tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20525897
Tiểu thuyết
20.04.2009
Hoài Anh
Vua Minh Mạng

12. Nhân dịp lễ Tứ tuần đại khánh của Minh Mạng, triều đình tổ chức một trận đấu giữa voi và cọp ở bờ bắc sông Hương. Nhà vua ngồi trên thuyền rồng đậu gần bờ để xem.


Con cọp đã bị tước bỏ nanh vuốt và cột chặt vào một cái cọc rất kiên cố trước khi đấu với voi. Nhưng khi đang đấu, con mãnh thú mạnh và dữ quá cho nên bứt được sợi dây, nhảy xuống sông và bơi về phía chiếc thuyền rồng. Mọi người hoảng hốt. Không có vũ khí trong tay, chính vua Minh Mạng phải dùng một cái sào để đẩy lùi con vật. Cuối cùng mấy người lính tượng dịch nhảy xuống một chiếc thuyền nhỏ chèo lại gần con cọp và giết chết nó giữa dòng sông.


Thấy tổ chức các trận đấu giữa bãi đất trống như vậy là quá nguy hiểm đối với tính mạng của người xem, cho nên ngay vào đầu năm sau, Minh Mạng đã xây Hổ quyền ở gần đồi Long Thọ, gần Long Châu Điện thường gọi là đền Voi Ré, nơi Gia Long cho xây để thờ con voi từng chiến đấu có công trên trận mạc.


Trường đấu Hổ Quyền là một công trình kiến trúc không có mái che, đồ sộ kiên cố, được xây dựng như một thành trì.


Trường đấu gồm hai vòng tường thành hình tròn đồng tâm, xây bằng gạch vồ, ngoài trát vôi vữa. Khoảng giữa hai vòng tường được đắp ngang chiều cao của vòng tường ngoài, tạo thành con đường đất chạy vòng tròn ở phía đấu trường.


Từ dưới chân có thể đi lên trên mặt con đường đất này bằng hai cầu - thang. Cầu thang thứ nhất với 20 bậc dành cho vua và hoàng gia dẫn lên khán đài là một khu đất hình chữ nhật, đắp cao 1 thướ 5 so với mặt đường đất. Từ trên khán đài nhìn xuống người ta thấy khu lòng chảo của trường đấu. Đứng từ khán đài nhìn quanh quang cảnh khá hùng vĩ. Cầu thang thứ hai dành cho lính có 15 cấp bậc dẫn lên con đường đất. Từ đó có thể đi đến khán đài của vua. Ở khoảng giữa hai cầu thang là một lối vào lớn, dành cho voi đi vào trường đấu, có một cửa vòm lớn. Con đường chạy bên trên cửa vòm này được thu hẹp lài bằng một chiếc cầu nhỏ bắc qua vòm cửa. Dưới đó là một bộ cửa gỗ lớn, có hai cánh mà các bản lề bằng đá.


Khán đài - vua ngồi theo nguyên tắc của Dịch học, quay mặt về hướng nam, xây cao hơn khán đài bình thường, chạy quanh đấu trường. Ở khán đài danh dự ấy, thân Hổ Quyền được xây nới rộng ra về bề dầy.


Đối diện với khán đài của vua ở đầu bên kia đấu trường là 5 cái chuồng dành cho hổ và báo, trên có mái nhà để cha mưa nắng. Mỗi chuồng có một cửa trổ ở phía tường trong một cửa ở phía tường ngoài Hổ Quyền. Cửa ở tường ngoài, sau bị xây bít thành ra cái cửa sổ. Trong mỗi chuồng đều có xây máng để bỏ thức ăn cho cọp. Các cánh cửa gỗ có khung cửa bằng đá được đóng mở bằng cách kéo thả dây từ trên xuống. Ba chuồng ở giữa hình chữ nhật, hai chuồng ở hai đầu to hơn, cũng hình chữ nhật. Phía trên cái chuồng ở chính giữa có một tấm biển bằng đá chạm hai chữ hán: “Hổ Quyền”.


