tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20782910
Tiểu thuyết
17.04.2009
Hoài Anh
Vua Minh Mạng

Những binh khí của mỗi vệ thì có hai khẩu súng thần công, 200 khẩu điểu thương và 21 ngọn cờ.


Cơ binh là lính riêng của từng trấn, cũng chia ra làm cơ, làm đội. Cơ thì có quản cơ, mà đội thì có suất đội cai quản.


Tượng quân chia ra thành đội, mỗi đội là 40 con voi. Số voi ở Kinh thành 150 con, ở Bắc thành 110 con, ở Gia Định thành 75 con, ở Quảng Nam 35 con, ở Bình Định 30 con, ở Nghệ An 21 con, ở Quảng Bình, Quảng Ngãi, Thanh Hóa mỗi nơi 15 con, Quảng Trị, Phú Yên, Bình Thuận, Ninh Bình mỗi nơi 7 con.


 Thủy quân có 15 vệ, chia ra làm 5 doanh mỗi doanh có quan chưởng vệ quản lĩnh, và có quan đô thống coi cả 3 doanh.


Đọc xong sớ tâu Minh Mạng thầm nghĩ. Trừ trước đến nay chia riêng hai ban văn võ, quả là không hợp lý. Quan văn như Trịnh Hoài Đức chẳng phải là rất am tường việc binh hay sao? Nguyễn Công Trứ xuất thân quan văn mà rất giỏi trận mạc. Mà trong số quan võ thì tại có nhiều người thất học không hiểu binh thư đồ trận. Vậy mà vẫn chê bai quan văn trói gà không chặt, thật là nực cười! Dân cũng còn có thói quen coi trọng quan văn hơn quan võ, cho rằng: Quan văn thất phẩm đã sang, quan võ tứ phẩm còn mang gươm hầu”. Có lẽ phải xóa bỏ sự cách biệt chia rẽ giữa bên văn bên võ để làm sao cho “văn võ nhất tâm, quân thần đồng đức”(1).


Minh Mạng chuẩn y sớ tâu cho thi hành. Vua lại có dụ truyền bảo các quan phải luyện tập binh mã để phòng khi hữu sự. Vua biết rằng nước ta ở dọc bờ biển, thủy binh là rất quan trọng cho sự phòng bị. Thường vua bắt quan đem binh thuyền ra để luyện tập.


Vua lập toán giáo dưỡng binh, để cho các quan võ, từ suất đội trở lên ai muốn tình nguyện vào học, thì cho lương bổng, và cử quan đại thần ra dạy võ nghệ.


Còn khi nào có quân lính đi đâu, thì vua đặt lệ sai mấy người y sinh đi theo để săn sóc điều trị.


*


Trước đây Lê Chất dò biết Phạm Đăng Hưng vào khuyên vua nên khéo léo trong việc đối xử với Lê Văn Duyệt, khiến Lê Chất không thực hiện được âm mưu khích cho Lê Văn Duyệt bất mãn cùng mình chống lại triều đình. Lê Chất liền xui những quan trong triều cùng cánh với mình dâng sớ đàn hặc Phạm Đăng Hưng. Sau đó lại biết lời Phạm Đăng Hưng tâu vua là ý kiến của Trịnh Hoài Đức, không những thế Đức còn tâu xin cải cách việc võ bị, mượn cái đó để nén bớt quyền lực của mình, nên rất căm giận nói với người thân tín: Vua chỉ cậy có bọn Trịnh Hoài Đức, Nguyễn Hữu Thận, làm tâm phúc. Chỉ đem độ vài trăm người vào chầu, quát to một tiếng, bọn ấy cũng phải phục xuống đất, rồi ta muốn làm gì thì làm.


Nghe được chuyện ấy. Trịnh Hoài Đức rất buồn. Giữa lúc ấy ông lại được tin vợ ông đã mất ở Gia Định, bèn dâng biểu xin nghỉ việc. Lại xin do đường biển trở về gia quán ở Gia Định, cho được thỏa nguyện “chồn chết quay đầu về núi”, và nói rằng hiện vợ chết còn chưa chôn, con đương ở nhà chịu tang, không có người nuôi dưỡng. Minh Mạng sai quan Bộ Lễ đem dụ chỉ đến yên ủi và lưu lại. Lời dụ viết:


“Xem lời trần tấu của khanh khiến người phải mủi lòng rơi lụy.


