tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21085635
Tiểu thuyết
12.07.2014
Triệu Xuân
Trả giá

“Xứ đâu thị tứ bằng xứ Kinh cùng


                        Tràm xanh củi lụt, anh hùng thiếu chi...”


     Nói lên tình nghĩa của những người đồng cảnh ngộ:


                        “Cũng là phiêu dạt theo nhau


                        Về đây chót mũi Cà Mau gặp cò...”


     Nghe câu hát ru, nhìn từng đàn cò trắng đậu kín rừng đước; mãi cho đến sau này khi đã trưởng thành, Trầm chẳng bao giờ quên những năm tháng ấy.


     Một nhà báo tố cáo với dư luận:


     “... Những ngày đen tối nhất ở miền đất cuối cùng này với các cuộc càn quét, bắn giết cực kỳ dã man diễn ra liên miên. Ngô Đình Diệm sử dụng tên ác ôn khét tiếng Nguyễn Lạc Hóa, nguyên là tàn quân của Tưởng Giới Thạch đội lốt thầy tu. Hóa xây dựng “Biệt khu Bình Hưng”, suốt ngày cho quân vây bố, hãm hiếp phụ nữ rồi chặt đầu, mổ bụng, moi gan. Có ngày, hàng chục người bị giết, bêu đầu giữa chợ. Gia đình ông Tám Sồi có chín người, chúng giết một lúc bảy người, chỉ có hai người trốn thoát...”.


     “... Ở Đầm Dơi, chúng giết một lúc mười chín người. Ở Vàm Đình, chúng mổ bụng bốn người, bắt cả ngàn đồng bào chứng kiến. Chúng bắt phụ nữ, đóng đinh chân tay vào cây thập tự rồi cho cả tốp lính hiếp tới chết. Hai thanh niên bị chúng nhốt trong lu nước rồi đổ nước sôi đóng nắp lại. Trong một đêm, ở Sông Đốc, chúng chặt đầu, mổ bụng lấy tim gan mật của tám người rồi thả xác trôi sông, trong số này có chị Danh Thị Tươi, ba mốt tuổi, là mẹ của bảy con nhỏ, một con còn đang bú. Bên bờ kinh xáng Đội Cường, chúng bêu mười đầu thanh niên và hàng chục bàn tay đã bị chặt cụt hết ngón...”.


     Chúng tự hào về Biệt khu Bình Hưng. Ngô Đình Diệm kêu bằng “Biệt khu Hải Yến” bất khả xâm phạm. Bọn Mỹ gọi đó là “ngôi sao của thế giới tự do”. Còn đối với đồng bào ta, đó là địa ngục trần gian Mỹ - Diệm - Tưởng. Tội ác của chúng chồng chất vẫn không khuất phục được ý chí của người dân Đất Mũi. Đồng bào chở che cho du kích đánh giặc đêm ngày trên sông, trong thị trấn, tận sào huyện của giặc.


