tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19003232
Tiểu thuyết
14.04.2009
Hoài Anh
Vua Minh Mạng

Việc đầu tiên là các chiêu mộ đứng ra đệ đơn và sau khi được phê chuẩn mới chiêu mộ dân nghèo, trực tiếp đi thực địa, rồi nhận trợ cấp của nhà nước về nhu phí và cương giới đất đai để khai khẩn. Trong khi khẩn hoang, chiêu mộ phải chịu trách nhiệm về vấn đề mộ dân cho đủ số đinh nhà nước quy định. Trường hợp có người bỏ trốn hoặc về quê cũ thì chiêu mộ phải tìm người khác thay thế, hoặc nếu khai khẩn dở dang, không làm tròn phận sự thì chiêu mộ phải hoàn lại các khoản mà nhà nước chu cấp. Ngoài ra chiêu mộ cũng phải chịu một phần kinh phí khai hoang, bởi nhà nước không thể gánh vác toàn bộ phí tổn.


Nguyễn Công Trứ lại xin “cứ năm người thì phát một con trâu, một cái bừa, một cái cày, một móng, một cuốc và một liềm, sức các ông chiêu mộ lĩnh về cấp phát”…


Đọc xong bức điều trần, Minh Mạng chuẩn y và cho Nguyễn Công Trứ làm Doanh điền sứ đến trấn Nam Định lo việc khẩn hoang.


*


Nguyễn Công Trứ đưa mắt nhìn suốt một dải Tiền Châu. Dọc theo bờ biển, có những bãi cát pha nổi lên, do phù sa của sông Nhị Hà đọng lại vì có nước thủy triều ở ngoài đánh vào. Trên bãi đó, lau sậy mọc và mỗi khi nước triều lên thì có những lạch nước nhỏ ăn sâu vào trong bãi. Những bãi cát dần dần nhập vào bờ thành đất cứ lan rộng mãi ra trên biển.


Tuy có đất nhưng nước mặn thấm vào không thể canh tác được, không những thế nước mặn còn ngấm qua đất lan cả đến những đồng ruộng ở bên trong, khiến cho những đồng ruộng này cũng bị ảnh hưởng lây. Hèn chi mà vùng này cũng như cả trấn Nam Định mấy năm nay mất mùa to, dân tình đói khổ.


Vì đã sống nhiều năm ở nông thôn nên ông rất hiểu cảnh khổ của dân. Tiếng là con quan thật, nhưng gặp lúc đổi thay triều đại, Lê mất, Nguyễn lên, nên có là cậu ấm chăng nữa cũng chỉ là “ấm sứt vòi”, như lời mai mỉa của người đời. Gia sản không còn gì, ông phải vay nợ để ăn cho qua bữa, nhiều khi chủ nợ đến đòi không có trả, ông đã phải chịu nhục với kẻ trọc phú hợm của. Ông làm bài phú Hàn nho phong vị, tả cảnh nghèo của mình, trong đó có đoạn viết:


Ấm trà góp lá bàng, lá vối, pha mùa chát chát chua chua


Miếng trầu têm vỏ mận, vỏ dà, buồn miệng nhai nhai nhổ nhổ.


Áo vải thô nặng trịch, lạnh làm mền, nực làm gối, bốn mùa thay đổi bấy nhiêu - Khăn lau giắt đỏ lòm, trải làm chiếu, vận làm quần, một bộ ăn chơi quá thú.


Đỡ mồ hôi võng lác, quạt mo - Chống hơi đất dép da, guốc gỗ.


Miếng ăn sẵn cà non mướp luộc, ngon khéo là ngon - Đồ chơi nhiều quạt sậy, điếu tre, của đâu những của.


Đồ chuyên trà, ấm đất sứt vòi - Cuộc sống rượu, be sành chắp cổ.


Đến bữa chưa sẵn bữa, con trẻ khóc dường ong - Quá kỳ lại hẹn kỳ, nhà nợ kêu như ó.


Gấp khúc lươn, nên ít kẻ yêu vì - Giương mắt ếch, biết vào đâu mượn mõ.


Đến lúc niên chung nguyệt quý (1) lấy chi tiêu đồng nợ đồng công? - Gặp khi vận bĩ thời cùng, nên phải tới cửa này cửa nọ.


