tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19002152
Tiểu thuyết
25.04.2009
Hoài Anh
Vua Minh Mạng

Thời kỳ đầu triều Minh Mạng, phòng Văn thư mặc dù đã có nhiều thay đổi và tăng thêm quyền hạn so với viện Thị thư dưới triều Gia Long, nhưng nó không khỏi bộc lộ những mặt bất cập. Bởi lẽ, vào những năm đầu ở ngôi, Minh Mạng còn tỏ ra thận trọng và nương nhẹ đối với việc hạn chế quyền hành của các viên Tổng trấn Bắc thành và Tổng trấn Gia Định thành. Để thiết lập một chế độ trung ương tập quyền ở trình độ cao, Minh Mạng không thể để cho tình trạng chia quyền tồn tại lâu được.


Minh Mạng cho rằng cần phải thiết lập một cơ quan mới có đầy đủ quyền hạn thay mặt nhà vua giải quyết mọi việc của các trấn trên phạm vi toàn quốc, cơ quan ấy luôn luôn chịu sự lãnh đạo trực tiếp của nhà vua. Do đó vào năm Minh Mạng thứ 10 (1829), Minh Mạng quyết định thành lập Nội các.


Nội các là cơ quan thay thế cho Phòng Văn thư, về mặt tổ chức và nhiệm vụ thì có phỏng theo quy chế Nội các của nhà Minh và nhà Thanh Trung Quốc, nhưng Nội các của hai triều đại Minh, Thanh quyền hành luôn đứng trên lục bộ. Nhà Thanh, quan đứng đầu Nội các được thăng lên đến chánh nhất phẩm. Lường trước tệ chuyên quyền của một cơ quan nắm giữ nhiều quyền hành như Nội các, trong lời dụ bầy tôi, Minh Mạng chỉ rõ: “Đế vương ngày xưa kính lo công việc, tóm giữ quyền cương, không ai không có người tôi thân cận để chực chầu ở gần nơi cung, giúp đỡ việc lớn. Nhưng cách đặt quan thì mỗi đời một khác. Xét Bắc triều gần đây, nhà Minh sợ việc Tể tướng chuyền quyền mà đặt Nội các, nhà Thanh cũng làm theo. Xét đến cốt yếu, dẫu không có cái danh Tể tướng mà quyền hành không khác gì Tể tướng, đều không đủ bắt chước cả. Nhà nước ta sau khi đại định, đức Hoàng khảo Thế tổ Cao Hoàng đế ta đặt ra Viện Thị thư. Khi trẫm mới thân chính đổi làm Phòng Văn thư. Nay nghĩ Phòng Văn thư tên gọi chưa thỏa nên đổi làm Nội các. Phàm tên quan và chức việc, nhất thiết sự nghi nên thế nào cho thỏa đáng để có thể liệu về sau thi hành lâu dài mà không có tệ, các khanh nên bàn kỹ tâu lên”. Lời dụ trên của Minh Mạng được các triều thần đem ra nghị bàn. Các triều thần đã nắm bắt được chủ kiến của Minh Mạng là tuy tham khảo Nội các hai triều Minh Thanh nhưng “không đủ bắt chước cả”. Cái lo của nhà vua là tệ chuyên quyền của Nội các như Nội các của Bắc triều “dẫu không có danh Tể tướng mà quyền hành không khác gì Tể tướng”. Thể theo ý định của Minh Mạng, triều thần kiến nghị: “Vậy xin chức Nội các đặt bốn người Quản lãnh, lấy quan tam tứ phẩm ở bộ, viện sung làm công việc”.