     Một chiếc xuồng máy của bọn Bình Hưng bị đánh chìm trên đoạn sông uốn cong hình đuôi tôm. Chúng phát hiện ra hai du kích chạy về hướng Xẻo Đước. Nguyễn Lạc Hóa cho quân lục soát cả buổi mà không bắt được Việt Cộng. Chúng sục vào nhà Hai Mắm. Hai Mắm cùng cánh đàn ông trong ấp đi biển chưa về, Đước và Trầm đi học ở thị trấn. Chúng bắt Hường cùng sáu phụ nữ đem về Biệt khu Bình Hưng dâng cho Nguyễn Lạc Hóa. Năm ấy, Hường ba chín tuổi nhưng chị còn rất trẻ, đẹp mặn mòi. Bọn lính lùa bảy chị em xuống xuồng máy cùng với cả đống tôm cá khô, rượu, gà mà chúng vơ vét được. Nhân lúc chúng say sưa nhậu nhẹt, Hường cùng sáu chị em nhảy xuống sông. Ba người bị bắn chết ngay trên mặt sông. Ba người khác bị bắt lại và bị hãm hiếp đến chết ngay đêm hôm ấy. Duy chỉ có Hường nhờ giỏi lặn nên may mắn trốn thoát trong rừng đước. Chị cắt rừng mà đi, đi ra hướng biển. Chị đi suốt đêm, khúc sông nào cũng có bọn Nguyễn Lạc Hóa vây ráp. Đến tảng sáng, chúng phát hiện ra chị. Chị chạy đại vào rừng đước. Đây là khu rừng cổ thụ, đã bị khai thác hết cây lớn, chỉ còn lại cây nhỏ mươi năm tuổi. Hường nghe súng nổ quanh mình. Chị cắm đầu chạy. Trong đầu chị hiện lên hình ảnh Hải và con thuyền neo ở hòn đảo nhỏ ngoài khơi giữa đêm trăng mênh mông trời biển. Cái đêm họ hòa với nhau làm một, cái đêm tuyệt vời trước ngày hai vợ chồng tìm đến xứ rừng đước lập nghiệp. Hiện lên hình ảnh hai đứa con trai từ bốn giờ sáng đã thức dậy ăn cơm để chèo xuồng đi học. Cả hai giống cha như đúc. Thằng anh lầm lì hơn em. Trầm thì đa cảm, nó giống chị, hay thương người. “Phải thoát! Thà chết chứ không để rơi vào tay lũ mặt người dạ thú”. Chị tự nhủ và gắng sức vượt lên. Trước mặt chị là khu rừng lầy thụt. Đước ở đây rất to, có cây hai người ôm; vậy mà không ai dám vô đến, vì xen kẽ trong rừng đước có những bãi bùn thụt. Ai rớt xuống đó là bị chìm nghỉm ngay tức khắc.


     Bọn giặc đã đuổi rát phía sau. Không còn đường chạy nữa rồi. Hường nhắm mắt lao vào khu rừng thụt. Chị kịp chui vào bộ rễ của cây đước lớn nhất và nhận ra khoảng cách rất đều nhau theo hình ngôi sao còn bốn cây đước lớn như cây mà chị đang núp. Nghe rõ tiếng giặc la hét:


     - Nó kia rồi!


     - Bắn chết mẹ nó cho rồi! Chớ có dại mà vô rừng này, chết chìm trong sình đó!


     Một tên giặc nâng khẩu súng lên, nó bóp cò, hết một băng đạn. Chị tắt thở. Hai bàn tay bám chặt lấy rễ đước, đôi mắt rực lên căm thù cứ mở trừng trừng...


     Hai Mắm cùng bà con trong ấp Xẻo Đước mai táng Hường ở ngay điểm giữa của năm cây đước cổ thụ hình ngôi sao năm cánh. Trầm khóc hết nước mắt. Trong khi đó, mắt Đước ráo hoảnh, cả tuần liền Đước lặng câm, không nói một lời.


     Đước trốn ba, đi theo du kích, trước khi đi chỉ viết lại mấy dòng: “Ba ơi! Đau thương và căm thù quá đỗi, con lén Ba ra đi để trả thù cho Má! Ba ráng lo cho thằng Trầm học. Sau này nó sẽ đỡ khổ! Con thương Ba, nhưng con phải đi. Ba đừng giận con! Dù cho rừng này hết đước thì con cũng không quên mối thù này!”.


     Năm ấy, Đước tròn mười chín tuổi. Hai Mắm đã tròn năm mươi.


*


*    *


     Năm 1960, Lê Văn Đước dẫn tiểu đội du kích của mình cùng với lực lượng của tỉnh, tấn công bọn “Tàu phù” Nguyễn Lạc Hóa. Đước trả được mối thù cho mẹ. Biệt khu Bình Hưng tan rã, ta bắt sống bảy chục tên, thu được toàn bộ vũ khí. Ấp Xẻo Đước có phân nửa số hộ bỏ ấp vô rừng lập thành làng rừng. Ông Hai Mắm và một số bà con trụ lại vừa lo sản xuất, vừa lo tiếp tế cho làng rừng.


