tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19682501
Tiểu thuyết
10.04.2009
Hoài Anh
Vua Minh Mạng

IX. Để khuyến khích nông nghiệp, Minh Mạng cho phục hồi một số nghi lễ liên quan đến nông nghiệp như “Lễ tiến xuân ngưu”, “Lễ cày Tịch Điền”.


Theo chỉ dụ của vua Minh Mạng, hàng năm sau tiết đông chí, ngày Thìn, các quan Khâm thiên giám nhóm họp tại Võ khố, dùng đất nặn những con trâu và Thần Nông, lấy cành dâu làm sườn, rồi chiếu theo trong lịch để tô màu sắc. Gần đến ngày Lập Xuân, Khâm thiên giám và bộ Lễ phải tâu vua biết trước ngày Tế Xuân.


Trước lễ hai ngày, các quan Thừa Thiên dựng một cái đài gần cửa Chính Đông (cửa Đông Ba). Đài trở mặt về hướng đông. Cũng trong ngày hôm ấy, lính vào trong Võ khố gánh trâu và Thần Nông qua để tại một căn phòng phủ Thừa Thiên.


Hôm sau, Thần Nông và trâu được rước từ phủ Thừa Thiên về cửa Chính Đông. Một số quan văn võ như Đề đốc, Phủ doãn, Phủ thừa, nhân viên phủ mặc lễ phục cùng quân lính mặc áo dấu, cầm gươm giáo, cờ quạt, tàn lọng dự vào đám rước. Khi đoàn đến cửa Chính Đông thì một buổi lễ đơn giản được cử hành ngay lúc ấy. Tế xong, trâu và Thần Nông lại được gánh vào bộ Lễ.


Đúng vào ngày Tế Xuân, từ sáng sớm, các quan bộ Lễ và phủ Thừa Thiên rước trâu và Thần Nông qua cửa Tả Đoan đến trước cửa Thiên Thọ thì dừng lại. Một viên thái giám vào tâu vua vua biết đám rước đã đến. Vua chỉ biết chứ không tham dự buổi lễ. Thế rồi đám rước lại trở ra và khi đi đến bộ Lễ thì viên quan đánh vào trâu đất ba roi, tiêu biểu cho việc thôi thúc trâu chăm lo cày bừa.


Lễ Tế Xuân cử hành xong thì trâu và Thần Nông đều gánh về để tại Võ khố. Qua năm sau, lại có dụ ấn định rằng trâu và Thần Nông tế xong, phải chọn đất để chôn.


Lễ cày Tịch Điền được Minh Mạng rất chú ý. Vua nói với quần thần:


- Đời xưa, vua cày ruộng tịch điền để lấy gạo làm xôi tế Giao Miếu, nhân thể để xét thời tiết làm ruộng, khuyên giúp nông dân, thực là việc lớn trong vương chính. Cái điển “ba đường cày” còn ghi chép trong sách vở. Nước ta đời Trần, đời Lê hoặc có làm nghi điển, nhưng có phần giản lược. Trẫm từ khi thân chính đến nay, chăm nghĩ đến dân, thường lấy việc dạy bảo chăm nghề gốc làm gốc. Hôm nay triều đình nhàn rỗi, giảng tìm phép xưa, thực là việc nên làm trước.


Trước ngày lễ một hôm, tại cửa Tả Đoan Môn đã đặt sẵn sáu cái thể đình (giống như cái bàn, chung quanh phủ lụa). Một viên quan phủ Thừa Thiên vào Võ khố lấy cày bừa và thúng thóc của vua, đem đặt bên bàn thờ đặt tại điệnCần Chánh, (cày bừa của các quan để cả trên những cái thể đình tại Tả Đoan Môn). Một viên quan khác rước hoàng đế ra xem cày bừa và khi xem xong thì viên quan này đem đặt cả ngay lên long đình để quân lính gánh ra sở Tịch Điền. Có cả một đoàn quân lính gươm giáo cờ quạt theo hầu long đình. Đến nơi, long đình đặt gần đế tịch, tức chỗ vua đứng cày.