Quanh đỉnh tường ngoài, xây một hệ thống lan can bằng gạch chồng mí lên nhau, chừa lỗ trống ở giữa các viên. Kiểu xây này tạo sự thông thoáng, nhẹ nhàng, dễ coi. Quanh mí trên có tường ngoài đấu trường còn xây 22 miệng ống xối hình đầu cá để cho nước mưa từ trên mặt con đường vòng tròn chảy xuống đổ ra ngoài Hổ Quyền.


Hôm khánh thành Hổ Quyền, Minh Mạng tổ chức một trận đấu giữa voi và cọp. Một con cọp lớn được thả từ chuồng ra khí thế rất dữ tợn. Từ cửa voi vào, một con voi hiên ngang bước vào đấu trường, đi qua đi lại trước mắt con cọp không một chút sợ sệt.


Đang ngồi xem, Minh Mạng khen: “Con này can đảm lắm”. Nhà vua vừa nói xong thì cọp nhảy phóc lên bấu vào trán voi. Voi hất mạnh, con cọp rớt xuống. Con cọp lại nhảy lên bấu vào chỗ cũ và giữ nguyên được vị trí. Voi tức giận rống lên một tiếng thật to trong khi chạy vụt tới phía trước, đè cọp vào thành Hổ Quyền, dồn tất cả sức mạnh ngàn cân vào đầu để vừa húc vừa ép cọp thật sát. Khi voi ngẩng đầu lên thì cọp rơi xuống đất. Nó bị voi chà nát.


Khi xem đấu, nhìn voi, Minh Mạng nghĩ voi được huấn luyện thuần thục, để cho người cưỡi và chở đồ, lại có khi xông pha trận mạc giúp người lập chiến công, chẳng khác gì người vệ sĩ mang sức mạnh vô địch ra bảo vệ vương quyền. Còn cọp là ác thú của rừng xanh, luôn đi tàn hại sinh mạng và phá hoại mùa màng, giống như những kẻ chống đối lại chế độ đương thời, cần phải bị tiêu diệt. Trong các trận đấu ở Hổ Quyền, voi giết chết cọp phải là một vấn đề tiên quyết. Cuộc đấu chiến phải kéo dài cho đến khi cọp chết mới thôi.


Khi cọp chết, các quan Nội các Hà Quyền, Hoàng Quýnh đều quỳ xuống chúc mừng vua. Họ nhìn thấy nét mặt Minh Mạng hớn hở như một đấu sĩ vừa chiến thắng.


*


Sau khi đôn đốc việc củng cố lại Kinh Thành và Trấn Bình Đài, Khâm sai chưởng cơ Học lễ hầu Trần Văn Học đang ngồi vẽ bức bản đồ nước Đại Nam theo lệnh của Minh Mạng. Tuy tuổi già sức yếu, gân mỏi tay run ông vẫn cố sao vẽ cho được tỉ mỉ, chính xác. Phép vẽ bản đồ ông học được từ khi sang Pháp. Năm Bính Ngọ (1786) Học đã đáp chiếc tàu của tổng trấn thành Pondichéri Ấn Độ theo Bá Đa Lộc sang Pháp cầu viện. Khi đáp chiếc tàu Pháp trở về, gặp gió dạt sang Lữ Tống(1), hơn một năm mới về đến Gia Định. Từ đó Học ở lại theo hầu Nguyễn Ánh, cùng viên thông ngôn người Pháp và Victor Ollivier (tục gọi ông Tín) phiên dịch chữ Pháp, và chế tạo các loại hỏa xa, chấn địa lôi, binh khí.


Năm Canh Tuất (1800) đắp thành Gia Định, Học nêu đo phận đất và các ngả đường, rồi cùng bọn Vannier (tên Việt Nguyễn Văn Chấn) trông coi chiếc tàu lớn bọc đồng, theo quân Nguyễn đi đánh Tây Sơn.


Năm Gia Long thứ 2 (1803) Học được thăng Cai cơ, lại thăng Giám thành sứ Khâm sai Chưởng cơ.


