tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19728948
Tiểu thuyết
24.04.2009
Hoài Anh
Vua Minh Mạng

Chiếc thuyền rồng của vua ngự không có lính chèo, nhưng do sáu hoặc tám chiếc thuyền khác kéo. Mỗi thuyền có chừng năm sáu chục lính Long thuyền chèo. Ngoài ra còn có một chiếc thuyền con dùng để liên lạc giữa thuyền Ngự của vua với thuyền của các quan theo hầu. Thuyền rồng và thuyền các quan treo cờ kết đèn, nối đuôi nhau thành một hàng dài lướt trên mặt sông. Tiếng trống, tiếng nhã nhạc, tiếng chèo đập nước vang dậy cả một vùng.


Mặt trời vừa lên, màu xanh trong vắt của sông Hương lung linh như ngọc bích dưới ánh nắng, vài chiếc thuyền nhẹ nhàng trôi thơ thẩn, xa xa những dặng núi xanh tím in đậm lên nền trời xanh nhạt. Minh Mạng ngồi trên thuyền, nhìn cảnh cảnh trí non, nước, trời, mây, lòng bỗng nhẹ lâng lâng. Ông nhớ đến câu thơ con trưởng ông là Miên Tông đã vịnh: Ba bình xuân thủy lung yên sắc, Chu trục thần phong động lỗ thanh. Thiên tửu vị can nhu ngạn thọ, Sơn hoa do luyến kết vân anh(1). Ông mừng vì thấy Miên Tông có khiếu làm thơ, thơ khá là trang nhã.


Thuyền ngược dòng sông lên vùng ngoại ô Kim Long, một làng xinh xắn ẩn mình trong một rừng cây ăn trái xanh um. Đi thêm một đoạn nữa, thuyền cặp bến trước cửa chùa Thiên Mụ. Từ cổng tam quan với bốn trụ biểu xây sát đường cái đi vào chùa, người ta thấy điện Thiên Vương, điện Ngọc Hoàng, điện Đại Hùng, Thuyết Pháp đường, lầu Tàng Kinh.


Hai bên cửa chùa, về phía tả có lầu bia hình lục giác. Bia bằng đá Thanh khá lớn, dựng lên trên lưng một con rùa bằng đá cẩm thạch, đều được khắc chạm uyển chuyển, tinh vi, được dựng từ thời chúa Nguyễn Phúc Chu. Về phía hữu, có lầu chuông hình lục giác. Quả chuông lớn đúc bằng đồng, mặt trên có 8 chữ “Thọ” khắc theo lối chữ triện, ở giữa thân chuông chia làm 4 khoảng, khắc bài minh của chúa Nguyễn Phúc Chu và chạm nổi những hình long, vân, nhật, tình, ở phía dưới khắc hình bát quái và thủy ba. Ngoài ra, còn có Vân thủy đường, Trí Vi Vương Thiên đường, điện Đại Bi, điện Dược sư và một vài căn nhà của các vị sư.


Sau chùa, một khu vườn rộng nhiều hoa thơm cỏ lạ, gọi là Côn Da có nhà Phương trượng cùng một nhà nhỏ khác dành cho các nhà sư nghỉ ngơi sau những giờ tụng niệm. Điện Đại Hùng ở chính giữa chùa, gồm chính đường có ba gian, hai chái và tiền đường có năm gian hợp lại thành một tòa. Ngoài những tượng mặt Phật bằng đồng sáng chói, còn treo một khánh đồng khá lớn mang hình nhật nguyệt tinh tú do một vị quan người Quảng Trị là Trần Đình Ân thuê người Bồ Đào Nha Jean de la Croix đúc năm 1677 để cung tiến cho chùa, và treo một bức tranh hoành phi bằng gỗ sơn son thếp vàng do tự tay chúa Nguyễn Phúc Chu ngự đề năm 1714.


Phía sau chùa có điện Di Lặc, điện Quan Âm, điện Tàng Kinh, mỗi điện có ba gian. Trước điện Đại Hùng về phía đông và tây, mỗi bên có một điện Thập Vương, trước mỗi điện có một căn nhà gọi là “Lôi gia”.


Ngoài điện Đại Hùng, có một cửa gồm ba gian có lầu gọi là “Nghi môn” trên vách cửa có sáu bức tượng Kim Ôn nổi. Bên cửa tả có gác chuông, cửa hữu có nhà trống.