Các thể đình cũng từ cửa Tả Đoan Môn gánh ra và đặt tại chỗ các quan dự lễ gọi là quan tịch.


Hôm lễ, trời mới mờ mờ sáng, chiêng trống vang lừng, quan lại, dân chúng sắp hàng hai bên đường từ điện Khánh Minh ra đến Tịch Điền. Trên con đường này và chung quanh Tịch Điền, cờ xí la liệt, có voi ngựa đứng hầu, lại thêm 8 nhạc công, 30 người mang cờ ngũ hành, mặc áo đỏ, đầu chít khăn, chân đi hia đứng đàn hầu và 14 người con hát hát bài Hòa từ, thuật lại việc vua ra cày ở Tịch Điền.


Đúng giờ Mão, một viên quan trong bộ Lễ tâu vua biết mọi việc đã xong xuôi. Vua đội mũ cửu long, mặc áo vàng. Khi vua ra khỏi cung thì có bảy phát súng lệnh được bắn lên, báo hiệu vua đã khởi hành.


Tới nơi hành lễ, vua rửa tay rồi bắt đầu dự lễ, tế ba tuần rượu. Tế xong, vua sang nhà Cụ phục để thay áo. Ban nhạc theo hầu ngự từ cửa Đại Cung Môn nhưng chỉ là nghi thức, mãi đến khi vua tế rượu xong mới cử nhạc. Giờ đây vua đội một chiếc khăn gọi là đường cân, mặc áo chẽn. Quan Thượng thư bộ Hộ vào nhà Cụ phục rước vua ra cày. Một viên quan quỳ xuống trao cho vua chiếc cày sơn màu vàng. Một viên quan khác trao chiếc roi. Tay phải cầm cày, tay trái cầm roi, vua lại có bốn bô lão chức sắc trong làng giúp đỡ trong việc cày, và dắt hai con bò phủ lụa vàng. Quan Phủ thừa và một số quan bộ Hộ đi theo sau vua, kẻ mang thúng thóc, người vãi hạt giống. Khi vua cày xong ba đường, một viên quan quỳ xuống để tiếp nhận chiếc cày do vua trao lại. Quan Phủ doãn nhận chiếc roi. Cày và roi đều đem về để lên long đình. Vua đi đến nhà Quan canh, ngồi vào ngai vàng xem quan lại cày. Hoàng thân cày 10 đường (5 vòng đi, 5 vòng về), các quan văn võ 18 đường. Trong khi cày, có các bô lão, các nhà nông giúp đỡ. Ngoài vua và các quan, còn có một số chức sắc trong làng, những người chuyên về nông nghiệp tham dự, họ sắp hàng trước nhà Quan canh làm lễ 5 lạy đoạn cùng nhau ra cày. Cày sơn màu đỏ.


Lễ xong, vua trở về Đại Nội, lên ngồi trên ngai, các quan làm lễ chúc mừng. Những người tham dự đều được thường vàng lụa.


Cày bừa đều cất vào Võ khố, bò trâu giao cho dân làng Phú Xuân để tiếp tục cày ruộng Tịch Điền. Lúc lúa chín, quan phủ Thừa Thiên tự trông coi việc gặt hái, cùng với một viên quan bộ Hộ chọn hạt giống để gieo vào lễ Tịch Điền năm sau.


Gạo và nếp chứa vào nhà Thần Thương để dùng vào việc cúng tế Nam Giao hoặc tế các thần, các lăng miếu.