Năm Minh Mạng thứ 2 (1821), vua sai Học đến các trấn ở Gia Định và địa giới nước Chân Lạp vẽ địa đồ núi sông đường sá đem dâng. Sau đó vua lại sai Học vẽ bản đồ toàn cõi nước ta. Học muốn rằng bức bản đồ này sẽ là kỷ niệm cuối cùng ông lưu lại cho đời sau.


Quan tượng đài là một hình khối gần vuông, mỗi bề khoảng 30 thước ta. Từ phía trong thành, người ta xây một con đường dài để đi lên đài. Trên đài có một ngôi nàh bát giác làm theo dạng cổ lầu. Đây là nơi làm việc của Khâm Thiên giám, một cơ quan chuyên trách về công tác xem thiên văn, dự báo thời tiết coi ngày và làm lịch cho triều đình. Đứng đầu Khâm Thiên giám là Nguyễn Hữu Thận.


Trước đây, nước ta tham khảo lịch Đại Thống của nhà Minh để soạn lịch Vạn Toàn. Lịch đó không còn phù hợp với chu kỳ của trời đất và thời tiết. Năm Gia Long thứ 7 (1802) khi được cử làm Chánh sứ một phái bộ tuế cống sang nhà Thanh, Nguyễn Hữu Thận đã tìm được bộ sách Lịch tượng khảo thành. Lịch đó tham khảo phép lịch của phương Tây nên chính xác hơn và phép đổi Tam tuyến bát giác(1) rất kỳ diệu. Sau khi về nước, ông đã tâu xin Gia Long cho làm lịch Hiệp Kỷ thay cho lịch Vạn Toàn. Lịch Hiệp kỷ biên soạn dưới sự hướng dẫn của Nguyễn Hữu Thận, so với lịch dùng trước đó, là cả một sự cải tiến về nội dung. Những ngày tiết được báo chính xác hơn, đáp ứng mục đích giúp cho nông dân cày cấy kịp thời vụ. Lịch được bắt đầu dùng từ năm Quý Dậu (1813). Năm Ất Hợi (1815) trong khi luận về thiên Vượng, Gia Long quyết định ngày mồng một nào có nhật thực thì bãi lệ triều hạ và yến hưởng. Ông đã báo cáo trước hai năm nữa, tháng 4 và tháng 10 đều sẽ có nhật thực. Ông đã tính đúng. Ngày 1 tháng 4 năm Đinh Sửu (16.5.1817) nhật thực xảy ra. Lúc này ông đã rời khỏi chức phó quản lý Khâm thiên giám sự vụ để ra làm Hộ tào ở Bắc Thành.


Năm Canh Thìn (1820), Minh Mạng lên ngôi, ông được cử làm thượng thư bộ Hộ và hai năm sau, lần đầu được kiệm quản Khâm thiên giám chủ nhiệm sách Vạn Niên thư theo cách thức triều Thanh. Ông tâu xin định tiết khí thời hậu ở kinh đô Phú Xuân, Gia Định và Bắc Thành, theo kinh độ ở địa lý mà tính giờ mọc lặn của mặt trời và đêm dài ngắn, theo độ cao của bắc cực của địa điểm mà tính vĩ độ. Đến khi hưu trí, ông đã hoàn thành bộ sách Ý Trai toán pháp nhất đắc lục, một công trình nghiên cứu về toán học xuất sắc.


Hồi nhỏ có lần Minh Mạng đã đến xưởng thủy quân thăm cha. Ông đang ngồi giữa một đám hợ mộc đóng tàu, thợ nhém thuyền, thợ rèn, với đất thô, dầu nhớt, nhựa nhém và mọi thứ cần dùng trong tàu như gỗ, đinh, dây cột thuyền, đại bác, thuốc súng, đạn lớn. Hàng ngàn người làm việc hết sức hăng hái dưới mắt ông, ông chú ý tới mọi việc, điều khiển tất cả và co khi cẩn thận chỉ bảo cho cả kích thước. Ông chỉ dùng toàn thợ gốc Đàng Trong mà đã có thể đóng tàu theo kiểu Âu Tây. Bắt đầu, ông cho tháo rời từng mảnh một chiếc tàu cũ đã mua được. Ông cho lắp lại theo đồ hình cũ nhưng khéo tới mức tàu đẹp hơn trước. Đóng xong chiếc tàu mới, ông lại đóng thêm ba chiếc nữa, ông hoàn tất công việc rất mau lẹ, không quá ba tháng đã hoàn thành. Ông thường lưu tại công xưởng suốt ngày, điều khiển bá quan đã được cắt đặt mỗi người giữ một nhiệm sở và một phận sự. Làm việc cho tới giờ ăn, ông cùng bá quan ngồi ăn đồng bàn. Tàu Trần châu trên đặt 26 khẩu đại bác và trên 300 thủy thủ được hạ thủy, do chính ông điều khiển thành thạo chẳng kém gì Chaigneau và De Forçans.


