tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20229752
Tiểu thuyết
25.04.2009
Hoài Anh
Đất thang mộc

Sáng ngày hôm sau,khi các quan đã đứng vào ban chầu, ngai vua vẫn còn trống. Phe đảng của Đăng Dung là Nguyễn Quốc Hiến tiến ra nói:


- Nay hoàng thượng đã có ý nhường ngôi cho thái sư An hưng vương, nhưng chưa có tờ chiếu nhường ngôi, vậy xin các quan cử cho một người thào chiếu giùm.


Nguyễn Thì Ung nói:


- Xin nhờ quan Lại bộ thượng thư họ Trương thảo giùm.


Vừa nghe xong, Trương Phu Duyệt trợn mắt mắng:


- Hoàng thượng không ra coi chầu, chưa biết ý người thế nào, mà các ông lại bảo tôi thảo chiếu, thế nghĩa là gì?


Trần Phi nói:


- Nếu vậy xin nhờ quan Đông các đại học sĩ Đạo nguyên bá họ Nguyễn thảo giùm.


Nguyễn Văn Thái vâng lời, tiến đến trước long án, cầm bút thảo, giây lát xong, đưa trình các quan. Các quan bằng lòng, giao cho quan Hàn lâm viện thị độc tuyên đọc:


“Thừa thiên hưng vận, Hoàng đế chiếu rằng:


Nghĩ thái tổ ta, thừa thì cách mạng, được cả thiên hạ, các vua truyền nhau, nối giữ cơ đồ, là do mệnh trời lòng người cùng hiệp ứng, nên mới được thế. Cuối đời Hồng thuận, gặp nhiều hoạn nạn, Trần cảo đầu tiên gây ra thềm loạn, Trịnh Tuy giả trá lập kế phản nghịch, lòng người đã lìa, mệnh trời không giúp. Thiên hạ lúc ấy đã không phải là nhà của ta. Ta không có đức, gánh vác không nổi. Mệnh trời lòng người theo về người có đức. Xét người là thái sư An hưng vương Mạc Đăng Dung có tư chất duệ trí, tái lược văn võ, ngoài đánh bốn mặt, các phương phục tòng, trong coi trăm quan, mọi việc đều tốt, công to đức lớn, trời cho người theo, nên theo lẽ phải, nên nhường ngôi cho. Nên cố sửa đức, lâu giữ mệnh trời, để yên dân chúng.


Khâm thử”


Chiếu đọc dứt, bọn quan lại bè đảng với họ Mạc đều tung hô:


- Tân quân vạn tuế, vạn vạn tuế.


Mạc Quốc Trinh nói:


- Xin mời tân quân lên bảo tọa.


Bọn phe đảng họ Mạc mặc long bào, đội mũ miện cho Đăng Dung rồi dìu y lên ngai vàng. Nguyễn Quốc Hiến quỳ dâng ngọc tỉ. Các quan lục đục vào lạy mừng.


Mạc đình khoa nói:


- Các quan đều tề tựu đủ, chỉ có các vị Vũ Duệ, Nghiêm Bá Ký, Nguyễn Xý, Đàm Thận Huy, Nguyễn Hữu Nghiêm, Nguyễn Văn Vận, Nguyễn Thái Bạt, Lê Tuấn Mậu, Ngô Hoán, Trần Bảo Hy, Đỗ Tế vắng mặt, xin bệ hạ cho trung sứ tuyên triệu tới trước bệ rồng.


Mạc Đăng Dung chuẩn tấu, phát ra mấy đạo lệnh chỉ tuyên triệu những người vắng mặt. Lát sau, trung sứ về quỳ tâu:


- Muôn tâu, Vũ Duệ, Nghiêm Bá Ký, Nguyễn Xý, Đàm Thận Huy, Nguyễn Hữu Nghiêm can vào cái án phản nghịch của Hà Phi Chuẩn, sợ tội, đã bỏ trốn rồi ạ.


Mạc Đăng Dung gầm lên:


- Cho quân đi chóc nã chúng về đây để ta chừng trị.


Mạc Đình Khoa vâng lệnh đi ngay. Trung sứ lại tâu:


- Tâu bệ hạ, Trần Bảo Hy cáo từ không chịu đến, còn Nguyễn Văn Vận, Nguyễn Thái Bạt, Lê Tuấn Mậu, Ngô Hoán, Đỗ Tế đã đến chầu.