Minh Mạng luôn luôn quan tâm đến công việc khuyến nông nhằm phát triển kinh tế nông nghiệp, hy vọng đạt đến cảnh dân an nước thịnh. Ngay từ khi mới lên ngôi, năm 1821, Minh Mạng cho khơi vét lòng sông An Cựu ở kinh đô Huế và cho đổi tên là sông Lợi Nông. Con sông này, nguyên được đào từ năm Gia Long thứ 1 (1802), lấy nước sông Hương dẫn thông đến cửa Thuận, đến mùa nước cạn, tát nước tưới ruộng rất lợi cho dân nên vua ban cho tên ấy. Năm thứ 6 (1825), Minh Mạng sai Phó đô thống chế Phan Văn Thúy điều khiển việc đào sông Vĩnh Định thuộc Quảng Trị. Vua ban dụ rằng: “Đào sông ấy có thể thông thương các đường thủy nối liền Thừa Thiên - Quảng Trị mà lại tiện công việc nhà nông”. Cùng năm đó Minh Mạng lại sai Phó đô thống chế Trương Văn Minh điều khiển việc đào thêm con sông Vĩnh Điện tại Quảng Nam để cho nhân dân trong vùng có nước làm nông nghiệp.


Năm Minh Mạng thứ 14 (1833), tháng 7, trong kỳ có mưa, Minh Mạng triệu Phủ doãn Thừa Thiên là Trần Tú Dĩnh vào hỏi rằng: “Mùa lúa như thế nào?”. Tú Dĩnh tâu: “Hơi được mưa thấm nhuần”. Vua phán rằng: “Nếu trong tháng 8 mà không bị lụt, thì có thể hy vọng lúa mùa thu tốt nhưng việc đáng lo là lo mùa hạ bị hạn đã lâu, sợ bị lụt vào mùa thu chăng?”.


Ít ngày sau, thấy trời không mưa, vua triệu Trần Tú Dĩnh vào hỏi hằng: “Gần đây không mưa, lúa ruộng ra sao?”. Tú Dĩnh tâu: “Ruộng thấp còn đỡ, còn ruộng cao thì bị khô nẻ”. Vua phán rằng: “Lúa đang trổ bông mà bị hạn, trẫm rất buồn lo mà nay cũng gần đến kỳ mưa, lại còn sợ mưa lụt làm dân bị thiệt hại”.


Tháng 8, trong kỳ mưa lụt. Vua lại triệu Trần Tú Dĩnh vào hỏi về tình hình ruộng đất. Tú Dĩnh tâu: “Tuy nước lụt chưa lớn lắm, nhưng lúa ruộng gần chín mà bị gió đàn lướt”. Vua bèn ra lệnh cho Tú Dĩnh đi khám xét về việc ấy. Nhân đó vua ra lệnh phò ngự ra cột cờ trước cửa Ngọ Môn để xem nước lụt. Kịp đến khi Tú Dĩnh trở về, vua hỏi: “Lúa ruộng so với năm ngoái như thế nào?” Tú Dĩnh tâu: “Kém hơn độ một vài phần. Lúa này lại ở giữa tháng 8 này, ví bằng xảy ra vào thời gian giữa tháng 7 và tháng 8, thời mùa màng sẽ còn bị tổn thương nhiều hơn nữa”.


Tháng 10, thấy trời lại tạnh nắng, vua triệu Trần Tú Dĩnh vào hỏi rằng: “Nay trời tạnh nắng, trong dân gian có ý nghĩ gì không?”. Tú Dĩnh tâu: “Sau khi mưa tạnh, thời mùa nắng tươi tốt, dân đều vui mừng về việc nghề nông được thuận tiện”. Vua lại phán hỏi thêm rằng: “Hoa lợi trong dân gian thường trồng thứ gì?”. Tú Dĩnh tâu: “Khoai và đậu”. Vua phán rằng: “Sao không trồng giống lúa hột đỏ?”(1). Tú Dĩnh tâu: “Sợ nay mùa đông thời tiêt lạnh, trồng lúa ấy không hợp thời nghi”. Vua phán rằng; “Nay mới bắt đầu mùa đông, chưa lạnh, lúa gạo đỏ còn có thể trồng được. Trẫm thường ra lệnh trong hậu cung trồng lúa ấy, bắt đầu trồng tháng 8 thời tháng 10 đã chín, còn trồng vào tháng 9, tháng 10 thời nay đã tươi tốt, công việc trồng trỉa giản dị mà cũng có thể đỡ đói được”.