     Đước vừa là bí thư chi bộ của làng rừng, vừa phụ trách du kích. Gan dạ đến liều lĩnh, Đước lặn lội khắp vùng tìm giặc mà đánh. Tháng chín năm 1963, anh tham gia tấn công tiêu diệt Chi khu Đầm Dơi và Chi khu Cái Nước. Hãng Roitơ ngày 12-9 nói rằng:“Việt Cộng đã biến sở chỉ huy Đầm Dơi thành một cái nhà xác thực sự”. Cuối năm ấy, anh được Văn Bông tuyển vào đoàn vận tải quân sự theo đường Trường Sơn trên biển.


     Bốn năm trời, vừa đánh giặc, vừa xây dựng làng rừng, Đước đã học xong chương trình trung học mà anh bỏ dở để đi theo du kích. Vào đoàn vận tải quân sự, ngay từ chuyến vượt biển ra Bắc đầu tiên, Đước đã tỏ ra là một thủy thủ dày dạn kinh nghiệm đi biển. Năm 1966 anh làm thuyền phó. Năm 1968 là thuyền trưởng. Hành trình của tàu Hai Đước từ Đất Mũi đến Hải Phòng và ngược lại. Từ Hải Phòng, theo ven biển Nam Trung Hoa, qua đông bắc đảo Hải Nam, rẽ tay phải trực chỉ hướng nam, qua phía đông quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa, qua phía nam Côn Đảo, rồi ngoặt vào cửa sông Đất Mũi. Đó là tuyến thứ tư, tuyến dài nhất của đường Trường Sơn trên biển.


     Năm 1968, ông Lê Văn Hải mua nhà ở Sài Gòn cho Trầm lên đó ăn học. Đến năm 1974, Trầm tốt nghiệp, cùng lúc nhận hai bằng đại học. Đồng thời với tin vui ấy, ông Hải mua đất, xây dựng một xưởng đông lạnh tại Sài Gòn. Đước hiểu rằng, đây là đỉnh cao nhất mà một ngư dân tài giỏi như ba anh đã đạt được. Anh đâu có ngờ rằng, niềm vui ấy, vài năm sau biến thành đại họa, làm tan nát gia đình anh...


     Năm 1975, Đước tham gia giải phóng Côn Đảo, rồi ở lại xây dựng đảo. Anh luôn nhận được thư của ba và của em trai. Ông Hải động viên Đước cứ yên tâm công tác. Anh kính phục ba đã nuôi được Trầm, không bị bắt lính và học được hai bằng đại học. Cuối năm 1975 anh về thăm nhà. Cha con gặp nhau ở căn nhà cũ đầy kỷ niệm tại ấp Xẻo Đước. Đước đi thăm mộ má, rồi trở ra đảo ngay, không lên Sài Gòn thăm Trầm được. Đầu năm 1976, nhân một chuyến biển, ông Hải đích thân lái tàu ghé Côn Đảo thăm con. Ông nhắc Đước, nếu chỉ huy bộ đội làm kinh tế thì phải lo nuôi vích. Côn Đảo nhiều vích vô cùng. Phải nuôi vích xuất khẩu. Côn Đảo phải trở thành hòn đảo làm mọi dịch vụ biển.


     Bọn Pônpốt gây chiến tranh ở biên giới Tây Nam. Đơn vị của Đước đi án ngữ ở đảo Thổ Chu, bảo vệ vùng biển Tây Nam Tổ quốc. Bẵng đi một thời gian dài, Đước không hề nhận được thư nhà. Đến cuối năm bảy mươi tám, anh được chuyển ngành về Sở Thủy sản. Theo nguyện vọng, anh được cử về phòng thủy sản Mỏ Tôm. Lúc này, anh mới hay rằng ba anh đã bỏ đi biệt tích.