Đăng Dung dõng dạc:


- Cho từng viên một vào đây.


Nguyễn Văn Vận từ ngoài tiến đến trước ngai vàng, khi tiến gần Đăng Dung, ông xuất kỳ bất ý cầm cái hốt đánh thẳng vào mặt y. Đăng Dung vốn giỏi võ, chỉ nghe tiếng gió đã hụt tránh, nên cái hốt đánh không trúng mặt y. Túc vệ phía sau điện vội xông ra bắt Nguyễn Văn Vận lôi tuột đi.


Mạc Quốc Trinh tiến ra nói:


- Các quan vào lạy mừng, phải bổ hốt lại!


Túc vệ khám xét từng viên quan mới tới, xem có mang theo hốt hay binh khí gì không, nếu có thì tịch thu giữ lại. Lê Tuấn Mậu tiến vào, khi tới gần Đăng Dung, ông ném hòn đá giấu sẵn trong tay áo vào mặt y. Viên đá sượt qua mặt Đăng Dung làm xây xát da mặt. Túc vệ vội chạy ra lôi Lê Tuấn Mậu đi.


Đến lượt Nguyễn Thái Bạt, túc vệ khám xét trong người ông kỹ lưỡng thấy không có vật gì khả nghi mới dám cho vào. Nguyễn Thái Bạt khom lưng tiến tới trước đăng dung như để lạy mừng. Bất đồ ông nhổ nước bọt thẳng vào mặt Đăng Dung, Đăng Dung tránh không kịp, nước bọt bắn đầy trắng xoá bộ mặt gian hùng. Rồi không để cho bọn túc vệ đến bắt, ông đập đầu xuống thềm điện tử tiết.


Sự việc sảy ra nhanh quá khiến cho các quan đều bàng hoàng. Đăng Dung hốt hoảng vội ra lệnh bãi chầu. Buổi chầu tan, nhốn nháo như một cái chợ vỡ.


Bị giam trong ngục, Nguyễn Văn Vận, Lê Tuấn Mậu vẫn luôn miệng chửi mắng Đăng Dung nên bị đưa đi hành quyết. Khi bị giải ra pháp trường, hai ông vẫn cứ chửi không ngớt, bọn đao phủ phải cắt lưỡi hai ông trước khi chém đầu, để dân chúng khỏi nghe thấy những lời chửi rủa kẻ phản bội.


Ngô Hoán, Đỗ Tế được Đăng Dung hết sức dụ dỗ, mua chuộc, hứa sẽ phong quyền cao chức trọng, nhưng hai ông cương quyết không chịu khuất phục, nên đều bị hại. Còn Trần Bảo Hy thì bỏ quan về núi Cù sơn ở ẩn, Đăng Dung nhiều lần cho vời ông nhưng ông nhất định không chịu ra.


Thiều Quy Linh trên đường đi sứ về, nghe tin Đăng Dung đã cướp ngôi vua, ông chửi mắng thậm tệ. Qua cầu sông Nhị, ông nhảy xuống sông tự vẫn.


Thấy nhiều người phản đối mình, Đăng Dung lo lắng tìm cách thu phục nhân tâm, bèn ban lệnh đại xá thiên hạ. Lại thăng quan tiến chức cho những kẻ theo mình, phong Nguyễn Quốc Hiến làm phò mã đô úy Thái bảo Lâm quốc công, cho đổi họ Mạc; phong Mạc Quốc Trinh làm thái sư Lâm quốc công; phong Mạc Đình Khoa làm tả đô đốc Khiêm quận công. Cho Nguyễn Thì Ung thăng thiếu bảo Thông quận công; Trần Phi thăng Lại quận công; Khuất Quỳnh Cửu phong Khánh khê hầu; Phạm Gia Mô phong Hoành lễ hầu; Phan Đình Tá thăng Lan xuyên bá; Nguyễn Văn Thái phong Đạo xuyên hầu; Nguyễn Mậu phong Văn đạt bá; Hà Cảnh đạo thăng Sùng lễ hầu; Mạc Ích Trưng thăng Nghi xuyên bá; Nguyễn Tuệ phong Hưng ân bá; Nguyễn Địch làm Lộc hiến hầu; Phạm Chính Nghị làm Vân trường bá; Lê Quang Bí phong Tô xuyên hầu; Nguyễn Điển Kính thăng Văn ninh hầu, đều thăng Thiếu bảo, Nguyễn Mậu Liêm thăng trung quan trưởng giám.