Vua lại sai đem cơm gạo ấy cho đình thần xem cùng cho ăn, lại ra lệnh cho Phủ doãn Thừa Thiên khuyên bảo dân nên trồng nhiều giống lúa ấy.


Mùa đông năm Bính Tuất(2), các trấn Sơn Tây, Bắc Ninh, Hải Dương đã phải tai nạn, còn Sơn Nam, Nam Định thì lại đói to.


Tháng ba năm Đinh Hợi(3), vua Minh Mạng sai Thống chế lãnh trấn thủ Nghệ An là Nguyễn Văn Hiếu, Hình bộ thượng thư là Hoàng Kim Xán, đi kinh lược trấn Sơn Nam và Nam Định, Thân Văn Duy tham tá việc kinh lược.


Tháng tư, các quan kinh lược đến Nam Định. Xét việc kiện cáo và việc gian tham, quan lại ai cũng sợ hãi. Chánh án Nam Định là Phạm Thanh, thư ký Bùi Khắc Kham, bị dân tố cáo về tội tham nhũng, quan kinh lược sai giải đến chợ chém ngang lưng, tịch thu gia sản phát cho dân chúng. Tri phủ Nguyễn Công Túy tham tàn, phải tội chết, lại xét Đồng tri phủ Ứng Hòa Phạm Thọ Vực, Tri huyện Đại An Ngyễn Văn Nghiêm để nha lại làm điều tệ, phải bãi chức cả. Còn người nào không xứng chức, cũng phải bãi về hết.


Sau khi trừng trị bọn tham quan ô lại, dân chúng đều vui mừng. Nhưng đến tháng bảy năm ấy, Bắc thành lụt lớn, Sơn Tây, Sơn Nam và Nam Định vỡ đê, ruộng ngập, người chết đuối nhiều. Dân chúng điêu linh phải bỏ quê hương xiêu tán đi các nơi. Nhiều người không chịu nổi, tụ họp nhau lại chống với quân triều đình, chia nhau đi đánh phá các phủ huyện, rồi rút về ẩn nấp trong những bụi lau sậy um tùm và những lạch nước nhỏ trên bãi ăn thông ra biển, quân lính không sao mà bắt được.


Tin đưa về đưa triều đình. Vua Minh Mạng sai đình
thần họp bàn. Nhiều vị đại thần xin nên đem quét sạch bọn “giặc cỏ”, bắt được tên nào thì đem chém ngay, không để
sót lại một mống nào, vì “trảm thảo lưu căn, xuân lai tất phát”(1).


Nhưng Thị lang Nguyễn Công Trứ bước ra tâu:


- Tâu bệ hạ, hạ thần vừa phụng chỉ ra coi việc hình án ở Bắc thành về, nên biết được dân tình. Dân chúng sở dĩ chống lại triều đình là bởi bọn quan lại tham tàn, chỉ lo vơ vét bóc lột mà không chăm sóc đến đường sinh kế của dân, để họ được sống no ấm, yên vui. Trừng trị bọn tham quan ô lại là cần thiết nhưng cũng cần thay vào đó những người giỏi, hết lòng lo lắng giúp đỡ cho dân làm ăn, chống với thiên tai hạn lụt, biết cách canh tác khiến cho đồng ruộng được mùa, liền năm phong đăng hòa cốc. Thánh thượng từng ban các điều giáo hóa cho dân chúng, nhưng như đức thánh Khổng đã nói: “Phú chi, giáo chi”(1), làm người ta giàu rồi sẽ dạy người ta, xin bệ hạ xét cho.


Minh Mạng thấy lời Nguyễn Công Trứ có ý châm chích mình, cau mày lại tỏ vẻ không bằng lòng. Thị lang Hoàng Quýnh vốn có hiềm riêng với Công Trứ, thừa dịp quỳ xuống tâu rằng:


- Tâu bệ hạ, trước đây Nguyễn Công Trứ từng dâng sớ ba điều: Một là nghiêm phép cấm để tuyệt bọn trộm cướp. Hai là có thưởng phạt để răn quan lại. Ba là khẩn ruộng hoang để giúp cho dân nghèo. Xin thánh thượng cứ cho Nguyễn Công Trứ đi làm những công việc ấy, Trứ không làm nổi thì xin bắt tội đã bàn suông tán hão, lại còn đại ngôn báng bổ triều đình.


