tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18518236
Tiểu thuyết
06.04.2009
Hoài Anh
Vua Minh Mạng

Thái hậu lại nói:


- Ta xem trong số các phi chỉ có Hiền phi tên Chính là đoan trang phúc hậu hơn cả. Còn trong hàng tần thì hụctần tên Bửu là giỏi văn chương thơ phú. Thục tần thường vào chầu ẵm theo cháu Miên Thẩm(1) đứa nhỏ đã thuộc lòng vanh vách thơ Đường, chắc là do mẹ nó dạy nó. Được vợ hiền con giỏi là phúc lớn Trời ban, con không nên say mê tửu sắc để trong nhà được luôn vui vầy ấm áp.


Minh Mạng cúi đầu xin tuân theo lời mẹ.


Sau điện Cần Chánh là điện Trung Hòa làm năm Gia Long thứ 10 (1811). Điện xây về hướng nam, nền cao 2 thước 3 tấc, chính tịch 7 gian, tiền tích hậu tịch đều 9 gian, đông tây có hai hiên. Mặt trước và sau mỗi mặt có ba bệ đá để lên xuống, tả hữu mỗi bên một bệ. Điện làm theo kiểu trùng thiềm trùng lương, lợp ngói hoàng lưu ly, trên nóc và mấy đường quyết trang sức bằng pháp lam.


Trước điện là một cái sân rộng, giữa có đường dũng đạo lát đá, trước sân có ao sen rồi đến một cái bình phong, sau bình phong là nơi vua ở.


Khoảng giữa điện Trung Hóa và điện Cao Minh Trung Chính, bên tả có viện Dưỡng Tâm làm năm Gia Long thứ 9 (1810) xây về hướng đông, trùng thiềm, lợp ngói âm dương, là nơi vua đến nghỉ ngơi xem sách khi nhàn rỗi.


Phía đông viện Dưỡng Tâm có Thanh Hạ thư lâu xây về hướng tây, phía bắc thư lâu có Đạm Như thi xá xây về hướng bắc.


Về phía đông có vườn Thiệu Phương làm năm Minh Mạng thứ 9 (1828), chung quanh có tường bao bọc, cửa chính xây về hướng nam, giữa vườn có hồi lang đi ra bốn phía và tiếp mái với nhau như hình chữ “Vạn” nên gọi là Vạn Tự hồi lang, nơi bốn góc hồi lang dùng hai đường, hai hiên. Tây nam đường gọi là Di Nhiên đường xây về hướng nam. Đông bắc đường gọi là Cẩm Xuân đường xây về hướng bắc. Tây bắc hiên gọi là Hàm Xuân hiên xây về hướng hướng tây. Phía tây Vạn tự hồi lang có hai lạch nước gọi là Ngự câu, trên bờ đông của lạch có núi trích thúy.


Sau một đêm, mỗi canh có một cung nữ hầu “ngự ngơi”, Minh Mạng thường dậy vào khoảng giữa giờ Mão. Năm thị nữ chia nhau thay quần áo, trang điểm chải chuốt từng nếp áo, từng móng tay của nhà vua, đồng thời sắp xếp từng đồ vật xung quanh sao cho thật đẹp đẽ.


Các cung nữ mặc áo rộng màu đỏ hoặc màu lục, tóc rẽ giữa, bịt khăn để hai mái tóc vòng xuống như hình cánh cung, thay nhau vào điện Trung Hòa - nơi vua ở để chầu thỉnh vua.


Các thái giám mặc áo dài bằng lụa xanh dệt cái hoa ở mảng trước ngực bưng đến những bình đồ ăn đậy kín, ngoài có dán nhãn ghi tên. Có 30 món ăn, do mỗi đầu bếp ở Thượng Thiện Đường phụ trách một món. Ngoài những cao lương mỹ vị như yếu sào, nem công, vi cá, bào ngư, cửu khổng, chả phượng, còn có những món thường xuyên như gà tần, cá dìa, cá đối hấp, gà quay lò cả con, tôm rồng, bồ câu hầm, chả nướng, chân heo ninh, ngỗng quay... Vua chỉ ăn một mình, thích món gì thì chọn món ấy, đồ ăn được đựng trong chén kiểu. Gạo vua dùng phải thật trắng, là gạo gie An Cựu chọn lựa từng hạt, nấu trong một om đất do làng Phước Tích sản xuất, mỗi om đất chỉ được sử dụng một lần. Đũa vua dùng bằng tre hay bằng kim giao phải thay đổi hàng ngày.