Bọn quan lại này được thăng quan tiến chức đều dốc lòng thờ phụng chủ mới, hy vọng rằng với tân trào, họ sẽ nhanh chóng bước lên con đường hoạn lộ, tha hồ vinh thân phì gia.


Đăng Dung lại xuống chiếu giáng phong vua Thống nguyên làm Cung vương, cùng với hoàng thái hậu đều giam ở cung Tây nội. Sau vài tháng bắt phải tự tử. Thái hậu khấn trời rằng:


- Đăng Dung là kẻ bầy tôi, manh tâm cướp ngôi, lại giết mẹ con ta, con cháu mày ngày sau cũng lại bị như thế.


Rồi cùng với vua Thống nguyên đều tự tử. Đăng Dung sai đem xác phơi bày ra ở quán Bắc sứ, rồi đem về chôn ở lăng Hoa dương huyện Ngự thiên theo lễ nghi của thiên tử và hoàng hậu.


Mấy hôm sau, thám tử về báo tin Vũ Duệ đã trốn vào Thanh hoa, Nghiêm Bá Ký, Nguyễn Xý trốn lên châu Văn uyên Lạng sơn, Đàm Thận Huy trốn đi Đà dương thuộc châu Lục yên Tuyên quang, Nguyễn Hữu Nghiêm trốn lên huyện Tam nông. Đăng Dung phái thêm quân đi lùng bắt mấy người này bằng được kẻo để lâu sẽ sinh hậu hoạn, họ có thể dấy nghĩa cần vương trong khi mình chưa kịp đối phó.


Đăng Dung phong cho Mạc Quyết làm Tĩnh quốc công, trung quan là Nguyễn Thế Ân làm Ly quốc công để làm người giúp đỡ bên cạnh. Thần dân đều thất vọng, trong nước bâng khuâng. Đăng Dung sợ lòng người mến cũ, lâu lại sinh biến, nên phải tuân giữ pháp độ của triều Lê, không dám thay đổi, phủ dụ thần dân, trấn áp lòng người, che bịt tai mắt. Lại lập mưu giả dối tìm con cháu các công thần thế gia. Bấy giờ những người ấy phần nhiều đi chốn náu ở núi rừng, hoặc ẩn giấu họ tên không chịu ra, hoặc tụ họp nhau làm lục lâm, hoặc đi làm quan với nước ngoài để tạm sống, không biết theo vào đâu cả.


 


IV


Nghe tin Hà Phi Chuẩn bị Đăng Dung bắt, Vũ Duệ vô cùng lo lắng. Phi Chuẩn là phó đô tướng chỉ huy đội quân bảo vệ kinh thành, nếu Phi Chuẩn bị bắt thì việc nổi dậy đốt kinh thành giết Đăng Dung sẽ khó thành công. Biết đâu Phi Chuẩn chẳng khai ra kế hoạch và những người đồng chí. Vũ Duệ thấy nên cao chạy ra bay, còn nấn ná ở đây chờ khi nước chảy đến chân thì tính sao cho kịp.


Ông liền gọi người lão bộc Ngô Sơn Tảo lên nhờ lão bộc mang công tử Vũ sư Thước mới lên ba tuổi về nuôi ở quê lão thuộc huyện Hoằng hoa. Còn phu nhân, ông sai gia nhân đưa bà về quê ở huyện Sơn vi, trấn Sơn tây lánh nạn. Phu nhân bịn rịn không muốn xa con. Ông nghiêm giọng:


- Tôi chống lại họ Mạc, nếu việc không thành sẽ bị cái vạ diệt tộc. Ở cả một nơi, họ Mạc bắt được thì cả nhà ta không còn sót một mống nào. Cứ giao cho lão bộc mang về nuôi dạy, sau này nếu tôi có mệnh nào thì vẫn bảo toàn được dòng họ nhà ta, biết đâu con nó chẳng nối nghiệp tôi làm rạng rỡ thanh danh dòng họ Vũ.


Rồi ông quay lại dặn lão bộc:


- Lão cứ cho công tử mang họ của lão để tránh tai mắt kẻ thù và hãy coi nó như con, cố gắng nuôi dạy nó thành người. Đến lúc thời cơ thuận lợi, hãy cho nó xuất đầu lộ diện và khôi phục lại họ Vũ cũng chưa muộn.