Minh Mạng nói:


- Được! Ta giao cho Trứ lo liệu việc khẩn hoang, nếu việc thành ta sẽ ban thưởng, còn nếu không được việc, ta sẽ nghị tội sau.


Dứt lời, vua bãi triều.


Đêm ấy, Nguyễn Công Trứ trằn trọc không sao ngủ được. Muốn tổ chức côngcuộc khẩn hoang thành công, phải có biện pháp cụ thể, chuđáo. Thời Gia Long cũng có tổ chức khẩn hoang nhưng chỉ lẻ tẻ, vụn vặt, chưa tiến hành đại quy mô, như năm Gia Long thứ hai (1803) cấp tiền gạo cho dân khai khẩn đất hoang ở Gia Định, năm thứ 9 (1808) cho Nguyễn Huỳnh Dức khai khẩn 30 mẫu ruộng hoang ở trại Phương Lan, được miễn thuế; năm thứ 11 (1810) theo đề nghị của Nguyễn Đức Xuyên cho dân đắp đập ngănmặn ở vùng đầm thuộc hai xã Dương Nỗ và Quy Lai để thành ruộng cày cấy, sau khi thành ruộng, theo lệ công điền thu thuế. Chỉ làm rỏ giọt như vậy, kết quả không thấm tháp vào đâu, dân đói vẫn hoàn đói. Khi gặp nạn đói kém, dân nghèo phải bán những mảnh ruộng của mình cho nhà giàu với giá rất hạ, hoặc vay vài đấu gạo và hứa sẽ trả gấp 4 lần trong mùa gặt tới, thành thử số thóc sắp thu hoach chỉ đủ để trả các món nợ. Thấy dân đói, triều đình cho mở những vựa lúa trong trấn để phát chẩn cho dân chúng. Nhưng việc bố thí đã thực hiện quá sớm, hỗn độn và bất lương: bắt đầu từ tháng 11, 12 và khi nạn đói lên đến cực điểm thì các vựa lúa đã trống rỗng. Thêm nữa, khi phát chẩn, dân chúng: chen lấn nhau đến nỗi nhiều người bị xéo đạp, và chín phần mười số người đi lĩnh chẩn phải trở về tay không, mặc dầu phải chờ đợi lâu và đói lả khi về đến nhà. Có lần Lê Đăng Doanh được Minh Mạng sai đến Thanh Hóa phát chẩn. Bọn Doanh đến rơi, dân đói đến lãnh chẩn càng nhiều, có người chưa đến nơi đã chết, có nơi tranh nhau sang đò chết đuối đến 600 người, có người phơi nắng dầm sương ngồi chờ mà chết. Sau hết, khi các quan chức trích gạo trong kho Nhà nước để phát chẩn cho dân nghèo cũng không quên trích một phần để làm giàu cho bản thân họ.


Có khi triều đình cho dân vay lúa cứu đói nhưng lại đề ra nguyên tắc: chỉ những người có ruộng chỉ mới được vay, ai có ruộng nhiều thì được vay nhiều, ai có ruộng ít thì được vay ít. Một số quan lại tâu: “Cho vay lúa mà kể theo số ruộng thì người không có ruộng không được nhờ ơn”. Nhưng Minh Mạng giải thích: “Trong dân tài lực không đều, xưa nay như vậy. Cho vay lúa nhiều thì giá lúa hạ, người không có ruộng cũng được nhờ ơn”. Tuy vậy, giá gạo vẫn quá đắt, dân vẫn cứ chết đói đầy đường.


