà Mạc.


Bỉnh Khiêm sinh năm Tân hợi, niên hiệu Hồng đức thứ 21, lúc nhỏ có vóc dáng kỳ vĩ, chưa đầy một năm đã nói sõi. Một hôm, vào buổi sáng sớm, Văn Định đang bế cậu trên tay, bỗng thấy cậu nói ngay lên rằng: “Mặt trời mọc ở phương Đông”, ông lấy làm lạ.


Năm Bỉnh Khiêm được bốn tuổi, thân mẫu dạy học cậu học các bài chính nghĩa của Kinh, truyện. Bà dạy bằng cách khi ru khi hát, nhưng dạy đến đâu, cậu thuộc lòng đến đó. Cũng vào khoảng số tuổi ấy, về thi ca, Bỉnh Khiêm đã thuộc vanh vách đến cả mấy chục bài thơ Nôm.


Một hôm bà mẹ đi vắng, ông Văn Định ở nhà, bày trò kéo dây cho lũ trẻ chơi đùa, nhan tức cảnh, đọc bỡn một câu thơ:


Nguyệt treo cung, nguyệt treo cung


Ông muốn đọc tiếp câu nữa, nhưng chưa nghĩ kịp, thì cậu con đứng bên đã đọc luôn ngay rằng:


Vén tay tiên, hốt hốt rung.


Ông thấy cậu mẫn tiệp như vậy, có ý mừng thầm. Khi bà về, ông thuật lại cho nghe, bà chẳng những không mừng, lại lấy làm bất mãn, bà bực tức, nổi giận nói:


-          Nguyệt là tượng bề tôi, hốt hốt rung cũng là tượng bề tôi, sao ông sớm dạy con như thế?


Nguồn: Đất Thang Mộc. Phần I: Chúa Chổm. Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


 


 







(1) Trừu: Kéo xuống, cứa rọc, giật xuống, giật thẳng vào.


 Đới: Đưa thẳng lưỡi kiếm từ dưới lên, ngửa cổ tay, thanh kiếm nằm ngang.


 Đề: Nâng lên chém từ dưới lên, thẳng đứng lưỡi kiếm.


 Cách: Gạt ngang qua một bên(kiếm đứng hay nghiêng).


 Kích:Phóng kiếm nhanh tới.


 Sí: Giăng kiếm qua ngang bằng với vai như cánh chim.


 Điểm: Điểm tới bằng mũi kiếm.


 Bảng: Vạch kiếm xuống hoặc lên, dùng cả cánh tay.


 Khuấy: Ngoáy, đâm lắc bằng cổ tay xoay tròn trên một điểm nhỏ.


 Áp: Đè lên.


 Phách: Bổ xuống, chém xuống, đỡ xuống.


 Tiệt: Chặt.


 Tiễn: Người và kiếm cùng lao tới.




(2) Hư lãnh đỉnh khinh: Đầu óc trống không.


 Hàm hung bạt bối: Co lưng thóp bụng lại, thóp ngực lại.


 Trầm khiên thuỳ chẩu: Trầm vai buông xẻ cùi chỏ xuống thấp.


 Tùng eo hoạt uyển: Tùng eo hông để tự nhiên.


 Khí trầm đan điền: Dồn khí xuống huyệt đan điền.


 Khinh do tích phát: Buông lỏng toàn thân.


 




(1) Tên tục vua Uy mục




(2) Dùng điển ở Tấn sử: Triệu Vương Lân dùng nô lệ hầu hạ cũng phong cho quan tước, khi triều hội đầy ngững người đội mũ đuôi điêu. Người đương thời làm câu chế giễu rằng:”Đuôi điêu chẳng đủ, lấy đuôi chó nối thêm vào”. Ý nói kẻ hèn hạ cũng được quan tước.




(3) Dùng điển trong Tống sử: Lỗ Tông đạo làm tham tri chính sự đời Tống Nhân Tông, bọn quyền qúy họ ngoại nhà vua đều sợ, gọi là tham chính đầu cá. Vì chữ Lỗ trên đầu có chữ Ngư là cá nên gọi thế.




(4) Tần Thủy hoàng tên là Chính.




(5) Ngụy hầu tên là Oanh, tức là Lương Huệ vương, thời Chiến quốc, nước Ngụy đổi làm nước Lương.




(6) Tức là Hoa thạch cương. Tống Huy tông thích chơi hoa đẹp đá lạ, cướp của quan dân trong nước đem về Biện kinh, trong đời Chính hoà, thuyền ghe chở các thứ ấy nối liền nhau trên sông Hoài sông Biện, gọi là Hoa thạch cương (gò hoa đá).




(7) Cung lớn do Tần Thủy hoàng dựng, sau Hạng Vũ vào kinh đô nhà Tần, đốt lửa cháy 3 tháng không tắt.




(8) Niên hiệu của vua Uy mục.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 11.12.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
xem thêm »