tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20524737
Tiểu thuyết
18.04.2009
Hoài Anh
Vua Minh Mạng

Sau khi viên lãnh binh phất cờ ra lệnh, quân lính kéo đến Tượng đồn để khiêu chiến. Viên quan trong đồn này đánh lên ba tiếng trống, lính liền nhảy lên lưng voi, phất cờ ứng chiến. Voi kéo ra khỏi đồn, bọn lính giả làm quân địch reo hò ầm ỳ, vừa chiến đấu vừa chạy về đồn. Đoàn voi, dưới sự điều khiển của những viên quản tượng, đuổi theo, sau lưng lại có lính cầm khí giới thúc giục, voi gặp những hình nhân liền lấy chân chà, lấy ngà tung lên, đoạn xông thẳng vào đồn. Quân lính trong đồn giả vờ chống cự, bắn súng chỉ thiên, đốt pháo, nhưng rồi lần lượt kéo nhau chạy. Voi phá xong, đồn thứ nhất, kéo qua hai đồn kia và lúc nào cả ba đồn đều bị phá tan tành thì cuộc thao diễn chấm dứt.


Xem xong, vua nói với mọi người:


- Trẫm xem quân của nhà Thanh, quá nửa là quân Hương dũng, còn những người vào ngạch lính không có mấy. Các nước bên Tây dương chỉ quân nước Anh-cát-lợi là rất mạnh, mà số quân không quá năm sáu vạn. Quân lính cốt ở tinh nhuệ, chứ không cốt ở số nhiều. Các ngươi nên dốc lòng huấn luyện, sao cho quân không người nào không mạnh, nghề không nghề gì không tinh, đừng nên trễ nải.


Ngừng một lát, vua lại nói:


- Việc binh có thể là trăm năm không dùng đến, nhưng không thể một ngày mà không dự bị. Từ nay về sau phàm những đồ quân hỏa như súng đan, gươm giáo, có cái nào hư hại, thì cứ 5 năm một lần sửa bổ, nếu còn trong hạn mà đã hư hại, hay ra ngoài hạn mà bị mất mát, thì quan đại thần sai quản việc ấy, cứ thực tâu lên, theo phân biệt mà nghĩ xử.


Vua khiến đình thần họp bàn phép giảng võ luyện binh. Quần thần bàn rằng:


- Nay quân sẵn nhiều rồi, chỉ vì dạy chưa được tinh, giảng chưa được rõ. Muốn dự phòng trước khi hữu sự, thì có 8 điều: Một là xét lại những người quản suất. Mai là thôi thúc bắt giải những kẻ lính trốn. Ba là huấn luyện quân sĩ. Bốn là diễn tập cách cầm giáo, cưỡi voi. Năm là sửa chữa đồ binh khí. Sáu là chuẩn bị đồ quân nhu. Bảy là cấm đoán những mối tệ đoan. Tám là nghiêm xét người siêng năng lười biếng. Đều trách cứ vào các quan sở tại. Lại bất thần từ Kinh phái quân đi phúc duyệt, định lệ thưởng phạt, như vậy thì người đều gắng sức, quân đều tinh nhuệ, có thể ngoài ngăn giặc cướp, trong giữ dân gian được vậy.


Vua khen là phải.


*


Khi Lê Văn Duyệt có việc về kinh thì phó Tổng trấn Huỳnh Công Lý được Minh Mạng cử giữ chức quyển Tổng trấn Gia Định thành. Trước đó, Lý được vua phong làm Lý Chính Hầu, và được cử làm phó Tổng trấn Gia Định thành với nhiệm vụ dò xét những hoạt động của Lê Văn Duyệt ở miền Nam. Cậy thế vua, Lý thường làm càn. Tuy vắng mặt ở Gia Định, nhưng Duyệt vẫn có tâm phúc thường cho tin tức trong trấn. Hồi đó, Lý phụng mệnh đốc suất đào một con sông nối liền Tân An và Mỹ Tho. Công việc trải mấy năm nay vẫn còn tiếp tục chưa hết. Số dân phu dùng kể hàng mấy vạn. Lý thừa dịp để sách nhiễu, bắt phu rất nhiều.