Từ ngày Khanh tiến chức Hiệp biện Đại học sĩ đến nay, quốc vụ quân cơ, tán trợ rất là nhiều đắc lực, trẫm đương để ý cậy nương, sẵn lòng yêu dấu. Khanh là người trung thành sáng suốt, há lại không tin lòng trẫm mà vội nói việc bỏ đi. Như nói về tình vợ việc nhà, thì ở đời ai lại không thiết nghĩa keo sơn, nhưng gặp lúc tình thế không biết tính sao thì cũng đối xử làm sao cho hợp lễ là được. Vả lại trong lúc khí suy bệnh nặng, tĩnh dưỡng rất cần, ta cho phép Khanh nghỉ việc bộ một thời gian, để an tâm điều trị, thuốc men thích đáng, chắc người lành trời giúp, khó gì không tật khử bệnh trừ; hà tất phải tính chuyện vượt biển băng vời, khiến người phải vì Khanh e ngại. Nếu nghỉ rằng khí hậu trong Nam ấm áp, có thể chữa chứng hàn thấp chóng khỏi, thì cũng phải chờ cho bệnh bớt người mạnh, rồi xin nghỉ về thăm nhà, đường bộ thênh thênh, há chẳng tốt hơn hay sao? Dấu như lời Khanh nói: “sương gió không chừng, lòng chỉ nguyện quay đầu về núi cũ”, Khanh là một bậc đại thần của nước, há vì một cớ mọn ấy mà không được toại nguyện hay sao? Điều ấy lại khiến người không hiểu vậy. Nói tóm lại, Khanh hãy an tâm tĩnh dưỡng, sao cho khí vượng thân cường, chẳng nên lấy việc mọn bận lòng, chính phải biết gìn vàng giữ ngọc; rồi đây tuổi trời thêm thọ, bình phục khang cường, cho thỏa lòng trông mong của trẫm”.


Rồi khiến ông tạm nghỉ việc bộ Lại và bộ Lễ, để chuyên tâm tĩnh dưỡng và ban cấp cho nhân sâm nhục quế. Minh Mạng lại nhận thấy Trịnh Hoài Đức làm quan rất liêm khiết, đến lúc ấy mà chưa có nhà riêng, bèn cho 2.000 quan tiền và săng gỗ ngói gạch để làm nhà ở. Trịnh vâng mạng, cất một sở nhà hiệu Quỳ viên, ở ngoài cửa đông Kinh thành để dưỡng bệnh.


 


XI


Vào cái thời đã có súng tay và đại bác, không thể giữ kiểu thành của thời đại chiến đấu bằng cung tên, gươm giáo, nên vua Gia Long đã quyết định xây Kinh Thành Huế theo kiểu Vauban, vừa mang tính phòng thủ chặt chẽ và kiên cố, vừa mang tính chống trả mạnh mẽ.


Kinh Thành có dạng gần như vuông. Mặt trước hơi khum ra hình cánh cung, vì phải chạy dọc theo bờ hơi cong của sông Hương. Thân thành ở cả bốn mặt chạy khúc khuỷu gần như đều đặn do việc thiết trí các pháo đài ở chung quanh để phòng thủ. Mỗi mặt thành có 5 pháo đài và mỗi góc thành là một giác bào. Nhưng thời Gia Long đều gọi chung là pháo đài cả. Như vậy 4 mặt thành có 24 pháo đài. Mỗi pháo đài có hai bộ phận chính: một đột giác được cấu tạo bởi haimặt pháo đài ở hai bên và hai hông pháo đài nằm kế tiếp hai mặt pháo đài.


Dọc trên tường bắn của các pháo đài, có những chỗ lõm xuống để đặt súng đại bác. Trừ những trường hợp đặc biệt, người ta trổ 3 pháo nhãn ở mỗi hông và 5 pháo nhãn ở mỗi mặt pháo đài. Quanh Kinh Thành có toàn bộ 404 pháo đài với 404 khẩu súng đồng. Thông thường tại mỗi pháo đài có một kho đạn được xây sau đột giác, nhờ đột giác che chở.


Trên thượng thành không phải là một mặt phẳng có độ cao như độ ở mặt ngoài của thân thành mà thấp dần vào trong. Trên thượng thành có xây Kỳ Đài. Đài xây bằng gạch 3 tầng, dưới lớn trên nhỏ, chồng lên nhau. Trên đài xây hai điếm canh và 4 pháo xưởng để bố trí 4 khẩu đại bác. Ở chính giữa mặt bằng của tầng cao nhất dựng cột cờ bằng gỗ.