Khi “ngự thiện”, Minh Mạng uống rượu thuốc “Minh Mạng thang” để kích thích tiêu hóa ăn cho ngon miệng. Toa thuốc này còn có tên “nhất dạ ngũ giao tam hữu dậng” (một đêm ngủ với 5 bà, 3 bà có bầu). Toa thuốc do quan Ngự y Lê Quốc Chước bắt mạch, bốc thuốc và đích thân sao ngâm thuốc dâng lên. Thang thuốc này cấm chỉ việc sao chép, nhưng vì nó quá thần hiệu, bên các quan trong triều cũng bí mật sao chép để dùng riêng, có người nói trong đó có những vị như sa sâm, câu kỷ tử, bạch truật, đào nhân, đương quy, mộc qua, thục địa, tục đoạn, phòng phong, nhục quế, tần giao, độc hoạt, bạch thược, trần bì, khương hoạt, phục linh, đại hồi, cam thảo, đại táo, xuyên khung, đỗ trọng, thương truật.


5 cung nữ chia nhau quạt lông, chước tửu, đàn hát hầu vua. Vua ăn xong, lại dâng tăm bông. Tăm làm bằng loại tre rất tốt, thân chuốt tròn, một đầu vót thon dần cho thành mũi nhọn ở đầu kia. Dầu lớn của tăm được chẻ thành hàng trăm mảnh nhỏ như sợi chỉ, dập dập cho mềm rồi lật ngược ra xung quanh đầu tăm. Đầu nhọn dùng để xỉa răng, đầu mềm dùng để chùi răng cho sạch.


Một bà phi bưng một khay đựng bánh tráng, bánh trứng chim, bánh khảo, bánh gai dâng cho vua tráng miệng. Những bánh này do các bà thay nhau mua sắm, làm ra đế cung tiến. Bữa nay đến lượt bà Hiền phi dâng bánh. Bà tên Ngô Thị Chính, con của Chưởng cơ Ngô Văn Sở.


Sau khi bà Chính phi Hồ Thị Hoa sinh Hoàng trưởng tử Miên Tông rồi mất, bà Hiền phi và bà Lễ tần Nguyễn Gia thị con của phó vệ úy Nguyễn Gia Quý là hai vương phi được Minh Mạng sủng ái nhất.


Hiền phi khép nép tâu:


- Tâu Ngài Ngự, bánh của thần thiếp làm có vừa miệng Ngài Ngự không ạ?


Minh Mạng cười!


- Bánh của Phi làm rất ngon, nhưng ăn mãi cũng chán miệng. Nếu Phi làm được những thứ bánh dân dã như bánh bèo, bánh nậm, bánh khoái cho ta ăn đổi món thì rất hay.


Minh Mạng còn nhớ hồi mình còn nhỏ đã có lần được ăn một bữa bánh bèo ở quán dưới chân núi Ngự Bình. Từng chén bánh bột lọc trắng trong trên rắc tôm chấy vàng cùng hành phi, tép mỡ rụm dòn lại chấm bằng thứ nước chấm đặc biệt là nước mắm thứ gộc, hòa trộn với mỡ, đường, tỏi, ớt giã nhỏ thơm cay. Nhìn những cánh hoa bèo trắng với nhị vàng tỏa quanh đã thích mắt, càng thích hơn khi được múc từng cánh hoa bèo trắng ấy lên để thưởng thức. Thật tuyệt vời cái hương vị mát bùi của bánh, thơm ngon của nhân nhị, ngọt ngào quyện với cay cay của nước chấm và dòn rụm dòn tan của tóp mỡ, thơm lừng mùi hành phi. Đúng là miếng ngon nhớ đời.