Nhìn Điếu ngư đài bên sông Hương trước chùa, nơi chúa Nguyễn Phúc Chu thường đến câu cá, uống rượu, ngâm thơ, Minh Mạng nhớ lại một truyền thuyết: Gò đất Hà Khê có vượng khí linh thiêng nhưng bị Cao Biền quan nhà Đường cắt long mạch, yểm, khiến cho về sau khí thiêng không tụ được. Một đêm, có một bà già đầu tóc bạc phơ mặc áo đỏ quần xanh, ngồi trên đỉnh gò đồi và nói: “Rồi đây sẽ có một vị chân chúa đến lập chùa thờ Phật. Cầu thỉnh khí thiêng trở về núi này để giúp dân giúp nước”. Nói xong, người đàn bà này biến mất. Dân chúng gọi tên gò đồi này là Thiên Mụ Sơn (núi bà trời). Đến khi Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Quảng, nghe chuyện trên, tự cho mình là chân chúa, sai người cất dựng chùa, viết biển đề “Thiên Mụ Tự”. Đời chúa Nguyễn Phúc Tần cho trùng tu chùa, đúc chuông. Đến chúa Nguyễn Phúc Chu lại tiếp tục cho sửa sang, dựng bia, xây dựng thêm nhiều điện, đường huy hoàng tráng lệ. Đời Gia Long tại cho sửa sang lại, đẹp hơn.


Minh Mạng thầm nghĩ, thì ra ông cha mình đã biết cách dùng Phật giáo để thu phục lòng người.


Sau khi trở về cung, Minh Mạng ra lệnh trùng tu lại chùa Thiên Mụ, các ngôi chùa khác như Từ Hiếu, Báo Quốc, Diệu Đế... cũng được củng cố và xây dựng thêm. Hơn thế nữa, Minh Mạng còn tỏ ra muốn tìm hiểu về giáo lý của Phật giáo và thường đàm đạo với các bầy tôi thân cận, các hòa thượng về những vấn đề liên quan với tôn giáo này. Có lần ông đã hỏi một vị hòa thượng:


- Bạch đại sư, theo ý đại sư thì Nho giáo với Phật giáo khác nhau ở chỗ nào?


Hòa thượng nói:


- Tâu Ngài Ngự, Nho giáo với Phật giáo vốn “đồng quy nhi thù đồ”(1) như Đức Khổng nói. Theo Nho giáo, khả năng thiên bẩm của mỗi người, Tính hay Thiên Lý, được tạo thành do khí hạo nhiên của trời đất; kết lại, giữ lại thì là Tâm; tản ra, phát hiện ra là Minh Đức, Lương Tri(2), cùng với sự hiểu biết ngoại vật mà lập thành là cái Ý hay cái Chí vậy.


Phật giáo cho rằng khả năng nhận thức của con người không đứng tách rời mà kết hợp với nhiều yếu tố khác gọi là Ngũ Uẩn: Sắc là sắc tướng, hình thể của vạn vật, ngũ căn(3) và ngũ trần(4). Thọ là tri giác, cảm giác. Tưởng là ý thức, tri thức khi tiếp xúc với ngoại cảnh. Hành là hành động và cả những nguyên nhân dẫn đến hành động. Thức là nhận thức về sự vật và bản thân.


Cái mà Nho giáo gọi là khí, hồn, phách, Phật giáo gọi là Tâm, Nghiệp, Thân. Khi con người chết đi, phách, thân tiêu tan đi, nhưng hồn hay nghiệp vẫn còn, và cái Khí Phát Dương cũng như Linh quang tức Tâm trở về chỗ cao sang trong vũ trụ.


Phật giáo cho rằng khi Vô Minh chuyển động, Linh Quang vọng động, sẽ biến tạo ra vũ trụ vạn vật. Nho giáo cũng đồng quan niệm cho rằng trong khi Âm Dương chuyển động thì khí trời đất nghi ngút, trên dưới giao hợp, vạn vật bởi cái khí tinh thuần ấy mà hóa ra, rồi giống đực cái giao cấu với nhau mà vạn vật sinh hóa. Nho giáo cho rằng có năm nguyên tố là Ngũ hành. Trời lấy số 1 mà sinh hành Thủy, đất lấy số 6 mà làm cho thành (hành Thổ). Đất lấy số 2 mà sinh hành Hỏa, trời lấy số 7 mà làm cho thành. Trời lấy số 3 mà sinh hành Mộc, đất lấy số 8 mà làm cho thành. Đất lấy số 4 mà sinh hành Kim, trời lấy số 9 mà làm cho thành. Trong ngũ hành, hành Thổ là bản chất của Đất, rất rộng lớn, khả dĩ có thể bao dung được bốn hành kia nên lùi lại sau cùng. Đó là 5 nguyên tố tạo lập nên vũ trụ vạn vật.