Chung quanh Kinh Thành trổ 10 cửa vòm, trên xây vọng lâu 2 tầng. Vọng lâu là nơi lính canh đứng để nhìn ra xa. Sát ngoài chân thành cho đến bờ trong của hào, có một dải đất rộng chạy dọc quanh thành gọi là phòng lộ. Nó vừa giữ vững cho móng của thành, vừa dùng làm con đường để binh lính đi tuần tra, vừa giữ một chức năng quan trọng khác: nếu thành bi đại bác địch chọc thủng và đổ xuống thì gạch ống và đất trong mô thành tung ra sẽ được bề mặt dải phòng lộ hứng lấy cả chứ không cho hào bị lấp đầy tạo điều kiện cho bộ binh của đối phương vượt qua và xâm nhập thành. Hào bọc quanh thành rộng khoảng 75 thước ta, sâu khoảng 10 thước ta, được kè đá ở dá hai bờ và với mực nước khoảng 3 thước 75, hệ thống hào vừa dùng làm chướng ngại vật vừa dùng để trồng sen tô điểm cho cảnh quan. Thành giai nằm bên ngoài, bên trong sông Hộ thành. Đó là một dải đất trống vừa dùng làm con đường để binh lính đi tuần tra chung quanh Kinh Thành, vừa tạo ra một không gian trống trải và rộng rãi trước mặt thành để có thể phát hiện kẻ địch từ xa. Sông Hộ Thành bao bọc lấy Kinh Thành, nó còn dùng vào việc giao thông vận tải bằng ghe thuyền. Phần sông ở mặt trước của Kinh Thành là một đoạn của sông Hương. Ở 3 mặt kia đều được đào bằng tay, trừ đoạn trước Trấn Bình Đài có phần hạ lưu tự nhiên của sông Bạch yến được giữ lại.


Thấy mé bên tả Kinh Thành còn là thành đất chưa được xây gạch, nên Minh Mạng liền cho xây đắp mé bên tả để củng cố kinh sư làm nơi căn bản cho thiên hạ. Đến mùa đông mưa dầm, thành bị lở 2.057 trượng(1), vua sai Trần Văn Năng và Nguyễn Văn Vân dốc suất mọi cánh quân để đắp lại. Hai bờ của sông Hộ Thành, được Minh Mạng cho kè đá, mỗi lớp dày khoảng 3 thước 75, trên bắc một số cầu gỗ để người bộ hành qua lại. Minh Mạng lại cho ốp gạch dày 3 thước 2 ở mặt trong và ngoài Trấn Bình Đài Trấn Bình Đài nằm ngoài Kinh Thành chỉ cách Kinh Thành bằng một cái hào chung, một chiếc cầu cây bằng gạch và đá bắc qua để nối liền với nhau.


Công việc củng cố lại Trấn Bình Đài được giao cho Trần Văn Học.


Trấn Bình Đài cần thiết về mặt chiến lược quân sự mà pháo đài ở góc phía bắc Kinh Thành không làm thay nổi nhiệm vụ. Bây giờ, nếu đối phương từ bên ngoài muốn tấn công Kinh Thành thì phải đi bằng tàu thuyền của hải quân vào các cửa biển nằm dọc miền duyên hải Kinh đô, rồi ngược dòng sông Hương. Ở góc này của Kinh Thành có đến hai nhánh của sông Hương chĩa vào. Phải có Trấn Bình Đài để kiểm soát và chế ngự tất cả tàu thuyền lạ mặt xuất hiện trên hai nhánh sông đó, nhất là nhánh sông bên trái - nơi có cảng Bao Vinh tấp nập thương thuyền từ phương xa tụ về. Có người gọi Trấn Bình Đài là cái “cuống họng” của Kinh Thành, còn dân gian thì đặt cho nó một cái tên giản dị: Mang Cá.