Thầm thì to to nhỏ nhỏ, ta đã mỏi cẳng ngồi tri - Dần dần nọ nọ kia kia, nó cũng vuốt râu làm bộ.


Thầy tớ sợ men tìm đến cửa, ngoảnh mặt cúi đầu - Chị em e vất lấm vào lưng, chìa môi nhọn mỏ…


Tuy vậy ông vẫn cứ yêu đời, mà tự tin vào cái tài của mình sẽ có chỗ dùng. Một chuyện kỳ ngộ xảy ra năm trước đã làm ông khấp khởi hy vọng. Một hôm đương đi chơi bỗng gặp mưa, phải trú trong quán nước bên đường. Ngồi lâu mưa không ngớt lại thêm gió lạnh, ông bèn nằm vào ổ rơm của nhà hàng; lấy chiếu đắp lên mình đánh một giấc. Thình lình đại binh của Lê Văn Duyệt đi diễn tập vừa qua. Các người trong quán đều sợ hãi nép vào một xó. Toán quân tiền hô đi vào quán, thấy có người người nằm ngủ, thét gọi dậy, thì vừa lúc ấy, Tả quân cưỡi ngựa tới. Nguyễn Công Trứ lồm cồm đứng dậy không chút sợ hãi. Tả quân nhìn vào, thấy người có vẻ đĩnh đạc truyền quân lính không được làm dữ và bảo ông ra, hỏi:


- Cớ sao thấy đại quân ta trẩy qua mà cứ nằm đó không chịu đứng dậy cho phải phép?


- Quân của đại tướng là quân nhân nghĩa, đi tới đâu, dân chúng vẫn yên ổn làm ăn, không bị kinh động. Bởi vậy, tiểu sinh vẫn nằm yên chẳng lo ngại gì. Vả đi đường mệt nhọc, gặp nơi yên ấm ngủ quên, không ngờ đắc tội, xin đại tướng lượng thứ.


Tả quân ôn tồn bảo:


- Mi là học trò hả? Vậy hãy thử vịnh cảnh nằm co ổ rơm đắp chiếu này đi. Hay, ta sẽ tha cho, bằng không thì sẽ chiếu theo quân pháp.


Nguyễn Công Trứ ứng khẩu đọc:


Ba vạn anh hùng(1) đè xuống dưới


Chín lần thiên tử đội lên trên.(1)


Tả quân kinh ngạc, hỏi họ tên, ân cần khuyên bảo mấy lời, lại thưởng tiền và cho về.


Từ đó, Tả quân lưu tâm đến Nguyễn Công Trứ. Năm Gia Long thứ 3(2) vua ra Bắc thành, trú tất tại Nghệ An mấy ngày, Tả quân đi hộ giá, cho gọi Nguyễn Công Trứ đến hỏi về dân tình. Trứ đối đáp trôi chảy và câu nào cũng xác đáng cả. Tả quân lại càng khen ngợi. Trước khi chia tay, Tả quân có hứa sẽ tiến cử Trứ lên với triều đình.


Nhưng chờ đợi mãi không thấy tăm hơi gì, Công Trứ vẫn không nản lòng, vì có chí tự lập lấy thân. Ông vẫn đêm ngày đọc sách, nhưng không thích cái học từ chương, mà muốn học cái đạo làm cho ích quốc, lợi dân. Đọc Kinh Thư đến thiên Hồng phạm cửu trù, mà trù thứ ba là Bát chính, trong đó: một là ăn uống, làm cho dân no ấm; hai là của cải, làm cho dân sung túc, đầy đủ tiện nghi; ba là tế tự, có lễ nghi; bốn là đất đai công chính, có nhà cửa đất đai; năm là giáo dục, có nền giáo dục hẳn hoi; sáu là tư pháp, khỏi bị gian tà đạo tặc quấy nhiễu; bảy là tiếp khách, biết đường tiếp nhân xử thế; tám là quân sự, bảo vệ đất nước. Nguyễn Công Trứ hết sức tâm đắc. Ông coi tám điều ấy như cương lĩnh mà suốt đời ông phải noi theo để thực hiện bằng được.