Biện pháp cho vay lúa còn tạo điều kiện cho địa chủ cường hào được dịp đầu cơ, bóp nặn dân đói. Trong một bài sớ của Nguyễn Công Trứ dâng lên vua có đoạn nói: “Cái hại quan lại là một, hai phần mười, bởi vì quan lại chẳng qua là kiếm lợi nhờ ở giấy tờ, đòi tiền ngoại lệ ở thuế khóa, cái hại gần và nhỏ, việc đã phát lộ thì giáng cách ngay rồi cũng biết hối. Còn cái hại cường hào nó làm cho con cái người ta thành mồ côi, vợ người ta thành góa bụa, giết cả tính mạng người ta, kiệt cả gia tài người ta mà việc không lộ, cho nên cứ công nhiên không kiêng sợ gì”.


Đời sống cơ cực thê thảm xô đẩy hàng vạn gia đình nghèo khó phải bỏ quê hương làng mạc đi lưu vong phiêu tán, có vùng hàng trăm thôn xã vắng bóng người.


Không chiêu dụ được dân phiêu lưu trở về với ruộng đất, triều Nguyễn đành phải chuẩn y cho hàng loạt diện tích trong làng xã được liệt vào loại “ruộng hoang phế”. Triều Nguyễn cũng phải chính thức thừa nhận sự tồn tại của bộ phận dân lưu vong, coi là một hiện tượng không thể khắc phục được và đặt tên là “hạng phiêu lưu”.


Sau khi suy nghĩ chín chắn, cặn kẽ, Nguyễn Công Trứ liền viết bản điều trần “Khẩn hoang ruộng để yên nghiệp dân nghèo”. Mở đầu ông viết:


“Đời làm ăn xưa, chia ruộng định của, dân có nghiệp thường, cho nên ở nơi làng mạc, không có gian tà. Ngày nay, những dân nghèo túng, ăn dưng ngồi không. Khi cùng thì họp nhau trộm cướp, cái tệ không ngăn cấm được. Trước thần đến Nam Định, thấy ruộng bỏ hoang ở các huyện Giao Thủy, Chân Định mênh mông bát ngát, hỏi ra thì dân địa phương muốn khai khẩn, nhưng phí tổn nhiều công sức. Nếu cấp tiền công thì có thể nhóm họp dân nghèo mà khai khẩn, Nhà nước phí tổn không mấy mà cái lợi tự nhiên sẽ vô cùng. Phàm các hạt xét thấy những dân du đãng không bấu víu vào đâu, đều đưa cả vào đây. Như thế thì đất không bỏ hoang, dân đều làm ruộng, phong tục kiêu bạc lại thành thuần hậu”.


Tiếp đó, Nguyễn Công Trứ đề ra biện pháp cụ thể: “Đem số ruộng hoang cho những người giàu có trông coi làm, mộ được 50 người thì làm một ấp, cho làm ấp trưởng, đều tính đất chia cho. Cấp cho tiền công để làm nhà cửa, mua trâu bò nông cụ, lại lượng cấp tiền bạc lương tháng trong hạn sáu tháng, ngoài hạn ấy thì làm lấy mà ăn. 3 năm làm ruộng đều chiếu theo lệ tư điền mà đánh thuế. Trong số đất khẩn hoang được cứ 100 mẫu (trừ đình chùa, thổ trạch đất mạ 30 mẫu, còn thành điền 70 mẫu). Trong số 15 mẫu thì định làm nhất đẳng 1 mẫu, nhị đẳng 2 mẫu, tam đẳng 10 mẫu”.


(còn tiếp)


Nguồn: Vua Minh Mạng. Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học , 2006.







(1) Tức lúa ba giăng (trăng); lúa từ lúc gieo đến lúa gặt chỉ có ba tháng.




(2) Năm 1826.




(3) Năm 1927.




(1) Phát cỏ để sót rễ, mùa xuân tới lại mọc.




(1) Làm cho dân giàu rồi dạy họ, lời của Khổng tử trong Luận ngữ.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 19.06.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 27.05.2017
Evghenhi Ônheghin - ALEKSANDR Sergeyevich Pushkin 15.05.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 11.05.2017
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 08.05.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 05.05.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
xem thêm »