Lạ gì cái nạn “bắt phu” ở xứ mình thuở xưa, dùi đánh đục, đục đánh xăng, chỉ khổ bọn dân đen mà quan nha Lý dịch thì nhân cơ hội ấy để tác oai thủ lợi. Hồi có mặt ông Duyệt tại trấn, Lý phải kiêng sợ ông là người liêm chánh, không dám thò ra ngón gì nhũng lạm, hà hiếp dân. Nay được dịp tung hoành một mình, chẳng lo bị ai kiềm chế, lại còn thêm cái oai quyền Tổng trấn của ông Duyệt để lại cho, Lý tha hồ tác oai tác phước, sách nhiễu hối lộ tứ xung. Xã nào chậm trễ hay là thiếu số dân phu đưa ra đào sông, kẻ có trách nhiệm bị cùm kẹp đánh khảo, chừng nào ngọn roi lòi bạc nén mới thôi. Lý lại lấy cớ làm việc công ích, bắt buộc các nhà giàu ở Lục tỉnh quyên nạp tiền bạc vô số, những người ấy biết chắc mười phần chui vào túi tham đến chín. Lại còn những nhà nào không có con em đi phu, Lý hoạnh họe bắt chuộc tiền là đằng khác. Tình tệ có vạn trạng thiên hình, kể ra không xiết.


Ấy là thủ đoạn làm tiền bằng cách bổ bán ngôi thứ, còn chưa nói đến.


Lý dám công nhiên tác tệ như thế chẳng những vì lẽ ỷ mình làm quan to đầu trấn, lại còn cậy thế trong nhiều có bè đảng vây cánh đông, tất không ai có thể kẻ vạch hay làm gì mình được. Chỗ Lý tự tin tự thị hơn hết là có con gái nhan sắc ở trong hậu cung, được vua Minh Mạng sủng ái. Một người có con được làm phi tần tức là một thế lực mạnh như sắt, lớn như trời, ai dám động đến.


Hơn nữa, Lý chắc mẩm thế nào ngôi Tổng trấn thực thụ cũng về mình chỉ trong sớm tối. Vì có tai mắt của Lý nằm trong triều đã bí mật thông tin cho ông ta biết rằng: chuyến này Lê Văn Duyệt về kinh tức là đem thân vào vòng cạm bẫy, sắp đi theo chân Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường, chứ đừng mong trở về Gia Định nữa. Rồi quan Gia Định thành Tổng trấn sẽ là Huỳnh Công Lý, trong triều đã dự định thế rồi.


Thành ra Lý càng đắc thế làm già, vượt cả ra ngoài đạo công phép nước, chẳng sợ gì cả.


Có biết đâu Duyệt ở kinh đã tiếp được nhiều đơn khiếu nại, nhiều thư tố giác mọi việc Lý lạm quyền nhiễu dân; ông cứ lẳng lặng cất đầy một tráp, rồi vội vã thu xếp vào Nam.


Lúc vào bái biệt nhà vua, ông tâu “có việc khẩn cấp phải xin về ngay, để chỉnh đốn trật tự”.


Ông đi suốt ngày đêm, về Gia Định một cách thình lình, Huỳnh Công Lý không ngờ.


Đơn thưa kiện lại bay thêm đến công đường Tổng trấn như bươm bướm.


Ngoài tệ sách nhiễu, Lý còn phạm một tội mà Hình luật Hoàng triều phạt rất nặng, đó là tội xâm phạm phần mộ. Vì Lý muốn xây mộ phần cha cho lớn, nên sai khai quật và hủy các mộ kế bên, cho dời đi nơi khác. Trong các mộ ấy có mộ của một viên Đội trưởng, trước vì theo giúp Gia Long mà chết, thi thể mai táng ở cạnh mộ cha Lý.


Lý liền bị hạ ngục để xét xử.


Chiếu theo luật hình ban bố năm Gia Long thứ 14, Lý bị kết án trảm quyết, vì những việc gian tham hối lộ có tang chứng rõ ràng.


Duyệt thi hành chức quyền của nhà vua ủy thác, truyền lệnh đem phạm nhân ra giữa chợ xử chém, cốt để treo gương cho quan lại thấy mà răn sợ, luôn dịp bày tỏ cho dân chúng biết rằng phép vua luật nước chí công, chẳng bao giờ dung thứ một kẻ có tội, dù làm quan lớn đến đâu cũng thế.


Hôm hành hình, thiên hạ kéo đi xem như đám hội. Nhiều người ở các làng các trấn đến, cơm hàng cháo chợ, cho được xem thấy cái giờ khắc chính pháp một tên tham quan. Ai nấy đều lấy làm thống khoái, bảo nhau:


- Con một dân, thế cho đáng kiếp!


Độ một tuần trước ngày chém Huỳnh Công Lý, Duyệt làm sớ tấu về kinh cho vua biết, mặc dầu ông có quyền “tiền trảm hậu tấu”.