Phật giáo cũng có quan niệm tương tự bằng thuyết “lục đại duyên khởi”. “Lục đại duyên khởi” là do “tứ đại duyên khởi” mà ra. “Tứ đại duyên khởi” là: Địa đại, trỏ sự cứng. Thủy đại, trỏ sự lưu động. Hỏa đại, trỏ năng lực, Phong đại, trỏ sự chuyển động. Đó là bốn nguyên tố tạo thành vũ trụ vạn vật. Về sau lại thêm hai nguyên tố nữa: Không đại, trỏ không gian. Thức đại, trỏ ý thức, tức tâm.


Nói chung, Nho giáo và Phật giáo đã gặp nhau trên nhiều điểm. Nhưng đến sự hướng thiện con người và quan niệm về cuộc đời, hai giáo thuyết đã tách sang hai ngả đường khác nhau. Nho giáo chủ trương rằng khả năng tri thức của con người có thể thông đạt tất cả. Muốn vậy phải học và luôn luôn thực tập những điều đã học. Phật giáo lại cho rằng con người có tri thức là khổ, vì tri thức chỉ là cái giả tạm. Nho giáo chú trọng đến sự Sinh và Phật giáo chú trọng đến sự Siêu Sinh (nhập diệt). Do đó Nho giáo chủ trương Nhập thế, còn Phật giáo chủ trương Xuất thế, sự khác nhau là ở đó.


Minh Mạng lại hỏi:


- Nay ta muốn cơ đồ dài lâu, đạo Phật chấn hưng rực rỡ, thì phải làm như thếnào?


Hòa thượng nói:


- Trong bài tựa sách Thiền tông chỉ nam của đứcTrần Thái Tông có thuật lời của Quốc sư Trúc Lâm núi Yên Tử nói: “Trong núi vốn không có Phật, Phật ở tại trong tâm. Hễ tâm yên lặng và hiểu biết ấy là Phật thực vậy. Nếu Ngài Ngự muốn chấn hưng đạo Phật, thì phải đem thân mình ra làm người dẫn đường cho thiên hạ. Đạo Phật vốn giới sát(1), nếu Ngài Ngự đem cái tâm từ bi ra cảm hóa mọi người, cho mọi người cùng đi theo hướng thiện, thì đó là cách tốt nhất để hoằng dương Phật pháp vậy”.


Minh Mạng nín lặng hồi lâu. Ông biết hòa thượng có ý khuyên mình không nên dùng hình phạt quá nghiêm khắc. Đọc sách Tuân tử, Hàn Phi tử, ông tán thành cái thuyết con người sinh ra vốn tính ác, phải dùng pháp luật để kiềm chế, uốn nắn cho nên rất đề cao pháp trị. Đối với Minh Mạng, trên kể từ hoàng thân quốc thích, dưới đến thứ dân đều bình đẳng trước pháp luật. Ai mắc tội cũng đều đem ra xét xử và xử đúng pháp luật. Minh Mạng kiên quyết xóa bỏ lệ “Bát Nghị”(2) tồn tại rất lâu dưới thời quân chủ Việt Nam. Ông cho rằng sau một thời kỳ mất ổn định về chính trị, để duy trì kỷ cương xã hội, phòng ngừa và trừng trị tham quan nhũng lại, tất yếu phải đề cao pháp luật. Bộ Hoàng Việt luật lệ, gồm 398 điều đã được biên soạn xong và thi hành từ triều Gia Long. Minh Mạng sai các quan sửa lại bộ luật Gia Long và định thêm những điều luật mới như: Định lệ chi tiết phân xử sự làm việc sai lầm của các thuộc viên và cắt đường quan lại tham nhũng và hối lộ, định lệ về việc xét các địa phương xử án hay hoặc dở... nhằm hạn chế sự hư hỏng của quan lại.


Minh Mạng nghĩ ngợi một hồi, rồi nói với hòa thượng:


- Trẫm dùng hình phạt đó chẳng qua chỉ là áp dụng nguyên tắc “Sát nhất nhân vạn nhân cụ”(1) mà thôi. Nếu đem tâm từ bi thì phải biết thương dân, mà thương dân thì phải trừng trị bọn tham quan nhũng lại, không có cách nào khác. Hòa thượng cũng nên hiểu cho ta điều đó.


Từ đó, trong một số trường hợp, Minh Mạng cũng tỏ ra khoan hồng hơn trước. Như ở Gia Định, có bọn trộm đạo bị bắt khép vào tội chết, vua xét thấy vừa rồi ở Gia Định có bệnh dịch lệ, sinh kế của dân không được đầy đủ, hoặc có kẻ khổ vì đói rét mới mắc vào tội lệ, vua liền cho những kẻ trộm đạo, kẻ tùng đảng giảm tội chết, chỉ bắt tội lưu đày. Sau ở Bắc thành, khép án cường đạo, có hơn 200 người phải xử tử. Vua ban dụ rằng: “Bọn trộm mà kẻ tùng đảng còn ở ngoài đứng trông, chưa vào trong nhà, hoặc chỉ lấy một cái đồ, số đồ không đáng bao nhiêu, tình cũng nên thương, nếu xét theo đúng luật mà xử tử, thì đâu phải là ý thương xót được, cho phép tâu để lượng giảm tội phạt”.