Hiền phi mừng rỡ:


- Muôn tâu, hồi thần thiếp còn ở nhà đã học làm những thứ bánh ấy, xin nguyện trổ nghề mọn để làm đẹp lòng thánh thượng.


- Hay lắm. Từ ngày có bà Cung trung giáo tập họ Nguyễn vào cung dậy bảo, Phi học tập có được tấn tới không?


- Muôn tâu, ngoài Tứ thơ, Ngũ kinh và Bắc sử, bà còn dạy chúng thần thiếp học làm thơ nôm, nên lớp học không buồn tẻ mà rất vui. Bà còn đọc cho chúng thần thiếp nghe bài thơ “Qua đèo Ngang” bà mới làm trên đường từ ngoài Bắc vào Kinh.


- Phi có thuộc bài thơ ấy không, đọc cho ta nghe thử.


Hiền phi cất giọng đọc:


Bước tới đèo Ngang bóng xế tà,


Cỏ cây chen đá lá chen hoa.


Lom khom dưới núi tiều vài chú,


Lác đác bên sông rợ mấy nhà.


Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,


Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.


Nghe đọc đến đây, Minh Mạng cau mày. Thì ra người tài nữ đất Bắc này vẫn còn mong nhớ nhà Lê. Nghe đến hai câu cuối:


Dừng chân đứng lại, trời non nước,


Một mảnh tình riêng ta với ta.


Vua gật gù tán thưởng. Bà Cung trung giáo tập tên là Nguyễn Thị Hinh là vợ của Tri huyện Thanh Quan Lưu Nguyễn Uẩn, nên thường gọi là bà Huyện Thanh Quan. Nghe tiếng bà là người tài năng và có đức độ. Minh Mạng mời bà vào cung để dạy các phi tần.


Người trong đội Thượng Trà bưng bộ đồ trà bằng sứ ký kiểu Trung Hoa dâng cho vua thưởng trà. Chén vẽ sơn thủy Việt Nam có đề hai câu thơ nôm của bà Thanh Quan:


Như in thảo mộc trời Nam lại,


Đem cả sơn hà đất Bắc sang.


Vừa nhấp trà, Minh Mạng vừa tủm tỉm cười, nhớ lại chuyện mấy hôm trước ông viết hai chữ “Phúc”, “Thọ” thật lớn để ân tứ cho một vị đại thần. Ông vời bà Thanh Quan vào hỏi chữ viết như thế nào. Bà khen:


Phúc tối hậu, Thọ tối trường.


Câu này có nghĩa: Phúc rất dày, Thọ rất dài. Ban đầu Minh Mạng hơi ngơ ngác, sau nhìn kỹ lại ông mới hiểu ý bèn mỉm cười và gật đầu. Thì ra bà Thanh Quan đã ngầm chê mình viết chữ Phúc báo phục phịch và chữ Thọ dài lêu đêu! Vì lời chê khéo léo và văn vẻ nên Minh Mạng không giận mà còn trọng bà hơn. Ít lâu sau, bà xin Minh Mạng miễn cho làng Nghi Tàm quê bà cái lệ tiến chim sâm cầm. Sâm cầm là một giống chim mùa thường hay về đậu hàng đàn trên mặt hồ Tây ở Bắc Thành. Thật chim ăn bổ như sâm nên gọi là sâm cầm. Bọn quan lại địa phương muốn lấy lòng vua nên buộc dân làng phải nộp sâm cầm để cung tiến, khiến dân làng phải ra sức săn bắt chim rất khổ, không có thời giờ làm công việc chài lưới, đồng áng. Nếu không đủ số chim theo lệ, thì lý trưởng bị chăng trói, đánh đập. Viện lý trưởng làng Nghi Tàm là Lý Râu thấy quan hạch không đủ số chim, đã cầm cả lồng chim đập chết, rồi nằm xuống chịu đòn thay cho dân. Mông đít Lý Râu bị roi quất lằn ngang lằn dọc, thịt nát tóe máu nhưng ông vẫn kiên gan chịu đựng. Dân làng nhớ đến bà Thanh Quan đang ở Kinh liền cử người vào gặp bà, nhờ bà nói với vua xin tha cho dân khỏi phải tiến chim sâm cầm. Minh Mạng đã nghe lời bà, bãi bỏ cái lệ đó.