Lão Bộc khóc nói:


- Cái ơn cứu tử của ông cao như núi, con chưa có dịp đáp đền, nay mới có cơ hội này để báo bổ trong muôn một. Con xin nguyện hết lòng vì tiểu chủ ông cứ an tâm…


Nguyên lão bộc hồi trẻ võ giỏi, có lần lỡ tay đánh chết người, bị quan phủ khép vào tội cố sát. Vũ Duệ khi đó đang giữ chức đô ngự sử vế thanh tra hạt đó, nhận được tờ trạng khiếu oan của vợ tội nhân, liền buộc quan phủ phải xét lại cái án đó. Quan phủ xét xong, tha cho Ngô Sơn Tảo khỏi tội chết, chỉ phạt mười năm tù. Mãn hạn tù, Ngô Sơn Tảo xin đến làm vệ sĩ trong phủ để bảo vệ cho Vũ Duệ, vì biết ông là người cương trực nên có nhiều kẻ thù muốn làm hại. Đến khi tuổi già sức yếu, Sơn Tảo lại trở thành lão bộc hầu hạ trong nhà.


Biết lão bộc là người trung thành, từ lâu Vũ Duệ đã coi lão nhưn người trong gia đình, nên mới uỷ thác cho công việc nặng nề là nuôi dạy con mình.


Nữ tỳ bồng công tử ra, ông đỡ lấy ôm trong lòng rồi ứa nước mắt:


- Thương thay cho con tuổi còn trứng nước, mà đã lâm cảnh hoạn nạn. Phen này đôi ngả chia ly, biết đến bao giờ gia đình ta mới được cùng nhau sum họp.


Ông trao con cho phu nhân ẵm rồi nói:


- Phu nhân cứ yên lòng về quê tạm lánh, khi nào thành công ta sẽ cho người về đón. Còn nếu không thì sau này phu nhân nhớ về nhà lão bộc ở Hoằng hoa tìm lại con.


Phu nhân kóc lóc, cứ ẵm con trong tay không chịu buông ra. Vũ Duệ dỗ dành vợ, ẵm lấy con trân trọng trao sang tay lão bộc. Rồi mọi người gạt nước mắt chia tay.


Thu xếp xong việc nhà, Vũ Duệ lên đường vào Thanh hoa để hợp tác với Nguyễn Kim. Ông cải trang thành một khách thương, vai đeo tay nải, cứ nhằm phía trước mà đi đến gần địa đầu phủ Thanh hoa. Ông mừng thầm đã đến đích, nên lại càng cố gắng đi miết.


Đang dong duổi trên đường, bỗng thấy phía sau bụi bay mù mịt, ông đoán là truy binh của họ Mạc đã đuổi sắp tới nơi. Ông vội chạy về phía trước, được một quãng bỗng thấy cửa biển Thần phù hiện trước mặt. Phía trước là biển cả sóng cuồn cuộn, sau lưng là quân giặc đuổi theo, ông thầm nhủ mình đến đây là hết đường, chẳng khác gì thục An dương vương ngày xưa. An dương vương là vua, thế nào cũng bị Triệu Đà giết để cướp nước, còn nếu ông đầu hàng sẽ được họ Mạc phong quan cao chức trọng. Đây là cửa biển Thần phù, nơi “khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm” đây. Chỉ cần một quyết định sai lầm thì danh dự ông sẽ chìm ngập dưới vực sâu không đáy của lịch sử. An dương vương ngày trước bị mắc lừa con rể, cuối cùng phải giết con gái để chuộc tội, nhưng đằng này ông đã gửi được con trai ông đến nơi an toàn rồi không còn phải bận tâm gì nữa. Ông thấy mình có thể chọn cái chết thung lung để đền nợ nước.


Nhìn thấy truy binh của giặc đã lấp ló đằng xa, ông bình tĩnh sửa khăn áo hướng về phía Lam sơn lạy bốn lạy tội với anh linh Thái tổ Cao hoàng đế vì đã không đủ sức chống đỡ cơ nghiệp nhà Lê do Thái tổ diết giặc Minh gây dựng nên. Rồi ông đâm đầu xuống cửa biển Thần phù mà chết.


Lúc truy binh của họ Mạc đuổi tới thì thấy nước vẫn xoáy dữ dội, những vòng xoáy lan rộng ra chung quanh như những vòng hào quang bao phủ chung quanh cuộc đời bất tử của Trạng nguyên Vũ Duệ.