Nàng ái cơ Huỳnh Thị Liễu hay tin, khóc lóc vật vã, xin vua làm sao cứu giùm cha nàng, không thì nàng nhảy xuống hồ Tịnh Tâm.


Vua Minh Mạng thừa biết tính khí Duyệt nóng nảy nghiêm khắc, nếu để chậm trễ ngày giờ thì tính mạng Huỳnh Công Lý không còn, ông lập tức sai mấy người chạy ngựa lưu tinh, bất phân nhật dạ, đem dụ chỉ tới Gia Đinh bảo phải hoãn cuộc hành hình và cho giải Huỳnh Công Lý ra kinh phúc thẩm. Đồng thời trong dụ chỉ lại có những lời ban khen ông Duyệt, nào công bằng chính trực, nào vì nước vì dân, để cho ông được vui lòng.


Đó chẳng qua là mưu để cứu bố vợ, nhưng khi dụ chỉ tới thì Duyệt đã cho chém Lý, muối thủ cấp bỏ vào thùng, niêm phong kỹ, trên có dán mấy chữ: “Phụng thừa Thánh chỉ, xử trảm tội nhân”.


Nhận được thùng thủ cấp của Lý, Minh Mạng rất căm giận, cho vời Trịnh Hoài Đức vào bàn bạc. Minh Mạng nói:


- Duyệt xử tử Lý là cốt để dằn mặt ta, không coi ta vào đâu. Theo ý khanh, ta nên xử trí như thế nào?


Được Minh Mạng đem chuyện này ra hỏi, Trịnh Hoài Đức vô cùng khó xử. Cứ kể ra ông và Lê Văn Duyệt cũng có mối hiềm riêng, Duyệt đã từng mắng ông là kẻ phùng nghinh, khi bạn thân của ông là Ngô Nhân Tĩnh làm Hiệp tổng trấn Gia Định, cùng Duyệt đi hộ tống quốc vương Chân Lạp là Nặc Ong Chăn về nước, đến khi trở về có người nói là Tĩnh nhận của cho riêng, Duyệt đem việc ấy tâu lên Gia Long khiến Tĩnh mắc nỗi oan không sao giãi tỏ được, buồn rầu sinh bệnh mà chết. Lúc này Đức muốn trả thù cho mình và cho bạn đúng là dễ như trở bàn tay. Nhưng Đức lại nghĩ Duyệt được dân chúng Gia Định tin yêu, người Xiêm sợ phục, chỉ có Duyệt mới đủ tài chế ngự Xiêm, vỗ yên Vạn Tượng(1) và Chân Lạp, nếu trị tội Duyệt lúc này không có lợi cho việc nước.


Nghĩ như vậy, Đức liền tâu:


- Tâu bệ hạ, theo ngu ý của thần, hiện nay ở miền Nam đang có mối lo về giặc Xiêm, mà Duyệt lại được vua Xiêm sợ phục, mỗi khi sứ bộ đi lại tất hỏi: Lê công có mạnh khỏe không? Mới đây sư Kế người Chân Lạp chống lại triều đình, vua Chân Lạp Nặc Ong Chăn phải bỏ chạy, nếu không có Duyệt đem quân đánh dẹp, thì thành Nam Vang đã lọt vào tay sư Kế rồi, đó là mối nguy cạnh nách đối với đất Gia Định. Ta để Duyệt lại trấn giữ Gia Định cũng là thâm ý chế phục người xa vậy.


Minh Mạng nghe lời Trịnh Hoài Đức, đành ngậm hờn, ẩn nhẫn để lòng. Khi quan bộ Hình tâu lên, theo luật Gia Long, thì con gái Lý vì cha mắc tội phải biếm vào lãnh cung, Minh Mạng tuy rất sủng ái nàng cũng đành gạt lệ dứt tình, y án.


Trịnh Hoài Đức vốn biết Minh Mạng có ý không bằng lòng mình, nên cáo bệnh xin nghỉ ở nhà dưỡng bệnh.


*


Trịnh Hoài Đức nhớ lại trước đây mình đã nói với Minh Mạng: “Hưng ư thi, lập ư lễ, thành ư nhạc”. Nay lễ đã đặt xong, còn phải tiếp tục định nhạc.