Nội các là cơ quan rất quan trọng, công việc rất nhiều, nhiệm vụ có quyền nhận những chương sớ, sổ sách, án kiện của các Nha, Lục bộ cùng các thành, trấn trong ngoài được phụng sắc phê bảo, lãnh chỉ rồi thì nghĩ lời chỉ dụ mà trình lại để tuân hành. Để tránh tệ chuyên quyền, trong một lời dụ gửi cho Quốc Sử quán, Minh Mạng đã đem tấm gương chuyên quyền của Nội các nhà Minh, Thanh để răn đe: “Vua Thánh Tổ nhà Minh mới dựng ra Nội các, lấy viện Hàn Lâm vào làm, thăng chức làm Đại học sĩ nhưng trật chỉ ngũ phẩm để làm cố vấn mà thôi, sau phẩm trật càng cao, quyền hành càng lớn, tuy không có cái tên gọi Tể tướng mà có cái thực quyền Tể tướng cho nên vua Thế Tông nhà Minh dùng Nghiêm Tung, vua Cao Tông nhà Thanh dùng Hòa Thân đều là người u mê mà tùy tiện tác oai tác phúc, cái gương đó thực không xa.


Tuy nhiên cũng có thể châm chước, việc nên làm, chả nhẽ lại bỏ cả, như người vì nghẹn mà bỏ ăn sao! Phương chi, quan chức trong Nội các ngày nay trật chỉ có tam phẩm mà đứng hàng thứ dưới 6 bộ, không thể đứng đầu trăm quan mà giữ mọi việc như nhà Minh, nhà Thanh được. Để tránh việc thông đồng, tư tình giữa các viện quan ở Nội các và các viên quan ngoài, Minh Mạng còn nêu rõ quy định: “Người nào ở Nội các đã được bổ làm quan ngoài, thì không được vì đã từng sung vào Nội các mà tự tiện ra vào”. Nhằm tăng cường trách nhiệm của Nội các và lục bộ, đồng thời cũng nhằm ràng buộc lẫn nhau, Minh Mạng đặt ra chế độ các Phiếu nghĩ của Nội các, nếu có gì không hợp, thì lục bộ trích và tham hạch, ngược lại Phiếu nghĩ, Bản tâu của lục bộ nếu có gì không hợp thì Nội các cũng được trích ra để tham hạch.


Các viên quan Trương Đăng Quế, Hà Duy Phiên, Hà Quyền, Hoàng Quýnh được cử vào Nội các.


Hà Quyền tự Tốn Phủ hiệu Phương Trạch, biệt hiệu Hải Ông người làng Cát Động, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam Thượng, thuở nhỏ thông minh, học giỏi, đã thi đỗ Tiến sĩ trong khoa thi năm 1822 do Trịnh Hoài Đức làm chủ khảo. Khi làm quan ở Viện Hàn Lâm, do có tài văn chương nên các bản chiếu, dụ ông thảo ra vừa viết nhanh, vừa hay, vừa hàm súc được Minh Mạng rất khen ngợi, nên đặc cách đưa ông vào Nội các. Mới 31 tuổi, những cái lắt léo trong nội bộ triều đình và mánh khóe trong chốn quan trường, ông không hiểu biết mấy, cho nên sau khi được cử vào Nội các, ông phải đi thăm dò tìm hiểu ở những tay lão luyện như Thượng bảo khanh Hoàng Quýnh. Hoàng Quýnh đã từng hầu hạ Minh Mạng khi Minh Mạng còn là Hoàng Tử, được Minh Mạng rất tin cậy, nên hiểu được thâm ý của Minh Mạng, lựa chiều thưa gửi sao cho đẹp lòng nhà vua. Minh Mạng đưa Hoàng Quýnh vào Nội các coi như tâm phúc và làm tai mắt cho mình dò xét các quan.


Thấy Hà Quyền đến chơi, Hoàng Quýnh niềm nở tiếp đãi. Tiệc tan, thấy đêm trăng sáng, Hoàng Quýnh mời Hà Quyền cùng đi chơi thuyền trên sông Hương.


Sông Hương nước chảy lững lờ, ngập ngừng như quấn quít lấy đô thành mà không muốn trôi nhanh về cửa biển. Sông chảy qua một miền đất phì nhiêu, nơi thì là những vườn cây ăn quả sum suê ven bờ tươi mát, nơi thì là những khu rừng rậm rạp. Đến Huế thì bên bờ sông in bóng những lâu đài, thành quách, phố phường, chợ búa. Dưới bến, thuyền đậu san sát, những chiếc thuyền trông vừa xinh vừa nhẹ thật thích hợp với cảnh sông nước êm đềm.