Quan Hiệp trấn Nghệ An Vũ Xuân Cẩn hạch tâu nói: “Quan Đề điệu là Nguyễn Hữu Nghi, quan coi thi là Hoàng Quýnh dùng danh tiếng lấy người trúng tuyển, có thí sinh đã rớt rồi, lại cho đậu, thực là trái với phép tắc thi cử”.


Vua giao cho đình thần xét tội, có người nghị án nên chém, có người nghị án nên cách thức.


Binh bộ Thượng thư Đoàn Viết Nguyên, Lễ bộ Tham tri Nguyễn Đăng Tuân đều tâu:


- Hữu Nghi với Hoàng Quýnh có trái phép tuyển cử thực, nhưng vốn bản tâm thì chỉ là cần được người thực tài, tình cũng nên thương.


Minh Mạng gật đầu, nói:


- Tội phạm của Hữu Nghi thực không tha được, nhưng khép tội chém, thì cũng nặng quá, chỉ nên cách thức, đưa ra Quảng Bình tiền quân hiệu lực.


Khi quân của Phan Bá Vành ở Bắc thành đã bị tru lục rồi, còn bắt được những kẻ tùng đảng hơn 700 người. Quan Hiệp Tổng trấn Bắc thành Nguyễn Hữu Thận tâu: “Tụi bắt được này, đều là đảng phản nghịch, xin cứ theo luật mà chém hết”.


Vua nói rằng: “Tụi ấy cũng có kẻ bị bức bách mà ép phải theo giặc, nếu chém cả đi, thì thực không nỡ tâm”. Bèn giao cho đình thần xét kỹ lại, giảm tội tử hình, đi quân thứ hơn 400 người.


Điện Trung Hòa bị đột, quan quản Vũ khố xin cho trùng tu, vua chỉ cho sửa sang lại mà thôi. Vua đi đến nơi thợ làm việc trong điện Thái Hòa, bảo viên đổng lý Lê Văn Đức rằng: “Dùng gạch nát làm móng tường cửa Ngọ môn, nên giữ lại những viên gạch lành để xây thềm. Chỉ làm thêm một cửa cung lớn để các quan ra vào triều yết, ngoài ra đều nhân cái cũ mà sửa chữa lại”. Bộ Công xin đem nhiều gỗ mục trong kho chứa củi ra làm củi nấu. Vua truyền lệnh kiểm soát lại, xem có những gỗ nào còn dùng được, để tùy việc đem dùng. Giao những gỗ mục cho Thủy quân phủ Thừa Thiên dùng làm củi nung gạch ngói, để bớt uổng phí.


Minh Mạng lại hạ lệnh trong ba tiết lớn Vạn thọ, Nguyên đán, Đoan dương, bãi bỏ lệ các quan trong kinh ngoài trấn cống hiến phẩm vật. Việc cống hiến những thổ sản địa phương như cam đường, mắm rươi... cũng được giảm bớt.


Nguồn: Vua Minh Mạng. Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học , 2006.








(1)          Nước xuân sóng lặng mù sắc khói,



             Gió sớm thuyền xuôi động tiếng chèo.


             Sương chưa khô, thấm khắp những cây trên bờ sông,


             Hoa rừng còn lưu luyến kết chặt với đá vân mẫu.




(1) Cùng về một chỗ nhưng đường khác nhau




(2) Tức trực giác




(3) Tc năm cm quan.




(4) Đối tượng ca năm cm quan.




(1) Giới sát: răn cấm việc sát sinh




(2) Bát Nghị: 1. Nghị thân (người thân của vua); 2. Nghị cố (người bầy tôi cũ của vua); 3. Nghị hiền (người có đức hạnh lớn); 4. Nghị năng (người có tài năng sự nghiệp); 5. Nghị công (người có công lao lớn); 6. Nghị quý (quan có phẩm trật từ tam phẩm trở lên); 7. Nghị cần (người siêng năng trong chức vụ); 5. Nghị tân (người nối dõi đời trước làm tân khách cho vua).




(1) Sát nhất nhân vạn nhân cụ: Giết một người để muôn người sợ mà tránh.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 19.06.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 27.05.2017
Evghenhi Ônheghin - ALEKSANDR Sergeyevich Pushkin 15.05.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 11.05.2017
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 08.05.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 05.05.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
xem thêm »