Muốn định được nhạc thì bản thân mình cũng phải biết nhạc. Sử ký chép, Khổng Tử năm 26 tuổi, sau khi hết tang mẹ mới bắt đầu học nhạc. Nhưng học đây mới là tự học, chưa có nhạc sư hướng dẫn. Năm ngày đầu, gảy đàn cầm mà không thành tiếng, mười ngày sau mới thành âm thanh dìu dặt. Lòng yêu nhạc âm ỉ mãi trong ba năm, đến năm 29 tuổi, ngày mới tìm đến Sư Tương Tử, một nhạc sư danh tiếng thời đó để xin học cổ cầm. Mười ngày đầu, ngài học không thấy tấn tới gì hết. Nhạc sư bảo:


- Có thể học thêm nữa!


Khổng Tử thưa:


- Khâu tôi đã thuộc được khúc đàn rồi, nhưng chưa nắm được kỹ thuật:


Nhạc sư lại dạy thêm một lúc nữa, rồi truyền:


- Kỹ thuật nắm được rồi có thể học thêm nữa!


Khổng tử học thêm một lúc lại thưa:


- Khâu tôi đã hiểu được tinh thần khúc nhạc…


Được một lúc, nhạc sư lại bảo:


- Đã hiểu được tinh thần khúc nhạc rồi, có thể học thêm nữa!


Lại học. Rồi ngài lại thưa:


- Khâu tôi chưa hiểu được người làm ra khúc nhạc như thế nào…


Nhạc sư bảo:


- Đó là người yên lặng, hòa nhã mà nghĩ sâu xa cũng có, ung dung ngóng cao mà chí để ở cõi xa cũng có!


Khổng Tử lắng nghe một lúc nữa, tập trung tất cả cảm quan vào khúc nhạc. Rồi ngài thưa:


- Khâu tôi đã hình dung được người làm ra khúc nhạc đó rồi! Phải chăng con người ấy đen đen, đẫy đà và cao lớn, mắt nhìn lên, lòng như gửi bốn phương, không phải vua Văn Vương còn ai như thế được nữa.


Sau khi tinh thông âm nhạc, có lần ngài nói với quan Thái sử (một chứa quan coi về nhạc, đứng đầu nhạc công) nước Lỗ rằng: “Nguyên tắc tấu nhạc không khó gì mà không thể biết được. Thoạt đầu dạo nhẹ nhàng cho ngũ âm và lục luật đều hiệp tụ lại. Lúc nhạc triển khai thì tiếng trong tiếng đục, tiếng thấp tiếng cao đều phải được điều hòa mà “cung” vẫn riêng “cung”, “thương” vẫn riêng “thương” không hề lẫn lộn, liên tiếp nhau không dứt đến khi khúc thành”.


Noi gương Khổng Tử, Trịnh Hoài Đức cũng mời một nhạc sư nổi tiếng ở Huế đến dạy ông đánh đàn kìm. Nắm vững âm luật, ông bắt đầu hợp tác với các nhạc sư, củng cố lại hai ban Đại nhạc và Tiểu nhạc, chỉnh lý lại những bản nhã nhạc của thự Hòa Thanh và thự Thanh Bình, quy định khúc nào tấu trong những lễ nào.


Khi dâng bản nhạc phổ lên vua, ông nói:


- Phu Tử dạy: Danh không chính thì lời không thuận, Lời không thuận thì việc không thành. Vịêc không thành lễ nhạc không chấn chỉnh được. Lễ nhạc không chấn chỉnh được ắt hình phạt không đúng. Hình phạt không đúng, dân còn biết đặt chân tay vào đâu?” Nhạc là làm cho hợp đồng, lễ là làm cho phân biệt. Hợp đồng thì tương thân, phân biệt thì tương kính. Dùng nhạc quá thì thành lưu đãng, dùng lễ quá thì thành ly cách. Thích hợp tính hình, trang sức dung mạo, đó là việc của lễ nhạc vậy.


Minh Mạng nghe theo, giao bản nhạc phổ cho các ban nhã nhạc luyện tập trình diễn trong các ngày đại lễ sắp tới.


Việc giúp triều đình như vậy là hoàn thành, ông lại lo việc sáng tác trứ thuật của mình. Từ khi hai bạn ông là Ngô Nhân Tĩnh, Lê Quang Định qua đời, ông nghĩ đời mình hết kẻ tri âm nên không làm thơ nữa. Ông liền tập hợp Cấn Trai thi tập của ông, Thập anh đường thi tập của Ngô Nhân Tĩnh và Hoa nguyên thi thảo của Lê Quang Định thành một tập, lấy tên là Gia Định tam gia thi tập, cho khắc ván in. Ông lại dồn hết tâm lực vào việc biên soạn bộ sách Gia Định thành thông chí ghi chép về lịch sử, thành quách, cương vực, vật sản, phong tục, tập quán của vùng đất Gia Định.


