tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19729037
Tiểu thuyết
15.04.2009
Hoài Anh
Vua Minh Mạng

X


Trịnh Hoài Đức từ Gia Định ra Huế làm việc, vốn làm quan thanh liêm nên không có tiền tậu dinh cơ riêng, mà phải ở một căn phòng trong Bộ Lại. Trong phòng ông không có vật gì quý báu, chỉ có sách, những bức thư, họa, văn phòng tứ bảo và sập gụ tủ trà.


Hai bên tủ trà để sách vở còn khoảng giữa lồng kính bày các bộ đồ trà. Nóc tủ dài và phẳng lỳ như tấm ván đen đánh bóng. Bên trái nóc tủ là chiếc lọ độc bình, sứ trắng men chàm, vẽ tứ quí mai lan cúc trúc, trong lọ không cắm hoa.


Trên nóc tủ trà treo một bức chữ cữ trung đường viết lối đại thảo câu “Bút tinh diệu nhập thần” viết lối “Nhất khí” chữ nọ nối liền với chữ kia từ lúc hạ bút cho đến lúc cất bút. Chữ “Thần” có cái sổ dài có cả xơ bút, thẫm nhạt như đuôi con hổ. Vách tường hai bên một bên treo bức tranh vẽ hoa sen do bạn ông là Lê Quang Định vẽ tặng ông khi hai người cùng đi sứ nhà Thanh, một bên treo bài minh Cấn Trai đề bích (Cấn Trai đề vách), ông viết khi còn hàn vi ở Gia Định.


Thiên địa chung nhân tú,


Nhân thừ thiên địa chân.


Tửu đa giới đãng tính.


Thi khổ cảnh lao thần.


Lý dụ cương duy lập


Danh thành đức nghiệp tân.


Đình hoa khai bất chiết,


Lưu thưởng tự nhiên xuân(1).


Thấy Phạm Đăng Hưng đến chơi. Trịnh Hoài Đức lấy từ trong tủ trà ra cái ấm song ẩm làm bằng sứ trắng, tráng men đỏ tươi ở ngoài gọi là ấm Châu Sa. Trôn ấm đề ba chữ “Thế Đức Đường”. Một chén tống để chuyên trà đặt trên đĩa bàn, hai chén quân đặt trên đĩa dầm, cùng ấm pha trà tất cả đặt trên khay bằng gỗ trắc khảm xà cừ. Ông đặt cái ấm đồng đỏ trên lò hình con cóc há mồm, cho trà vào ấm, chờ nước sôi đổ nước sôi vào ấm, lại chờ cho trà ngấm mới rót trà ra chén tống. Nước đầu rất đặc vì vậy khi chén tống đã đầy được hai phần ba, ông đổ thêm nước sôi vào chén tống. Từ chén tống, ông chuyển sang hai chén quân, rồi đẩy một chén sang phía Phạm Đăng Hưng nói:


- Rước quan huynh dùng trà.


Phạm Đăng Hưng nhấp một ngụm trà, chép chép miệng, rồi khen:


- Trà của quan huynh là loại trà gì mà ngon như vậy?


- Chẳng dám dấu gì quan huynh, ông Cần chánh điện học sĩ Nguyễn Du đi sứ nhà Thanh về, có tặng tôi một hộp trà Vũ di. Có thứ trà thượng phẩm này, chiều chiều tôi lại sai gia nhân chèo thuyền trên hồ Tịnh Tâm, mang trà bỏ vào trong những nụ sen rồi lấy dây buộc lại, mờ sáng hôm sau lại sai chèo thuyền đến, lấy trà ra, rồi đem pha uống nên trà mới có hương vị thơm mát như vậy.


- À, ông Nguyễn Du, tôi nghe người ta nói trên đường đi sứ về, ông ấy có ghé qua một xưởng chế tạo đồ sứ tại Cảnh Đức Trấn tỉnh Giang Tây, gặp lúc người ta đang chế một số đồ trà vẽ mai và hạc. Biết ông Nguyễn Du là một thi nhân nổi tiếng ở nước Nam, quân lo ngỏ lời xin quan chánh sứ phẩm đề ít chữ lên món đồ để làm kỷ niệm. Quan huynh có biết ông Nguyễn Du viết những gì không?