Noi gương cha, Minh Mạng cũng rất quan tâm đến vấn đề khoa học kỹ thuật. Một lần Philippe Vannier dâng vua hai thước đồng Thái Tây, tên là Đồng Nhật Khuy, chưa ai biết được phép dùng thế nào. Minh Mạng thường khảo sát, tìm tòi sử dụng. Khi đã hiểu được cách dùng, mới bảo thị thần là Phan Huy Thực và Nguyễn Duy Bi rằng:


- Thước đồng này bằng, nghiêng, cao, thấp phân biệt độ số, gần thời đo được núi non, xa thời xem được trời đất, phép tài lắm.


Rồi gọi các quan bộ Công đến, chỉ bảo rõ ràng, khiến tự suy nghiệm.


Minh Mạng lại sai sở Vũ khố chế tạo tàu máy chạy hơi nước. Khi chế xong, đem xe chở ra sông, giữa đường vỡ nồi nước, máy không chạy. Minh Mạng biết tin, ra lệnh xiềng người đốc công, các quan hộ Công là Nguyễn Trung Mậu, Ngô Trung Lân vì cớ tâu không thật bị vua tống ngục. Khi tàu chế tạo lại, Minh Mạng thân ra cầu Bến Ngự, xem thí nghiệm. Thấy các máy vận động nhanh, thả xuống nước chạy mau, vua ban thưởng giám đốc là Hoàng Văn Lịch, Vũ Huy Trinh mỗi người một cái nhẫn pha lê mạ vàng, một đồng tiền vàng Phi Long hạng lớn, đốc công và binh tướng được thưởng chung 1000 quan tiền. Vua nói:


- Tàu này mua bên Tây cũng được, nhưng muốn cho thợ thuyền nước ta tập quen máy móc cho khéo, vậy nên chẳng kể tốn phí gì.


Khi được tin báo đã chế xong loại xe máy dùng để cưa ván, bắt chước theo cách Tây, Minh Mạng đến xem, ban thưởng cho người chế tạo.


Ngay từ những năm đầu lên ngôi, Minh Mạng đã sai người tìm hiểu cách đóng tàu của châu Âu và quyết tâm làm cho người Việt tự đóng được tàu theo kiểu Tây Âu và biết lái tàu vượt đại dương, các quy chế luyện tập thủy quân, khảo sát vị trí bờ biển, hải cảng cũng được chú ý. Hàng năm, nhà vua thường phái nhiều tàu vượt biển sang các nước và các cảng lớn vùng biển Đông như Jakarta, Singapore, Malaisia... để bán hàng, mua hàng, luyện tập đi biển và xem xét tình hình các nước.


*


Thành Thăng Long năm Gia Long thứ tư (1805) được xây lại theo kiểu Vauban, chu vi 432 trượng, cao 1 trượng, 1 thước 2 tấc, hào rộng 9 trượng, mỗi hướng một cửa, riêng phía nam có hai cửa. Ngoài mỗi cửa có một mảnh thành nhỏ gọi là dương mã thành, để giữ cửa.