Dù nghèo ông vẫn chăm chỉ học hành, không lúc nào xao nhãng. Song thi cử vẫn lận đận mãi. Cứ đến mỗi khoa ông lại lều chõng đi thi, mà hỏng vẫn hoàn hỏng, chỉ vớt vát được cái Tú tài. Mãi đến khoa Kỷ Mão, Gia Long thứ 18(1) mới đậu Giải nguyên, bấy giờ ông đã 40 tuổi.


Sơ bổ hành tẩu Sử quán năm Minh Mạng năm đầu(2), sau khi đi tri huyện Đường Hào(3), về làm Lang trung bộ Lại rồi giữ chức Tư nghiệp Quốc Tử giám đổi sang thiêm sự bộ Hình, thăng phủ thừa Thừa Thiên, rồi ra làm hiệp trấn Thanh Hóa.


Sau đó, ông được thăng hàm Hình bộ thị lang. Nay lại được cử đi làm Doanh điền sứ.


Tới Nam Định, ông cùng với Hiệp trấn Nam Định là Nguyễn Nhược Sơn bàn bạc. Nhược Sơn cho ông biết ở dải bãi Tiền Châu gần biển còn bỏ hoang. Ông liền đến đến tận nơi xem xét. Nguyễn Nhược Sơn lại cắt một số lính đi theo hộ vệ ông. Thấy trong số lính đó có viên đội trưởng Phí Quý Trại là người địa phương, am hiểu đường lối thung thổ vùng này, ông bèn cắt đi cùng với ông để xem xét địa thế.


Khi Phí Quý Trại dẫn ông đến nơi, ông thấy ở đây cũng không khác gì làng Uy Viễn của ông, thuộc về miền cửa sông Lam ăn thông ra biển, chỉ khác là miền Nghệ Tĩnh thì bãi nhỏ mà ở dọc bờ biển, Nam Định thì bãi đã nhiều lại rộng. Từng sống ở thôn quê từ thuở nhỏ, nên Nguyễn Công Trứ đã biết cách nông dân đi khai thác các bãi biển này như thế nào, dựa vào kinh nghiệm của ông cha và sáng kiến riêng của ông, ông đã nghĩ ra cách khai khẩn các bãi này.


Xem xét xong, ông quyết định: Phải đào những đường mương ngang dọc như bàn cờ, để cho nước chảy theo các mương chứ không tràn lên tất cả mặt đất. Đắp một cái đê để ngăn những sóng lớn có thể đánh vào, những đê này có cống, đào một con sông để lấy nước ngọt của những sông ở gần đấy. Nước sẽ chảy như thế này: khi nước triều lên, đóng cống ở đó lại, nước ngọt do sông đào đem tới sẽ ăn sâu vào tất cả các mương và có thể lấy vào ruộng. Khi nước triều xuống, mở cửa cống để tháo một phần nước ngọt nếu nhiều quá, có khi tháo cả nước mặn và nước mới vào mương thì ngọt nhưng sau thành chua tại chất phèn ở dưới đất ngấm lên. Tóm lại, đắp đê, làm cống, đào mương là giữ không cho nước mặn tràn vào ruộng được và để dùng nước mặn của sông đào đem lại rửa cho đất khỏi chua, lấy nước ngọt cho lúa sau vài ba năm trông coi.


Nhất nhất việc gì Nguyễn Công Trứ cũng đem bàn bạc với Phí Quý Trại và được anh ta tán thành, lại bổ sung thêm nhiều chi tiết vì anh am hiểu thổ ngơi khí hậu ở đây. Anh lại đôn đốc dân chúng làm việc đắp đê, làm cống, đào mương thay thế cho bọn quan lại phủ huyện và xã trưởng hương lý lười nhác, kém cỏi.