- Không. Ông ấy viết những gì, thưa quan huynh?


- Chà, ông ấy viết hai câu thơ nôm:


Nghêu ngao vui thú yên hà,


Mai là bạn cũ, hạc là người quen.


Trịnh Hoài Đức gật gù khen hay, rồi nói:


- Tôi đã được xem lời bình của ông Nguyễn Du trong tập thơ Hoa nguyên thi thảo của ông Lê Quang Định, thấy ông ấy phẩm bình rất xác đáng, đúng là một nhân tài của nước Đại Nam. Chẳng hay quan huynh có kiếm được bộ đồ trà thơ nôm ấy hay không?


- Ông Nguyễn Du có đem về một bộ của xưởng đồ sứ tặng làm kỷ niệm, nhưng có một xưởng đồ sứ ở Kinh đến mượn ông ấy đem về làm mẫu để dựa theo đó trang trí cho những đồ sứ men lam ở đây. Tôi thì tôi không thích chén Tàu mà thích loại chén “mắt trâu - lật đật” đáy tròn và nặng, khi đụng vào thì nó lay lắc như con lật đật, nhưng cuối cùng luôn trở về vị trí thăng bằng.


Trịnh Hoài Đức mỉm cười:


- Tôi nghĩ cái đạo làm quan cũng phải giống như con lật đật...


Lời Trịnh Hoài Đức nói vô tình khiến Phạm Đăng Hưng đỏ mặt. Nguyên Phạm Đăng Hưng là người huyện Tân Hòa, Gia Định, chỉ đỗ có Tam trường, được bổ làm Lễ sinh ở phủ, vậy mà chẳng bao lâu leo lên đến chức Tham tri Bộ Lại rồi Thượng thư bộ Lễ, nên những vị quan đỗ đạt cao không biết đến công trạng của ông khi chinh chiến, chỉ cho là ông khôn ngoan nên luôn luôn giữ được chức vị như Phùng Đạo đời Ngũ đại được gọi là “Bất Đảo ông” (con lật đật). Ông nhìn chiếc bình không đổi sang câu chuyện khác:


- Bình quan huynh không cắm hoa ý chừng để làm đúng, như lời thơ “Bình hoa khan bất chiết, Lưu thưởng tự nhiên xuân”?


- Không hẳn là như thế. Chơi hoa cũng là một cái thú tao nhã. Nhưng như ông Nguyễn Du đã nói: Chơi hoa đã dễ mấy người biết hoa. Chơi hoa là cả một nghệ thuật tinh vi. Người xưa đã chia ra tiết hoa, mỗi tiết hoa có một thứ hoa mà mỗi tiết là mười lăm ngày. Mỗi tiết chia ra ba Thì hầu, mỗi Thì hầu là năm ngày, có một trận gió riêng, mỗi trận gió ăn vào một thứ hoa. Chẳng hạn tiết Tiểu Hàn, nhứt hầu là Mai, nhị hầu là Sơn trà, tam hầu là Thủy tiên. Tiết Kinh Trập, nhứt hầu là Đào, nhị hầu là Đường Lê, tam hầu là Tường Vi. Tiết Xuân phân, nhứt hầu là Hải đường, nhị hầu là Lê, tam hầu là Mộc Lan... Hoa nở đúng thì hầu là lúc hoa đẹp nhất, người ta mới ngắt về chơi, chứ cứ bạ hoa gì thì cắm hoa ấy chỉ là phường tục tử. Lại còn phân ra nhiều hạng: Vương giả chi hoa như lan, huệ, mẫu đơn; Phú hào chi hoa như hường, mai; Quân tử chi hoa như hoa sen; Ẩn dật chi hoa như cúc; Bình dân chi hoa như vạn thọ, mồng gà, nở ngày... Người phải chọn hoa hợp với cảnh ngộ của mình. Khi tôi viết bài thơ này, còn đang sống trong cảnh hàn vi ở Gia Định, trước nhà chỉ có bông lài, bông bần, bông mù u, bông dâm bụt, cần gì phải ngắt cắm vào trong bình. Phạm Đăng Hưng cười, Trịnh Hoài Đức hỏi:


À, bữa nay quan huynh rảnh đến chơi hay có chuyện gì vậy?