Trước đó Minh Mạng sai Lê Chất đôn đốc việc sửa đắp đài Trấn Hải, Lê Chất cho cắm nhiều cây bằng gỗ mà trong đổ gạch đá. Sau đất cát bồi dần ở phía ngoài, nhờ đó mà pháo đài càng vững chắc. Minh Mạng lại sai xây đắp pháo đài Điện Hải ở tỉnh Quảng Nam. Thấy pháo đài ấy liền với bờ bể, bị nước xói làm vỡ lở, đã cắm cọc gỗ để xây đá mà sóng gió mạnh quá, vua sai xây một pháo đài trên ngọn núi nhỏ ở phía đông điếm Nam chân gọi là pháo đài Định Hải. Ít lâu sau, vua lại sai xây đắp pháo đài An Hải để làm thế ỷ dốc cho pháo đài Điện Hải và An Hải.


Đèo Hải Vân ở phía đông nam huyện Phú Lộc, là cửa ải ngăn chia giữa Thừa Thiên và Quảng Nam. Nửa đèo bắc Hải Vân thuộc huyện Phú Lộc, nửa đèo về nam thuộc huyện Hoà Vang. Phía tây là núi Bà Sơn, phía bắc là Hải Sơn, ba ngọn liên tiếp nhau, mạch núi kéo lên cao chót vót đến mây trời, chân choãi ra đến tận biển. Đường đi chín khúc quanh co mới vượt qua đèo.


Đặt chân lên đèo Hải Vân, người ta ngỡ như đang bước vào “thế giới nhà trời” với mây bay, lúc cuồn cuộn, lúc lững lờ, đi trên đèo như đi trên mây. Hai bên đèo cây cối xanh rì, rậm rạp, người đi như vượn leo, chim nhảy. Trên đèo có năm khe nước trong: Khe Kỹ, Khe Vũ, Khe Bé, Khe Lớn, và Khe Hổ Lang. Về phần bắc chân núi kề ra biển có hang Dơi, thuyền nhỏ qua đây thường bị đắm. Dân gian có câu ca: “Đi bộ thì sợ Hải Vân. Đi thuyền thì sợ sóng thần hang Dơi”. Đèo Hải Vân là cửa ngõ đi về Quảng Nam. Bước chân lên đây đưa tay với tận mây trời. Một bên là núi cao dựng đứng, cây cối um tùm tre dày như thành lũy, một bên là biển thẳm mênh mông sóng vỗ bờ ngàn đời không mệt mỏi. Xa xa, những cánh buồm trắng nhấp nhô. Mùi hoa dại của núi rừng thoang thoảng ngào ngạt. Bên kia sườn núi, những đồng mía, nương khoai, ruộng sắn, đồi chè với những nhà tranh mái rạ ẩn náu dưới những gốc cây đa cổ thụ hay những hàng cau thẳng tắp.


Thời trước, nơi đây đặt mấy đồn binh, có thiên lý kính để xem xét mặt biển, chân mây; phàm có thuyền nước ngoài cập bến Sơn Trà thì phải báo trước cho cửa quan này.


Minh Mạng thấy đây là nơi hiểm yếu để phòng giữ mặt biển nên cho xây đắp cửa ải Hải Vân trên đỉnh đèo, phía trước phía sau chân đèo đều làm cửa. Cửa trước cao 15 thước, ngang 17 thước 5 tấc, cửa sau cao 15 thước, dài 11 thước. Tường của cửa ải xây bằng đá hộc. Cửa đằng trước viết ba chữ “Hải Vân quan”, cửa đằng sau viết 6 chữ “Thiên hạ đệ nhất hùng quan” do chính tay Minh Mạng đề. Vua đặt một viên Phòng thủ úy, trông nom cai quản biền binh đóng giữ.


Minh Mạng lại sai đắp thành Quảng Bình, khi thành đắp xong, lại lấy cớ một dải đồn lũy dài là nơi phải phòng thủ trong khimới dựng nghiệp, nên sai tu sửa mà đặt làm hai cửa quan, một là cửa quan Quảng Bình, hai là cửa quan Võ Thắng, khởi tự núi Đâu Mâu đến cửa bể Nhật Lệ.


Vua ngự đến cửa bể Tư Dung, thấy cửa bể ấy bị phù sabồi lấp, mới sai các cánh quân đi theo nhà vua phải khai cho thông đi.


Minh Mạng đi tuần ra xứ Bắc kỳ, trèo lên thành ấy, bảo các quan rằng: “Thành này là then khóa cho cửa bắc của Kinh đô, phải giao cho bề tôi có danh vọng để trấn giữ, và lính ở Kinh ra đóng đồn, lại 3 năm hay 5 năm nhà vua một lần đi tuần thú mới được”.