Mấy hôm sau, được tin Vũ Duệ đã nhảy xuống cửa biển Thần phù tự vẫn, mạc Đăng Dung thở phào vì đã bớt được một đối thủ lợi hại. Tiếp đến tin Nghiêm Bá Ký, Nguyễn Xý đi trốn rồi chết ở châu Văn uyên, trấn Lạng sơn. Còn Đàm Thận Huy cũng đi chốn rồi chết ở châu Lục yên, trấn Tuyên quang. Nguyễn Hữu Nghiêm trốn lên huyện Tam nông, sau bị đóng cũi đưa về Kinh sư, dùng xe xé xác ra đem đi rêu rao và giết cả con.


Thấy những kẻ thù của mình bị diệt gần hết, Đăng Dung cũng hơi yên tâm đôi chút. Tuy vậy, để đề phòng biến cố có thể sảy ra, Đăng Dung mới sai bầy tôi là bọn Quốc Hiến bàn định binh chế, điền chế, lộc chế và đặt ra bốn vệ Hưng quốc, Chiêu vũ, Cẩm y, Kim ngô, năm phủ cùng các vệ sở trong ngoài với các ty sở thuộc; tên quan các ty hiệu và số nhân viên binh lính các nha môn thì phỏng theo quan chế triều trước, y lệnh bổ sung. Lấy binh trấn sứ Hải dương thuộc về vệ Hưng quốc, binh trấn sứ Sơn nam thuộc về vệ Chiêu vũ, binh trấn xứ Sơn tây thuộc về vệ Cẩm y, binh trấn xứ Kinh bắc thuộc về vệ Kim ngô, chia bổ các ty. Mỗi ty đặt một viên chỉ huy sứ, một viên chỉ huy đồng tri, một viên chỉ huy thiêm sự, 10 viên trung hiệu, 1.100 người trung sĩ, chia thành 22 phiên túc trực. Nếu có công lao thì bổ lên các chức thiên hộ, thống chế, quản lĩnh, trung úy. Mỗi vệ đặt một viên thư ký, dùng hạng ký lục xuất thân khi trước, như là bổ các chức thủ lĩnh chăn dân. Còn các trung sĩ thì theo lệ chia phiên, mỗi phiên chia làm 5 giáp, mỗi giáp đặt một viên giáp thủ, quan bản ty chọn lấy hạng trung hiệu, người nào đích đáng làm bản đưa lên để thăng bổ.


Nhưng điều mà Đăng Dung lo lắng hơn cả vẫn là việc nhà Minh có thể vin cớ Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê mà đem quân sang hỏi tội. Y bèn sai người sang Yên kinh báo với nhà Minh rằng con cháu nhà Lê không còn ai thừa tự nữa, thuộc sứ đại thần là họ Mạc tạm trông coi việc nước, cai trị dân chúng. Nhà Minh không tin, mật sai người sang dò thăm tin tức trong nước, xét hỏi duyên do, ngầm tìm xem còn con cháu nhà Lê không cốt để bắt bẻ họ Mạc. Họ Mạc thường dùng lời lẽ văn hoa, lại đem nhiều vàng bạc đút lót. Đến khi sứ nhà Minh về, mật tâu là con cháu nhà Lê đã hết, không ai nối ngôi được, ủy thác cho họ Mạc, người trong nước đều tôn phục theo về họ Mạc cả, xin tha tội cho họ Mạc. Vua Minh vờ mắng, không nghe cốt để bắt bí họ Mạc. Đăng Dung sợ nhà Minh đem quân sang hỏi tội, bèn lập mưu cắt đất dâng nhân dân hai châu Quy Thuận và hai hình người bằng vàng và bạc, cùng là châu báu của lạ, vật lạ. Vua Minh thu nhận. Từ đấy hai bên lại thông sứ đi lại.


Năm sau có bầy tôi cũ của triều Lê là hai anh em Trịnh Ngung, Trịnh Ngang sang tố cáo với nhà Minh, nhưng vì họ Mạc đem nhiều lễ đút lót cho nhà Minh để làm ngăn trở, nên không làm được việc gì, hai anh em đều chết bên Trung Quốc.


Nguồn: Đất Thang Mộc. Phần I: Chúa Chổm. Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 22.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 11.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
xem thêm »