Phạm Đăng Hưng nhấp một ngụm trà nữa rồi nói:


- Từ ngày quan huynh cùng tôi định ra lễ nghi, nhiều quan lại trong triều phản đối nhưng vì điều lệ được hoàng thượng phê chuẩn, họ không làm gì được, ngấm ngầm căm tức, chỉ chờ dịp để hãm hại tôi. Mặc dù tôi đã thôi việc ở Bộ Lễ, chuyển sang sung chức Quốc sử quán phó tổng tài, nhưng mới đây ở bộ Lễ có chuyện mạo tặng phong cho các mẹ các quan viên, bọn họ liền xúm nhau dâng sớ đàn hặc tôi, nói tôi khi làm Thượng thư bộ Lễ, không biết răn đe nghiêm cấm thuộc hạ, bắt tôi phải chịu trách nhiệm về việc ấy, xin giáng cấp đổi đi nơi xa. Quan huynh bảo tôi nên làm thế nào?


Trịnh Hoài Đức biết những định thủ của mình, muốn chặt bớt vây cánh của mình trong triều đình, nên mới đánh vào Phạm Đăng Hưng. Ông suy nghĩ một hồi rồi nói:


- Tôi thấy trong chuyện này hoàng thượng có điều khó xử. Một phần quan huynh là người từng tán thành việc đưa ngài lên nối ngôi trước đây. Hai nữa, ngài lại là thân sinh ra vương phi của hoàng trưởng tử Miên Tông(1). Nếu hoàng thượng không xét xử việc này sẽ mang tiếng là vị tình riêng mà bỏ qua phép nước, sau đó ngài có thi hành cải cách mới gì cũng không có hiệu quả nữa. Tôi thấy quan huynh nên chuẩn bị trước, khi hoàng thượng giao sớ tấu cho đình thần bàn bạc, quan huynh xin giải chức đi tiền quân hiệu lực chờ xét án. Tôi nhớ trước đây quan huynh đã từng dâng sớ xin đặt kho ở xã, đề phòng chẩn cấp về năm mất mùa. Tiên đế dụ rằng: phép ấy tuy hay, nhưng người chủ thủ khó có thể được người tốt cả, sợ làm hại cho dân. Việc ấy rồi không thi hành. Nay nhân Quảng Nam có nạn mất mùa đói kém, quan huynh nên xin đến đó bán thóc gạo trích trong kho với giá rẻ cho dân, nếu quan huynh làm tốt việc này sẽ có thể đới công chuộc tội.


Phạm Đăng Hưng nghe ra, cám ơn Trịnh Hoài Đức rồi cáo từ.


Phạm Đăng Hưng đi rồi, Trịnh Hoài Đức thầm nghĩ, mình và Phạm Đăng Hưng được nhà vua quý trọng, tin cẩn, không tránh khỏi bị bạn đồng liêu ghen ghét. Khi Trịnh Hoài Đức được thăng thụ Hiệp biện đại học sĩ, lĩnh Thượng thư bộ Lại, kiêm lĩnh thượng thư bộ Binh. Trước đấy ở ban quan văn chưa có người nào được trao cho nhất phẩm. Minh Mạng muốn trao cho Đức, mới hỏi các quan đaị thần, bọn Nguyễn Văn Nhơn, Nguyễn Đức Xuyên đều thưa rằng nên. Đức biết tin dâng biểu từ chối. Vua dụ rằng: “Hiện nay bên văn không có ai hơn ngươi, nên cố gắng làm hết chức vụ, để giúp trẫm những điều chưa biết tới, ngươi chớ nên từ”. Đức mới nhận chức, châm chước, xếp đặt rành mạch, đều thích hợp với việc đời.