Mấy năm sau, quan trấn Bắc Thành tâu nói: “Ngoài thành Đại La (tức thành Hà Nội) bị nước lũ xoi lở, xin phái binh lính đắp thêm, phía ngoài cắm gỗ mà trong đổ đất đá để ngăn nước to”. Vua ưng cho.


Vua thấy giáp giới tỉnh Hà Tiên, nước Xiêm và nước Chân Lạp vẫn tăng thêm quân để phòng giữ ngoài biên, liền sai Tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt xem những nơi hình thể xung yếu ở chỗ trấn thành cũ, đặt ra pháo đài để tỏ ra là ta có phòng bị.


Vua lại chuẩn cho ở núi Kim Dữ xây đắp thêm pháo đài. Khi làm xong, Lê Văn Duyệt xin phái 160 tên lính, 3 chiếc thuyền Ô lê, ủy giao cho Thành thủ ủy là Lê Văn Do quản suất để đóng giữ, lính ấy 3 tháng một lần thay đổi. Vua ưng cho.


Để tăng cường việc võ bị, Minh Mạng cho tổ chức khoa thi võ cử, định các năm Dần, Thân, Tỵ, Hợi mở khoa thi Hương, các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu mở khoa thi Hội.


Về khoa thi Hương thì: kỳ thi thứ nhất mang đồ nặng, xách quả tạ; kỳ thứ hai thi đánh côn quyền, gươm ngắn, phên mây lá chắn; kỳ thứ ba thi bắn súng tay. Người nào trúng hai kỳ thì được Võ cử nhân. Người nào trúng hai kỳ thì làm Võ tú tài.


Lúc treo bảng, xướng danh, vào kỳ phúc hạch, hỏi trong sách Võ kinh và Tứ tử, người nào thông suốt nghĩa sách thì để ở bậc trên.


Về phép thi Hội, thì cũng như trên, ai trúng cả ba kỳ mà lại thông hiểu chữ nghĩa nữa, thì được vào thi Đình.


Văn sách của thi Đình, thì hỏi nghĩa lớn sách Võ kinh và Tứ tử, cùng mấu chốt việc dụng binh của danh tướng đời xưa, khoảng ba hay bốn điều, về thể thức cũng như đề thi Tiến sĩ hàng văn, nhưng cách hành văn không cần niêm luật đối câu, sao cho lời nói dễ thông hiểu mà thôi, người nào chỉ biết võ nghệ, thì được miễn thi.


Sau khi thi Đình, những quyển văn nào dự có phân số cao thì được Võ tiến sĩ, người nào không có phân số, cùng người miễn thi thì làm Võ phó bảng.


Đầu mùa xuân làm lễ duyệt binh, Minh Mạng mặc đồ nhung phục, quân trang, ra ngự ở điện Càn Nguyên xem duyệt. Sau lễ duyệt binh là cuộc tập trận thường lệ.


Ngoài những viên quản vệ, 150 lính trong đội Kinh tượng còn có sự tham gia của những toán lính trong các đội Võ Lâm, Thần Cơ, Long Võ, Tiền Phong. Súng trường vào lối 350 khẩu, 100 phong pháo, 60 bó đuốc, 10 khẩu đại bác, lại có hỏa võ pháo bắn lửa ria ra như mưa... Cuộc tập trận khởi sự vào lúc trời mới tờ mờ sáng. Người ta dựng sẵn ba cái đồn: tiền, trung và hậu. Đồn làm bằng tre, cao 3 thước rưỡi, có hai cửa để ra vào. Chung quanh và trong đồn có lính cầm đuốc và khí giới để chống giữ và do một viên quản vệ điều khiển. Cách đồn chừng 2 thước rưỡi, người ta đặt vô số hình nhân, tay cầm khí giới, cùng là những hình sư tử và cọp. Voi ở riêng một đồn gọi là Tượng đồn. Trên lưng mỗi con voi có hai người nài, sau lưng voi có quân lính mang khí giới kèm giữ để voi khỏi chạy loạn.


(còn tiếp)


Nguồn: Vua Minh Mạng. Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học , 2006.


 







(1) Văn võ một lòng, vua tôi chung đức.




(1) 1 trượng bằng 3,33 mét (bằng 10 thước Trung Quốc). Hoặc bằng 4 thước mộc (1,7m).



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
xem thêm »