Hoàng Quýnh kêu một chiếc đò rồi cùng Hà Quyền đặt chân trên tấm ván cầu bước vào trong đò. Đò thon và dài, được ghép từ năm mảnh ván, có lái và mũi cong để giảm sức cản của nước. Đò có mui tròn, đan bằng tre, có ba phần: trước mũi là một khoảng không gian rộng và thoáng là nơi để du khách hóng mát, ngắm trăng.


Khoang giữa và mui vòm, sàn gỗ ván bào nhẵn, trải chiếu hoa, mặt gối thêu để dành cho khách và kỹ nữ. Sau cùng là khoang che kín dành riêng cho gia đình chủ đò. Hoàng Quýnh và Hà Quyền ngồi ở mũi đò, gọi chủ đò mang rượu ra để hai người cùng uống rượu thưởng trăng. Rượu được vai tuần, Hà Quyền hỏi Hoàng Quýnh:


- Tôi còn trẻ tuổi, quan chức còn thấp mà được Ngài Ngự đặc cách đưa vào Nội các cùng ông Trương, ông Hà, trong lòng trộm lấy làm áy náy. Quan bác có biết mục đích của Ngài Ngự đặt ra Nội các để làm gì không?


Hoàng Quýnh ngạc nhiên:


- Ủa, thế ra quan bác chưa biết cái lệ “tam bất” của hoàng triều ta à?


- “Tam bất” là gì, thưa quan bác?


- “Tam bất” là ba không: không lập Hoàng hậu, không đặt Tể tướng, không lấy Trạng nguyên, cốt để tránh cái vạ ngoại thích, và chuyên quyền, kiêu căng khinh lờn. Quan bác xem đấy, hoàng triều ta người đứng đầu trong tam cung lục viện chỉ được phong Hoàng quý phi hay Chính phi mà thôi. Còn các khoa thi, quan bác có thấy ai đỗ Trạng nguyên bao giờ đâu, chỉ Bảng nhãn, Thám hoa là cùng. Nhà vua không đặt Tể tướng, vì sợ quyền to dễ chuyên quyền, nên mới đặt ra Nội các, phẩm trật thấp hơn các Thượng thư lục bộ, mà lại có thể thay mặt vua khống chế, ràng buộc quyền lực của lục bộ, nhờ giúp nhà vua chỉ đạo mọi việc được sâu sát hơn, ít gây lỗi lầm hơn.


Hà Quyền thầm nghĩ, thì ra chức quan Nội các của mình chân không đến đất, cật không đến trời, chỉ có chức năng giám sát lục bộ mà không có thực quyền, cuối cùng toàn bộ quyền lực vẫn nắm trọn trong tay nhà vua, mình chỉ làm cái bung xung. Đã thế, nếu chỉ trích sai hay việc đáng chỉ trích mà không chỉ trích thì còn bị tội. Nghĩ như vậy nhưng Hà Quyền không dám nói ra vì sợ Hoàng Quýnh sẽ đem lời mình nói tâu với nhà vua. Ông liền nói:


- Thế ra công việc của Nội các cũng hệ trọng, khó khăn lắm nhỉ. Tôi mới làm việc còn chưa quen, nếu có sơ sót gì xin quan bác vui lòng chỉ giáo cho nhé.


Đò đến ngã ba Tuần, nhìn sang tả ngạn, giữa muôn trùng núi non, Hà Quyền thấy nổi lên ngọn “chủ sơn” Kim Phụng, hùng vĩ, xinh đẹp, làm chuẩn cho kinh đô và toàn bộ đồng bằng duyên hải. Phía hữu ngạn xa xa, ngọn Ngự Bình ẩn hiện mờ mờ trong vùng sương khói. Núi không cao lớn, nhưng cân phân “trước tròn sau méo”.