Qua chuyện này, Minh Mạng càng hiểu thêm về cái tệ hà hiếp, nhũng nhiễu dân chúng của quan lại địa phương. Muốn ngăn chặn việc vơ vét, bóc lột dân của quan lại, Minh Mạng đã quy định chặt chẽ chế độ tiền lương cho quan lại. Từ chánh Nhất phẩm đến tòng Cửu phẩm cách nhau chừng 18 bậc, tiền lương cũng chênh nhau khoảng 18 đến 20 lần. Ngoài ra, tri phủ, đồng tri phủ, tri huyện, tri châu còn có khoản tiền “dưỡng liêm” từ 20 đến 50 quan tùy theo cương vị khác nhau. Nhà vua nghiêm trị bọn quan lại tham nhũng. Mặc dầu như vậy nhưng cái tệ ức hiếp, sách nhiễu dân vẫn chưa trừ bỏ được.


Hết tuần trà, Minh Mạng đến chái đông điện Cần Chánh để làm việc trong một căn phòng thoáng rộng có nhiều cửa kính. Bên cạnh một vài thị nữ cung kính đứng hầu để lo việc mài son, châm thuốc, dâng trà.


Đầu tiên, vua cầm bút son phê vào thẻ thỉnh an của các hoàng tử do thái giám dâng lên, trong đó vua cho biết tình trạng sức khỏe của mình.


Tiếp đó, vua phê các văn án. Xem đến bản án quan Tư vụ Nội vụ Nguyễn Đức Tuyên ăn bớt nhựa thông công quỹ, Minh Mạng nhớ lại trước đây có viên lại không dùng thước để gạt thăng đong thóc thuế, thường dùng tay để dễ bề lạm dụng, vua lập tức sai chặt tay tên lại đó. Vua nghĩ một viên lại nhỏ lương thấp ăn bớt của dân còn bị nghiêm trị, huống hồ Nguyễn Đức Tuyên quan lớn lương cao mà còn ăn bớt của công thì tội còn nặng hơn nhiều. Vua phê án ra lệnh chặt tay Nguyễn Đức Tuyên để răn các quan về tội tham nhũng.


Xem đến bản án người làm việc ở kho Kinh là Trần Công Trung đòi ăn tiền làm khó dễ dân chung. Minh Mạng nhớ trước đó Quảng Đức và Quảng Trị gạo đắt, triều đình cho xuất 23.000 hộc thóc để bán cho dân. Người lính kho Kinh là Đặng Văn Khuê đong thóc để bán mỗi hộc kém một vài cáp, vua liền sai chém Khuê. Minh Mạng liền phê vào bản án: “Vụ án Đặng Văn Khuê năm Minh Mạng thứ ba đã theo luật nghiêm trị, thế mà bọn Trung còn công nhiên làm bậy, không kiêng sợ gì, tuy tang vật không quá 10 lạng, nhưng luật quý ở chỗ làm cho lòng người kính sợ, nếu nhu nhơ để sổng một mạng ấy thì e sau này những kẻ khinh nhờn pháp luật sẽ nhiều ra không thể giết hết được. Truyền đem Trần Công Trung ra chém ở chợ Đông”.


Năm ấy, ở Võ khố, bạc thoi phát ra, cứ một lượng bị cắt xén mất một nửa chỉ còn chín tiền mà thôi.