Khi những công trình thủy lợi xong, Nguyễn Công Trứ ngắm đo đất bỏ hoang ở Tiền Châu và hai bên bờ sông chia cấp cho dân chúng, theo lệ “Công điền quân cấp”. Theo quy định chung bình quân mỗi đinh được 6 mẫu. Nhưng trong thực tế có nhiều làng ấp bình quân ruộng đất khá cao, có làng tới 10 mẫu, cá biệt có làng lên tới 12 mẫu. Trong khi đó có những trại ấp bình quân một ấp chỉ có 4 mẫu một đầu người, nhìn chung phần đông các làng ấp diện tích bình quân cho một đinh khoảng 8 mẫu. Theo nguyên tắc của lệ “công điền quân cấp” thì ruộng đất được chia cấp cho dân đinh theo thời hạn 3 năm, hết 3 năm phải trả lại ruộng cho làng để chia lại. Quyền sở hữu là của nhà nước, làng ấp chỉ có quyền quản lý. Nhưng phân phối ruộng quân cấp ở đây không giống như chế độ quân điền thời Gia Long với sự phân chia đẳng cấp rõ rệt, mà mọi người có công khai hoang đều được hưởng quyền lợi như nhau, hơn nữa ruộng “công điền quân cấp“” này lại được hưởng theo lệ thuế tư điền mà trong đó ruộng loại 3 chiếm tới 8 phần 10.


Chia đất xong, cả thảy được 14 lý, 27 ấp, 20 trại, 10 giáp, số dân được 2350 người, số ruộng được 18.970 mẫu. Nhân thế đất liên lạc mà chia thành 7 tổng, lập riêng một huyện gọi là huyện Tiền Hải. Lại ở làng Ninh Cường, Hải Cát mở được 4 lý, 4 ấp, 1 trại, xin lập một tổng thuộc về huyện Nam Chân; ở tổng Hoàng Nha mở được 5 ấp, 1 trại, 3 giáp, cũng làm một tổng thuộc về huyện Giao Thủy, còn bao nhiêu tùy gần tổng nào thuộc vào tổng ấy. Đến như nhà cửa trâu bò, cày bừa lượng lấy tiền công chi cấp cho.


Lại thấy huyện Yên Khánh, Yên Mộ thuộc Ninh Bình, đối ngạn với huyện Nam Chân trấn Nam Định, theo một dải bờ biển còn nhiều nơi bỏ hoang. Nguyễn Công Trứ lại đến ngắm đo đất phân phối cho dân đinh không phải theo chế độ “Công điền quân cấp” như ở Tiền Hải mà theo chế độ “Tư điền quân cấp”. Theo chế độ này, người chia được hưởng một đời, nhưng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền mua bán. Khi người được cấp ruộng chết đi, nếu không có con trai hoặc có con trai nhưng chưa đến tuổi thành đinh thì phải trả lại ruộng đó cho làng. Ruộng mới khai hoang sau 3 năm mới phải nộp thuế. Về số lượng, ruộng đất bình quân cho mỗi đihh theo chế độ tư điền quân cấp là 10 mẫu, tuy nhiên con số này có dao động ít nhiều ở từng lý, ấp, trại.


Chia đất xong cả thảy được 3 lý, 22 ấp, 24 trại và 4 giáp, số dân 1260 người, số ruộng 14,620 mẫu, chia làm 5 tổng, đặt riêng một huyện gọi là huyện Kim Sơn, thuộc vào phủ Yên Khánh, đạo Ninh Bình. Nhà cửa, lương tháng, trâu bò, cày bừa lượng lấy tiền công chi cấp cho. Số tiền 34 quan mua được một con trâu trị giá 30 quan, 1 cày trị giá 2 quan 5 tiền và 1 bừa trị giá 1 quan 5 tiền. Ngoài ra cứ 5 đinh còn được cấp 1 cuốc, 1 thuổng và 1 liềm.


Nguyễn Công Trứ lại dâng sớ xin lập Quy ước, khiến cho dân biết kiềm thúc lâu cũng nên thói hay được. Một là lập nhà học (đặt ruộng học tha thuế khiến dân cày ruộng để làm học bổng, học trò 8 tuổi phải vào học). Hai là đặt xã thương; chăm dạy bảo dân làm ăn. Ba là cẩn việc phòng giữ. Bốn là nghiêm việc khuyên răn. Minh Mạng khen phải.