Ánh trăng đổ xuống lòng sông chẳng khác gì một dải lụa vàng vắt ngang qua đô thành. Trong khung cảnh trời nước mênh mông văng vẳng xa đưa một điệu hòa khi trầm khi bổng, khi dồn dập như sóng xô nước cuộn, khi ngân dài như chờ đợi ngập ngừng, khi cao vút lên như thấu tận mây trời, khi hạ thấp mênh mông như chan hòa trên dòng nước. Người ta không biết đích xác tiếng hò nổi lên ở đâu: ở bến Phu Văn lâu hay bên cầu Bạch Hổ, ở chiếc thuyền trôi giữa dòng hay còn nằm trong bến, chỉ biết giọng hò đưa tâm hồn ta man mác như lạc vào một cõi u huyền nào vậy. Nghe câu hò, nhìn lên vầng trăng, Hà Quyền chợt nhớ đến câu thơ của quan Hữu Tham tri bộ Lễ Nguyễn Du “Hương giang nhất phiến nguyệt, Kim cổ hứa đa sầu”(1). Chắc là ông Nguyễn Du cũng đã nhiều lần nghe câu hò “Năm canh xót phận mây bèo, Trăm chìu đòi đoạn” này nên mới có cảm hứng viết nên Truyện Kiều. Có lẽ mình cũng nên noi gương ông ấy, trước mặt vua ngậm miệng không nói gì, để dành thời giờ viết nên những áng thơ tuyệt diệu. Nhớ lại khi đang làm tri phủ Tân Bình, ngày xuân bệnh dậy, ông đã có câu thơ: Sấu cốt thiên năng khi chướng lệ, Lại tình cửu dĩ khiếp phong trần(1) thì đến nay ông thấy câu thơ đó vẫn đúng. Khi Hoàng Quýnh mời ông vào khoang giữa ngủ, ông từ chối không muốn ngả vào vòng tay một nàng Kiều của thời nay. Ông lại trở về làm nhà thơ Tốn Phủ với tâm hồn biết rung động trước cảnh đẹp và tình người.


Đêm càng về khuya. Không biết từ thuyền nào vẳng đến tiếng ca Nam ai:


Ai xui cái bệnh đa tình, đa tình cho mình thiệt dở!


Khi đã mắc vào tròng, biết gỡ cho ra.


Thề trên nguyệt dưới hoa,


Ôm tấm lòng thơ thẩn vào ra,


Riêng trách kẻ đường xa,


Chi mà tệ, tệ bạc mà lắm mà...


Hà Quyền tưởng như người kỹ trên chiếc thuyền không ấy đang trách móc chính ông...


 


XIV


Minh Mạng ra lệnh xây dựng Lầu Tàng thơ ở phía đông bắc của hoàng thành. Triều đình đã giao cho Thự Thống chế Đoàn Đức Luận đứng ra điều khiển 1.000 binh lính để thi công. Tòa nhà được xây dựng bằng gạch và đá, tầng dưới 11 gian, tầng trên 7 gian 2 chái nằm trên hòn đảo hình chữ nhật giữa hồ Học Hải, cạnh hồ Tịnh Tâm. Đảo nối với đất liền chỉ bằng một chiếc cầu đá.


Tất cả sổ sách của sáu Bộ và các nha tại kinh đô sau từng năm đều đưa đến đây để cất giữ. Hàng vạn tập văn kiện bằng giấy bổi, rất dễ cháy và dễ bị mối mọt gặm, do đó tòa nhà phải đặt trên đảo giữa hồ để tránh hỏa hoạn. Người ta còn cho rải chất lưu huỳnh trên mặt đất tầng dưới để trừ khử mối mọt. Tầng trên, nơi chứa tư liệu, trổ nhiều cửa chung quanh, xây lan can thưa thoáng để không khí luân lưu ra vào, tránh sự ẩm mốc vì độ ẩm không khí tại Huế rất cao. Mục đích việc xây dựng lầu này là để giữ cho tài liệu gốc của quốc gia được chính xác và không bị thất thoát ra ngoài. chúng được bảo quản cẩn mật để người đương thời hoặc người đời sau đến tra cứu.