Trong nội thành có hành cung chánh điện, hai tòa có tả vu hữu vu; mặt sau có ba tòa điện, hai bên có tả vu hữu vu. Sau điện có Tĩnh bắc lâu, bốn bề có xây thành gạch; trước chánh điện (là Kính thiên điện), sân xây đá Thanh, có cấp đá rồng lên 9 cấp mà lên điện. Trong thành có dinh tổng trấn, có các tào thay mặt 6 bộ, có kho, có võ miếu, đàn xã, đằn tắc để tế trời đất, nền tịch điền để làm lễ động thổ đầu năm, có nhà ngục và nơi pháp trường gọi là trường hình. Ra ngoài có Ngũ môn lâu, đề chữ Đoan môn từ đời Lý để dấu tích lại. Ngoài nữa có cột cờ xây đá gạch, trong ruột xây khu ốc lên thẳng tới trên chót vót. Đỉnh cột cờ là một cái đài nhỏ, quanh có bao lan. Ngoài cột cờ là hồ Voi.


Mỗi cửa thành đều có lính đóng, ngoài cửa nam có Đình ngang cấm chỉ, chỉ rõ phạm vi cảnh giới. Ngoài thành là các doanh trại quân đội. Rồi đến các phố phường, có đồn Thủy, một bên là sông Cái, một bên là hồ Hữu vọng, tức là hồ Thủy quân. Lại có Tràng tiền, đúc tiền kẽm tiền đồng.


Vòng thành ngoài có 16 cửa ô là: Kim hoa, An tự, Thanh lãn, Nhân hòa, Tây long, Đông an, Mỹ lộc, Trừng thanh, Đông hà, Phúc lâm, Thạch khối, An tĩnh, An hòa, Tây hồ, Vạn bảo, Kim mã, Thịnh quang.


Nội thành có 36 phố phường. Mỗi phố thường là một phường, nhưng cũng có những phố có nhiều phường, ví dụ Hàng đào là phường Đại lợi, nhưng Hàng gai, một đầu là phường Đông hà, một đầu là phường Cổ vũ.


Vào tháng hai, đến kỳ kiểm duyệt, Tổng trấn Bắc thành Lê Chất cùng các quan đầu thành lên ngồi đỉnh núi Khán sơn, xem quân binh vừa diễu vừa reo hò.


Binh lính, y phục của mỗi cơ một khác. Có thứ tay dài, có thứ tay cụt, màu sắc hoặc đỏ xanh, hồng, trắng hay tím. Chung quanh có viền nhiều màu sắc khác nhau. Nếu là áo tay dài thì tay áo màu sắc khác với thân áo nhưng cổ áo lại một màu với viền áo. Trên ngực hay giữa lưng có tấm vải tròn bằng cái đĩa viết mấy chữ tên cơ. Quần trắng dài ngang nửa ống chân, đầu chít một cái khăn đen bao trùm lấy mái tóc. Trên cả là chiếc nón con con sơn đỏ với một cái ngù kết bằng lông đỏ, dải cột thắt gút bỏ ra đằng sau. Đội quản mặc áo chỉ một màu, có khi bằng nỉ, có khi bằng nhung, tay cầm một chiếc roi tượng trưng cho uy quyền của mình.


Thấy đoàn lính, người mang một cái gươm, tay ầm một khẩu súng hỏa mai, bên hông treo một cái hộp gỗ dùng đựng thuốc súng, người mang mác lào, chùy đồng, khiên mộc, hùng dũng diễu qua khán đài, Lê Chất có vẻ đắc ý, thầm nghĩ: Việc mà Đặng Trần Thường, Nguyễn Văn Thành chưa kịp làm thì đã mắc cái vạ diệt tộc, Lê Chất này sẽ làm, để sau khỏi phải ân hận.


Lê Chất nhớ đến câu trong bài Tần cung nữ oán Bái công văn, Đặng Trần Thường lâm khí bị giam trong ngục: “Nào thuở núp rừng cây nghe nhạc ngựa, thấp thoáng bóng dù dáng kiệu, những than thầm: chỉ cả trượng phu; Đến bây giờ ngồi lầu ngọc ngấm tranh người, xôn xao trên nệm dưới màn lại lẩn sỉnh ngôi say hoàng đế”. Lúc sắp kề dây thắt cổ như Thường mới biết hối thì đã muộn!


Sau khi về Bắc Thành, Lê Chất vẫn không ngừng tự tạo thế lực riêng của mình để khi cần đối phó với triều đình.