Khi cử chức Tri huyện, triều đình bổ Tri huyện Quỳnh Lưu là Võ Danh Dương, người trấn Sơn Nam làm Tri huyện Tiền Hải. Nhận thấy Danh Dương tuy đỗ đạt nhưng không am hiểu việc canh nông, không cai trị nổi một huyện mới lập, nên Nguyễn Công Trứ và Nguyễn Nhược Sơn bảo cử cho Phí Quý Trại làm Huyện thừa huyện Tiền Hải, để giúp đỡ Tri huyện trong việc bảo ban dân chúng làm ăn. Triều đình ưng thuận.


Xong xuôi công việc, Nguyễn Công Trứ về kinh phục mạng. Minh Mạng thăng ông lên chức Thự tham tri.


Cứ tưởng mọi điều êm thấm, ngờ đâu Thị lang Hoàng Quýnh vì hiềm cũ lại dâng sớ cáo giác ông và Nguyễn Nhược Sơn về việc đề cử Phí Quý Trại, một tên quyền sai đội trưởng không phải là khoa mục xuất thân làm Huyện thừa huyện Tiền Hải, chắc là có ăn hối lộ của y nên mới làm chuyện đó. Khi Minh Mạng hỏi thì Nguyễn Công Trứ thản nhiên tâu:


- Tâu bệ hạ, khi tôi ra đôn đốc việc khẩn hoang, đã nhận thấy rằng chỉ khử chua rửa mặn cho đất không đủ, mà còn phải đưa nước ngọt vào thì ruộng mới cày cấy được. Tôi bảo cử Phí Quý Trại vì y là người biết làm việc, mang lại lợi ích cho dân cũng như đưa nước ngọt vào đồng, để lúa thêm tươi tốt, chứ không có ý gì khác.


Minh Mạng truyền giao cái án này cho Cơ mật viện xét. Các triều thần vốn ghen ghét Nguyễn Công Trứ thừa dịp khép thành bản án: Nguyễn Công Trứ phải giáng làm Tri huyện ở kinh, Nguyễn Nhược Sơn bị giáng làm Huyện thừa huyện Tiền Hải, còn Phí Quý Trại bị cách chức đuổi về dân tịch. Minh Mạng y án.


Vụ án này làm cho Nguyễn Công Trứ sáng mắt ra. Giờ đây ông mới hiểu, trước đây Tả quân Lê Văn Duyệt chắc đã bảo cử cho ông với vua Gia Long, nhưng vua không dùng vì lúc thái bình vô sự, muốn tiến thân nhất thiết phải qua con đường khoa cử, đâu có như trong thời loạn, vua Gia Long phải bôn tẩu chạy qua cả Mỹ Tho quê Lê Văn Duyệt để ông Duyệt xin đi theo, mới có chuyện “rồng mây gặp hội”. Một người công lao hiển hách như Lê Văn Duyệt bảo cử cho ông mà còn không đắt, huống hồ ông lại dám bảo cử cho một thầy đội không đỗ đạt gì lên làm Huyện thừa, bị tội là đáng kiếp.


Nhưng ông không lấy làm buồn, vì sau khi cái cơ ngơi đồ sộ ở Tiền Hải, Kim Sơn lập nên, dân chúng nhìn cánh đồng thẳng cánh cò bay đến mút tầm mắt, đã hát véo von ca ngợi công đức của ông:


Nước lã mà vã nên hồ


Tay không mà nổi cơ đồ mới ngoan.


Lời khen ngợi từ cửa miệng dân gian, phổ vào câu hát truyền tụng nghìn đời, là phần thưởng quý giá nhất với ông giúp ông quên đi những gập ghềnh, rủi ro trên bước đường hoạn lộ.


(còn tiếp)


Nguồn: Vua Minh Mạng. Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học , 2006.


 


 







(1) Cuối năm hết tháng.




(1) Anh hùng “rơm”




(1) Chiếu chỉ của thiên tử đồng âm với chiếu đắp.




(2) Năm 1804




(1) Năm 1819.




(2) Năm 1820.




(3) Thuộc Hải Dương.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 26.04.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 16.04.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
Hà Nội xưa và nay - Bạch Diện Nguyễn Văn Cư 04.04.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 30.03.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
Hòn đất - Anh Đức 14.03.2017
Một chuyện chép ở bệnh viện - Anh Đức 14.03.2017
xem thêm »