Chuyện Phạm Đăng Hưng khiến Trịnh Hoài Đức liên tưởng đến chuyện bạn thân của mình là Ngô Nhân Tĩnh. Năm Gia Long thứ 12, Ngô Nhân Tĩnh cùng với Lê Văn Duyệt đi hộ tống quốc vương Chân Lạp là Nặc Ong Chăn về nước. Đến khi trở về, có người nói là Tĩnh nhận của cho riêng. Duyệt tin thực, đem việc ấy tâu lên. Gia Long cho là không có sự thực, bỏ đi. Tĩnh lòng không tự yên, nhưng rút cục không làm thế nào để dãi tỏ lòng của mình được, thường than rằng: “Vẽ rắn thêm chân, ai khiến cho ta mang cái oan không dãi tỏ được ư?”.


Tĩnh lo buồn thành bệnh rồi chết. Trịnh Hoài Đức tâu giúp xin truy tặng, Gia Long không cho. Đức biết rằng Duyệt không ưa Tĩnh vì Tĩnh là bạn thân của mình nên mới tâu xin trị tội Tĩnh. Ông buồn rầu đã định dâng sớ xin cáo quan về, nhưng đến lúc Gia Long thăng hà, Minh Mạng mới lên nối ngôi, trọng dụng ông, nên ông cảm ơn tri ngộ, không nỡ bỏ về.


Việc các quan võ cậy có chiến công khinh thường, chèn ép đám quan văn như Đức, Tĩnh là chuyện có từ lâu. Khi đi sứ nhà Thanh, làm 18 bài thơ Nôm liên hoàn Đi sứ cảm tác, Trịnh Hoài Đức đã gửi gắm vào tâm sự cá nhân của mình:


Tấm lòng chăng phải phải phân trần,


Ít nói là người dưỡng tính chân.


Đã bện bó rơm làm đứa quỷ,


Lại trau cục đá tượng ông thần.


Dù cho đất phấn tô gương mặt,


Sẵn có cây da cậy tấm thân.


Cũng muốn đem mình đi thế ấy.


Đem mình đi thế ấy bần thần.


Bọn quan võ đã cậy thần thế lấn áp quan văn, ngay cả lòng vua yêu bề tôi cũng mưa nắng thất thường:


Bần thần lại giận đứa xung xăng,


Quán Sở lầu Tần đã mấy trăng.


Phơi phới mưa xuân hang dễ lấp,


Chan chan nắng hạ lửa đang hừng.


Thu trao thư nhạn lời no ấm,


Đông gặp tin mai chuyện khó khăn.


Trời đất bốn phương non nước ấy,


Làm chi nên nỗi việc lăng nhăng.


Vì bị sự ghen ghét, gièm pha của một số võ tướng có công lao trận mạc cho rằng có thể trị nước bằng hành động quân sự và pháp luật hà khắc, không cần đến văn hóa và đạo lý, không hiểu như Lục Giả khi khuyên Hán Cao Tổ “có thể ngồi trên mình ngựa mà lấy được nước, không thể ngồi trên mình ngựa mà trị nước”, Trịnh Hoài Đức có lúc đã chán nản định từ quan đi ở ẩn. Nhưng nghĩ đến trách nhiệm đối với dân, với nước, phải lo sao xây dựng một nền văn hóa và đạo lý làm cơ sở tinh thần cho công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế làm cho dân giàu nước mạnh, ông lại gác bỏ ý định hưởng nhàn:


Đất yên cõi Việt rừng nho rậm,


Trời giúp nhà Ngu biển thánh cao.


Mới biết tài non đền nợ nước,


Dám đâu nói chuyện ẩn nguồn Đào.


Ông cũng đủ cái tài hoa và cao ngạo của nhà thơ đời xưa “Say nhè tửu bá coi khinh, Bôi lem năm vận ngông nghênh thi đàn”(1), nhưng ông nghĩ lúc này chưa thể gác bỏ tấm lòng lo đời để nghĩ đến riêng mình:


Lưu Linh vợ lại khôn từ chén,


Lý Bạch vua kêu chẳng xuống thuyền.


Hầu muốn học đòi theo thế ấy,


Song le thời thế hãy chưa yên.