Ngay từ năm đầu mới lên ngôi, Minh Mạng đã xuống chiếu tìm kiếm thu nhập sách cổ của Việt Nam. Lời chiếu có đoạn viết: “Trẫm nghĩ đế vương các đời dấy lên, tất có sách sử mỗi đời để chép lời nói, việc làm và công việc chính trị mà để lại đời sau... Vậy chuẩn cho quan dân trong ngoài, phàm nhà nào cất giữ những bản biên chép điển cũ triều trước, thì không kể tường hay lược, đem nguyên bản tiến nộp hoặc đưa cho nhà nước sao chép đều có khen thưởng”.


Nhờ đó, trong ngoài đều đem các bản biên chép đến dâng. Thượng thư Trịnh Hoài Đức dâng sách Gia Định thông chí (3 quyển) và sách Minh bột di ngư văn thảo. Chiêu hậu Hoàng Công Tài dâng sách Bản triều ngọc phả (2 bản) và sách Kỷ sự (2 bản). Người Quảng Đức là Cung Văn Hy dâng sách Khai quốc công nghiệp diễn chí (7 quyển). Người Thanh Hóa là Nguyễn Đình Chính dâng sách Minh lương khải cáo lục (34 quyển). Người Quảng Nghĩa Vũ Văn Tiêu dâng sách Cố sự biên lục.


Một năm sau, Hàn lâm viện biên tu Phan Huy Chú dâng bộ sách Lịch triều hiến chương loại chí (49 quyển). Minh Mạng đã thưởng cho Phan Huy Chú 30 lạng bạc, 30 chiếc bút, 30 thoi mực và một cặp áo sa.


Từ năm Minh Mạng thứ 12 (1831), Minh Mạng đã dụ cho Nội các phải tìm mua hoặc thu lượm gấp số di cảo của Lê Thánh Tông. Minh Mạng nhắc nhở các quan ở Nội các: “Ra lệnh cho quan Lễ bộ tư hỏi Bắc thành và các trấn Thanh Nghệ, Ninh Bình, phàm các nhà quan lại, sĩ dân, ai còn giữ được những tập thi văn ngự chế về đời Hồng Đức, đều đưa đến cho quan sao chép, thu góp lại, khắc in truyền khắp trong nước để nêu cái tốt đẹp của tiền nhân, lưu một việc hay trong rừng văn nghệ”.


Minh Mạng thường xem quốc sử, bảo Hà Quyền và Trương Đăng Quế rằng: “Các vua đời trước nước ta như Lê Thánh Tông cũng có thể gọi là vua hiền, trẫm vốn hâm mộ... Lê Thái Tổ oai võ giỏi, mưu lược lớn, khai sáng trước, Thánh Tông nối sau, lập ra pháp chế, việc gì cũng có thể lưu lại mãi mãi về sau, thực không thể bàn ai hơn ai kém”. Minh Mạng thường dụ Nội các rằng: “Nước Việt ta mở nước bằng văn hiến, các bậc vua hiền đời trước đều có, duy Lê Thánh Tông thì không phải là đời nào cũng có. Những phép hay chính tốt chép cả ở trong sử sách, lại còn khi rảnh việc thì lấy văn nghệ làm vui, trứ tác rất nhiều, tiếng hay phong nhã vẫn còn văng vẳng bên tai mọi người. Trẫm nhớ đến cổ nhân rất lấy làm kính mến”.


Tháng 11 năm Minh Mạng thứ 20 (1839), Minh Mạng tìm kiếm những di cảo văn chương của người Việt Nam để soạn thành bộ Nam thổ anh hoa lục. Trong lời dụ cho bộ Lễ, Minh Mạng viết: “Nước Đại Nam ta vốn có tiếng là nước văn hiến, danh thần văn sĩ đời nào cũng không thiếu, trong đó chắc cũng có nhiều nhà trứ thuật. Nhưng từ trước đến giờ không biên chép góp nhặt thành ra mất mát không còn dấu tích gì. Vậy truyền dụ cho các quan Thượng ty cho hỏi tìm khắp trong hạt, phàm quan lại, học trò và nhà thường dân, nhà ai còn giữ được những tác phẩm như thơ, vịnh, minh, ký, từ, phú bất luận đã lâu hay gần đây, nếu muốn đem dâng thì tất ban khen ngợi, nếu họ không muốn nộp quan thì mượn về sao chép ra, dâng lên ngự lãm, giao cho bộ Lễ hợp với viện Hàn lâm chọn lựa: Bản nào hay thời soạn lại đóng lại thành sách, đặt tên là Nam thổ anh hoa lục, khắc thành bản in để làm tỏ rõ việc tốt đẹp tôn chuộng văn học của triều thịnh trị”.