Tháng 4 năm Minh Mạng thứ 5, Thanh Nghệ 2 trấn dân đói, giặc cướp nổi lên, Chất lĩnh 4 vệ lính đi kinh lược. Chất đến nơi, tha các tù phạm, chiêu dụ trộm cướp và những lính các cơ Thanh Thuận, An Thuận đi thú Gia định trốn về, và mộ dân ngoại tịch lập làmThanh Thuận nhất, nhị cơ, An Thuận nhất, nhị cơ. Lại sai quản phủ Diễn Châu Chu Văn Quế, tri huyện Hương Sơn Phan Nhất Thạch mộ lập Thuận An tứ, Thuận An ngũ 2 cơ, xin đều cấp lương tháng chia phái đi đóng đồn giữ và cho theo sai phái.


Minh Mạng nói rằng trong đám tù phạm cũng có đứa quen thói cố phạm, cũng có đứa bị hiếp theo, bị vu khác nhau, cũng nên phân biệt nặng nhẹ để làm rõ pháp điển. Nhưng nay đã bổ sung vào binh ngũ rồi tạm cho theo lời xin ấy.


Vua lại sai Chất đem quân về Bắc Thành chỉ để 2 vệ chia đóng thú ở Thanh Nghệ.


Chất về đến Bắc Thành, tâu rằng: “Lính mới mộ được 20.000 người, dồn thành hơn 300 đội, xin đặt làm Tĩnh Bắc, Định Bắc, An Bắc hơn 20 cơ, lưu ở thành sai phái. Lại điều bổ vào số lính thiếu của Ngũ quân Ngũ kích và phân phối trú phòng các ngoại trấn”.


Minh Mạng e ngại Chất dùng số quân to lớn ấy để làm vây cánh cho mình nhưng tình hình lúc bấy giờ Bắc Kỳ đang có giặc giã, nên đành chấp nhận lời xin của Chất.


Minh Mạng nhớ đến câu “Vĩ đại chi hoạn” trong sách Tả truyện: “Ngọn to thì khó quẫy, cái đuôi lớn thì quẫy không được”. Nếu các địa phương càng ngày càng lớn mạnh hơn về thế lực thì chính quyền trung ương không thể nào chếngự nổi. Sự lo lắng này không phải là quá lo xa, mà đã có nhiều tấm gương tầy liếp trong lịch sử. Nói đâu xa, ngay như triều Tây Sơn vừa rồi, Nguyễn Nhạc chia đất làm 3 phần, tự mình cai trị ở giữa, Tới khi Nguyễn Huệ bành trướng thế lực suốt một dải Bắc Hà thì Nguyễn Nhạc cũng không kiềm chế nổi, thậm chí Nguyễn Huệ còn đem quân vây thành Hoàng đế của Nguyễn Nhạc. Một bài học lịch sử nữa là việc Trịnh Kiểm tính sai nước cờ nên mới để cho Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Quảng, để Nguyễn Hoàng dần dần phát triển thế lực, chống lại họ Trịnh và tạo nên móng lập nên vương triều Nguyễn sau này.


Việc cải cách võ bị là một đòn đánh mạnh vào quyền lực của Tổng trấn Bắc Thành. Trước đây Lê Chất coi quân ở 11 trấn Bắc thành như quân bản bộ của mình. Các người cai quản quân đội ở các trấn đều do Lê Chất tự ý bổ nhiệm. Nay theo điều lệ mới, người cai quản quân đội ở các trấn muốn bổ nhiệm phải được Bộ binh duyệt y. Đấy là nói về cơ binh ở các trấn, còn kinh binh ở Kinh Thành thì bất cứ lúc nào cũng có thể được sai đi đóng giữ ở các trấn. Như vậy dù Lê Chất có muốn đem quân ở Bắc Thành ra chống với triều đình, triều đình vẫn có thể phái kinh binh cũng như cơ binh ở các trấn từ Bình Thuận trở ra đàn áp.


(còn tiếp)


Nguồn: Vua Minh Mạng. Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học , 2006.


 


 







(1) Tc Luçon.




(1) Tc là lượng giác (Trigonométrie).



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
xem thêm »