 


Chưa yên ta phải tính làm sao,


Cơm áo ngồi không dễ đặng nào…


Đêm nằm trằn trọc nghĩ ngợi không sao quên được việc nước, nửa đêm ông trở dậy thắp nến viết tờ sớ, đại:


“Thần trộm nghĩ: nhà nước tuy yên, không nên việc chinh chiến. Khi Thế Cao Tổ hoàng đế ta, lấy việc vũ dẹp loạn, từ thị vệ, cấm binh đến các quân doanh, đã có chưởng lĩnh, phó tướng, lại có chánh doanh, phó doanh, chánh vệ, phó vệ, chánh cơ, phó cơ, ngày thường thì viên phó thay khó nhọc làm việc của viên chánh, có việc thì viên phó chia trách nhiệm xông ra trận của viên chánh, vì thế cho nên giữ tất vững, đánh tất được, dựng được nhiều công to, giúp nên đại định. Từ khi yên tĩnh, các quan huân cựu, bực tướng lão thành, già yếu và chết mất nhiều; nên chức quan coi quân thường vắng thiếu. Nay văn trị rực rỡ, không để ý đến việc quân đội, nhưng có việc văn tất phải có việc võ, xin trong bọn coi quân chăn dân chọn người siêng năng khó nhọc và tướng cũ, chuyển đổi cho thăng làm viên chánh; và tuyển người hậu tiến có tài năng, cất nhắc giao phó cho làm viên phó; hoặc châm chước bỏ bớt, hoặc đặc cách tuyển bổ quyết đoán tự lòng vua, lần lượt mà cử hành, sung bổ vào quân túc vệ, khiến cho danh phận dự định sẵn, Quân lính tập quen, thì trên dưới cũng yên, mà quân là quân có kỷ luật, tướng là tướng có tài năng. Nếu đợi khó nhọc nhiều lập được công rồi sau mới cất bổ, sợ hoặc khi có việc, vội vàng sung bổ, chưa chắc đã được người, mà công việc lại chậm trễ không kịp”.


Viết xong, Đức mang vào chầu, dâng lên vua. Minh Mạng đọc xong, nói:


- Sự lý ngươi dâng nói, nay và xưa tuy khác, nhưng việc hay thì cũng nên chọn và thi hành.


Minh Mạng giao cho Đức là Thượng thư bộ Binh họp bàn với các võ tướng như NguyễnVăn Nhơn, Nguyễn Đức Xuyên bàn việc cải cách việc võ bị. Sau khi bàn bạc xong, dâng sớ lên vua tâu xin những điều sau;


Ở những nơi hiểm yếu thì lập đồn ải, ở các cửa bể và các đảo thì lập pháo đài. Và lại làm tàu đồng tập thủy quân để phòng giữ mặt bể.


Binh chế thì có bộ binh, thủy binh, tượng binh, kỵ binh và pháo thủ binh.


Bộ binh thì có kinh binh và cơ binh. Kinh binh chia ra làm doanh,vệ, đội hoặc để đóng giữ ở Kinh thành hoặc sai đi đóng giữ các tỉnh. Mỗi doanh có 5 vệ, mỗi vệ có 10 đội, mỗi đội có 50 người, có suất đội và đội trưởng cai quản.


(còn tiếp)


Nguồn: Vua Minh Mạng. Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học , 2006.


  





(1) Dịch:       Khí linh tú đúc nên người,



                   Người thừa hưởng của đất trời cái chân.


                   Rượu nhiều, phóng đãng cần răn,


                   Mê thơ, hao tổn tinh thần phải kiêng.


                   Lý đầy đủ, lập mối giềng,


                   Thành danh, đức nghiệp nên siêng trau dồi.


                   Hoa vườn nở, chớ bẻ hoài,


                   Dành để thưởng xuân đượm mùi thiên nhiên.




(1) Miên Tông sau là vua Thiệu Trị. Bà Từ Dụ, vợ ông là con gái của Phạm Đăng Hưng.




(1) Nê túy nhất bôi kiêu tửu bá, nha đồ ngũ vận ngạo thi đàn - Thơ chữ hán của Trịnh Hoài Đức.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 19.06.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 27.05.2017
Evghenhi Ônheghin - ALEKSANDR Sergeyevich Pushkin 15.05.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 11.05.2017
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 08.05.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 05.05.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
xem thêm »