Vua thấy thoi bạc nào cũng bị cắt ngắn. Kho lại là Hoàng Văn Nhẫn bị chất vấn, nhưng không chịu khai đúng sự thật và cũng không chịu thú tội. Vua tức khắc ra lệnh bắt giam đương sự giao cho bộ Hình tra xét. Bản án dâng lên, vua ra lệnh chém Hoàng Văn Nhẫn. Trong khi hành quyết tội nhân, bọn quan lại Võ Khố bị bắt buộc quỳ xuống mà xem.


Giám lâm (trưởng kho) là bọn Trần Tử Vân và Nguyễn Đăng Tín đều bị cách chức.


Không chỉ nghiêm trị những quan lại nhỏ, ngay cả các quan văn, võ cấp cao mắc tội, Minh Mạng cũng thẳng tay trừng trị.


Vệ úy Nguyễn Lương Huy và Phó vệ úy Đoàn Dưỡng chia nhau đi tuần tiễu hải phận thuộc các tỉnh Nam Định và Nghệ An. Bắt gặp thuyền người Thanh có chở lén thuốc phiện, hai ông này cho thuộc hạ ra cướp lấy thuốc phiện.


Bộ hình được vua sai xét xử và đề nghị. Vua hạ lệnh cho đình thần chiếu án thi hành: Người mang lén thuốc phiện bị xử giảo giam hậu(1). Thuyền trưởng và bọn thuộc hạ đều bị tội lưu. Thuốc phiện tịch thu nhập kho. Lương Huy bị xử trảm giam hậu. Thủ phạm Hồ Công Mão bị trảm quyết và treo đầu. Đoàn Dưỡng chưa bị bắt giam, đã chết.


Đề đốc Kinh thành là Nguyễn Văn Phương đem lính Võng thành vây bắt con bò đen, con bò chạy ra, Phương cầm súng bắn, bắn lầm phải một người lính bị thương. Minh Mạng phê án: “Pháp luật nghiêm ngặt có cho bậy bạ như thế đâu. Hơn nữa, Phong là quan võ chức to, đánh gươm bắn súng vốn là nghề nghiệp của mình, lại bắn lầm phải lính. Thử nghĩ xem quan võ bất tài như thế, còn dùng làm việc gì được. Truyền giáng bổ Phương làm Thành thủ úy đài Trấn Hải, bắt bồi thường 10 lạng bạc cho người lính bị thương”.


Khi thành Hà Tiên bị giặc đánh, Tuần phủ Trịnh Đường tham tang tới 1000 quan tiền công ở kho đem xuống thuyền chạy trốn, có viên nguyên án sát Đặng Văn Nguyên trông thấy. Đến khi tỉnh lỵ đã thu phục, Trịnh Đường lại tâu man là tiền ở kho bị giặc lấy mất. Đến đây Tham tán Hồ Văn Khuê, nhân Đặng Văn Nguyên phát giác mới chỉ đích danh tham hặc. Bản án dâng lên, Minh Mạng phê: “Trịnh Đường trước đây có lỗi đã được gạt bỏ vết xấu mà lại dùng. Để Hà Tiên thất thủ, vội bỏ thành trì đất đai mà chạy! Bản tâm của y chính là nhằm lợi dụng lúc có giặc cướp để làm gian tham đó, thực đáng ghét! Truyền xử Trịnh Đường vào tội giảo quyết(1), còn Đặng Văn Nguyên biết việc mà không tâu ngay, bị kết án trảm giam hậu”.







(1) Sau là Tùng Thiện Vương.




(1) Gio giam hu: tôi tht c nhưng còn giam li để cho phúc thm. Lưu: tôi đi đầy. Trm giam hu: ti chém đầu nhưng cho giam li, đến mùa thu năm sau gi là “thu thm”, vua xét li, có th y án, có th gim án. Trm quyết: chém ngay.




(1) Gio quyết: tht c ngay.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hà Nội xưa và nay - Bạch Diện Nguyễn Văn Cư 28.03.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 26.03.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
Hòn đất - Anh Đức 14.03.2017
Một chuyện chép ở bệnh viện - Anh Đức 14.03.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 09.03.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 09.03.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.03.2017
xem thêm »