Bên cạnh công việc sưu tầm và in lại những bộ sách quý, Minh Mạng còn ra chỉ dụ cho Quốc Sử quán đẩy mạnh việc biên soạn sử về đời các chúa Nguyễn, được gọi là Liệt thánh thực lục. Bộ sách này sau được bổ sung, chỉnh lý và khắc in, với tên gọi Đại Nam thực lục tiền biên, chép lại sử 9 đời chúa Nguyễn từ Nguyễn Hoàng đến Nguyễn Phúc Thuần.


Nhiều đêm Minh Mạng thắp đèn xem chương sớ đến canh hai, canh ba mới nghỉ. Mọi phê bảo, dụ chỉ, chế cáo đều tự tay vua viết, bởi ông không mấy vừa lòng với các bản chiếu dụ do các quan từ hàn ở Hàn lâm viện hay phòng Văn thư soạn thảo.


Có người can vua không nên làm việc quá nhiều, e tổn hại đến sức khỏe. Minh Mạng nói:


- Làm người ai chẳng muốn yên, hay gì sinh sự để thay đổi luôn, nhưng lúc trẻ khỏe mà không biết sửa sang mọi việc, đến lúc già yếu mỏi mệt, hỏi mong làm gì được nữa. Bởi thế trẫm không dám lười biếng bất kỳ lúc nào.


Ngự Uyển là một khu vườn đẹp trong Tử Cấm thành. Nơi này khóm trúc, bụi hồng, nơi kia cành mai chậu cúc, nơi kia nữa gốc đào, gốc tùng, hải đường chậu quỳnh cành giao. Bên cây cảnh là gò đất nhỏ, núi đá con, hồ nuôi cá vàng, lồng chim cu gáy, ghế đá, lồng đèn, dàn hoa lý.


Một hòn non bộ nằm trên một bể cạn. Phong cảnh non bộ là cả một vùng nước non hồ vực hang động cầu nhà chùa tháp nho nhỏ với những tượng người bằng sành diễn tả những cảnh ngư tiều canh mục, cảnh Bồng Lai, cảnh Đào Nguyên. Mọc trên non bộ là những cây cảnh như si, sung, tùng, sến, bồ đề, dương liễu, xương rồng, cỏ trân châu, bông tỉ muội... là những loài cây cỏ được thu nhỏ lại chỉ còn cao vài mươi phân cho cân xứng với kích thước của một phong cảnh nho nhỏ, lại được uốn nắn theo những thế độc đáo như thế trực thế hoành, thế rồng bay phượng múa, thế cha con, thế anh em... Bên cạnh hòn non bộ là những chậu cây cảnh khác cũng được uốn thế công phu thành những rồng, lân, công, phụng…


Minh Mạng cùng Hiền phi ra ngắm hoa ở vườn Ngự Uyển. Cảnh trăm hoa đua nở khoe hương khoe sắc dưới làn gió nhẹ và nắng xuân ấm áp khiến vua nẩy hứng làm thơ. Nhà vua đến Thái Bình lâu, trèo lên tầng trên, ngồi trước án, nghĩ tứ.


Nguồn: Vua Minh Mạng. Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học , 2006.


 


 







(1) Một mảnh trăng sông Hương, xưa nay biết bao sầu.




(1) Tấm thân gầy giơ xương, mà vẫn có thể khinh thường được khí độc rừng núi, Tâm tình một người làm quan, lâu nay đã khiếp sợ với gió bụi.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 26.04.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 16.04.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
Hà Nội xưa và nay - Bạch Diện Nguyễn Văn Cư 04.04.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 30.03.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
Hòn đất - Anh Đức 14.03.2017
Một chuyện chép ở bệnh viện - Anh Đức 14.03.2017
xem thêm »