Bữa nay ông viết đến mục Phố Chợ Sài Gòn(1). Ngòi bút lông của ông đưa thoăn thoắt trên trang giấy:


“Cách trấn về phía nam 12 dặm ở hai bên tả hữu đường cái quan, là đường phố lớn, thẳng suốt 3 đường, giáp đến bến sông, một đường ngang ở giữa, một đường đi dọc theo sông. Các đường ấy đan xuyên nhau như chữ điền, phố xá liền mái nhau, người Việt và người Tàu ở chung lộn dài độ 3 dặm. Hàng hóa trong phố bày bán có: gấm, đoạn, đồ sứ, giấy má, châu báu trang sức, hàng sách vở, tiệm thuốc, tiệm trà, tiệm hủ tíu. Hai đầu nam bắc bên sông không gì là không có. Đầu phía bắc đường lớn của phố này có miếu Quan Đế và ba hội quán: Phúc Châu, Quảng Châu và Triều Châu chia đứng hai bên tả hữu, phía tây ở giữa đường lớn, có miếu Thiên Hậu, gần phía tây có hội quán Ôn Lăng, đầu phía nam đường phố lớn về phía tây có hội quán Chương Châu. Gặp ngày tốt, đêm trăng, như Tam nguyên, rằm, mùng một thi treo đèn đặt án, tranh đua kỹ xảo trông như là cây lửa, cầu sao, thành gấm, hội quỳnh, kèn trống huyên náo, nam nữ dập dìu, thật là một phố lớn nơi đô hội náo nhiệt. Trong đường phố lớn có cái giếng xưa, nước ngọt tràn trề, bốn mùa không cạn. Sông nhỏ chảy ngang phố có bắc cầu ván lớn, trên có hai dãy hành lang mái ngói, treo màn che nắng, đường đi râm mát như đi dưới mái nhà cao. Giữa phố về phía đông đường lớn có chợ Bình An bán đủ sản vật quý ở núi biển và thổ sản các nơi, ban đêm còn thắp đèn mua bán…”.


Phố Chợ Sài Gòn này chính là nơi đã chứng kiến cả một thời tuổi trẻ của ông, khi ông theo học xử sĩ Võ Trường Toản ở trường Hòa Hưng và lập Bạch Mai thị xã làm thơ xướng họa với các ban Ngô Nhân Tĩnh, Lê Quang Định, Hoàng Ngọc Uẩn, Diệp Minh Phụng... Ông viết địa chí mà tưởng như đang viết hồi ký về cuộc đời mình…


Trước đây khi ông viết sách luôn có người thiếp là Nguyễn Quế Cơ mài mực cho ông. Nhưng từ sau khi nàng từ Gia Định lên Huế sống với ông, cô lẽ vì không hợp thủy thổ xứ này nên nàng bị thương hàn rồi qua đời trong khi còn đang tuổi trẻ. Trong bài thơ viếng nàng, ông viết:


Triếp lân vị thoát tân thư thảo,


Hòa mặc y thùy bạn lão nho(1).


Chỉ cần cuốn sách viết xong là ông có thể yên lòng gác bút.


Sách viết xong không bao lâu thì Trịnh Hoài Đức mất, thọ 61 tuổi. Minh Mạng sai nghỉ triều ba ngày, ban cho sa, gấm, trừu, đoạn, tiền, gạo, dầu đèn, tặng hàm thiếu phó Cần chính điện đại học sĩ, cho tên thụy là Văn Khác, cho tế một đàn. Ngày đưa về chôn, sai hoàng tử Miên Hoành đến nhà khâm mạng, ban cho rượu, điển lệ cấp tuất rất hậu, các bề tôi không ai sánh kịp. Đám tang đến Gia Định, Tổng trấn Lê Văn Duyệt thận hành đi viếng, nói với người rằng: “Hiệp biện họ Trịnh là người đáng khen đời nay”. Có lẽ người tâm phúc của Duyệt ở kinh đã ngầm báo cho Duyệt về thái độ của Đức đối với Duyệt nên Duyệt mới tôn trọng Đức như vậy.


(còn tiếp)


Nguồn: Vua Minh Mạng. Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học , 2006.


 


 







(1) Tức Lào.




(1) Hồi đó tên Sài Gòn dùng để chỉ Chợ Lớn hiện nay, còn Sài Gòn hiện nay gọi là Bến Nghé.




(1) Dịch: Sách mới viết đã xong đâu, Lấy ai mài mực bạn bầu lão nho.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
xem thêm »