     Căn nhà ông Hải mua từ năm sáu mươi tám nằm ở mặt tiền, bên hông nhà là con hẻm sâu hun hút đi vào khu phố nghèo nổi tiếng: khu Cống Bà Phán. Từ ngày ông Hải cho Trầm lên ăn học, Trầm đã quen và thân với Chuẩn, bạn học cùng lớp. Nhà Chuẩn ở ngay phía sau căn nhà của Trầm. Cũng như hầu hết những gia đình phải sống chui rúc trong khu Cống Bà Phán, nhà Chuẩn rất nghèo. Ba má Chuẩn làm công nhân ở Sở Vệ sinh. Ba Chuẩn bị tai nạn xe hơi, chết lúc má Chuẩn vừa sinh đứa con gái út. Chuẩn là con trai đầu. Đứa em gái kế Chuẩn mắc bệnh chết khi tròn sáu tuổi. Sinh con gái út được một tháng thì tự nhiên má Chuẩn lâm bệnh nặng rồi lòa cả hai con mắt. Chuẩn thi rớt tú tài, phải đi lính. Nhờ có Trầm, Chuẩn biết tiếng Anh, nên được làm phiên dịch ở phi trường Tân Sơn Nhất. Chuẩn được tụi Mỹ cho hút thuốc lá có tẩm xì ke, rồi mắc nghiền. Ngày hòa bình, Chuẩn nói Trầm: “Tao chết vì nghiền quá rồi, Trầm ơi!”.


     Trầm đưa Chuẩn vào cai xì ke ở Trung tâm Bình Triệu, rồi tìm mọi cách giúp bé Tư mới mười lăm tuổi nuôi bà mẹ mù lòa. Bé Tư rất xinh, đặc biệt là mái tóc dày, dài, đen huyền, đôi môi đỏ thắm.


     Hai Đước bước vào nhà, không thấy Trầm ở nhà. Căn nhà vắng vẻ, sạch sẽ. Bé Tư thấy khách đến nhà Trầm, vội chạy tới. Cô nhận ra Đước ngay vì Đước và Trầm rất giống nhau. Nhiều lần Trầm đã kể cho bé Tư nghe về người anh của mình. Bé Tư mở cửa mời Đước vào nhà, đon đả:


     - Chú bộ đội kiếm anh Trầm phải không?


     - Phải, Trầm có nhà không cô?


     - Dạ thưa, anh Hai cháu đi vắng. Chú là anh Hai...


     - Tôi là anh Hai của Trầm!


     - Ô! Chú là anh Hai Đước? - Cô bé reo lên! - Anh Hai cháu kể cho cháu nghe hoài à! Hèn chi, ngó chú giống ghê! Cháu nhận ra liền à! Mời chú vô!


     Út Tư líu lo như chim, mừng rỡ như chính anh ruột của mình đi xa mới về.


     Hai Đước xem xét phòng trong phòng ngoài căn nhà: Đồ đạc không có gì ngoài sách. Cả một phòng đầy sách. Anh giật mình khi nhận ra dòng chữ của Trầm đề dưới tấm ảnh cha: “Ngày 18... tháng mười hai”. Ủa! Ngày giỗ má! Sao Trầm lại ghi ngày giỗ má vào dưới tấm ảnh của cha?


     Có tiếng xe Honda lao vào sân, rồi Trầm ùa vào như cơn lốc.


     - Anh Hai!


     - Trầm!


     Họ ôm nhau. Trầm nức nở:


     - Anh Hai ơi! Ba... đi mất rồi!...


     Bé Tư đứng sững nhìn cảnh gặp gỡ. Khi nghe Trầm đau xót báo tin, cô cũng vụt khóc òa lên.


     “... Ba rất mừng khi ngày hòa bình đến với quê hương. Ba trẻ lại trước những điều ba mong ước về tương lai của xứ sở. Ba đã rất hồ hởi khi Trầm đọc cho ba nghe Nghị quyết về đường lối chính sách cải tạo, về cái gọi là cùng tồn tại năm thành phần kinh tế... Nhưng ba đã lầm! Ôi! Thật đau xót. Các con ơi! Không có gì đau xót hơn lúc đã gần kề thế giới bên kia rồi mà còn lầm! Không lẽ cả cuộc đời ba lao động lương thiện, nay kết thúc như vậy sao?


     Nhưng nếu ba không lầm? Mà chắc chắn là ba không lầm đâu các con! Thế thì phải có một phía lầm chứ! Người trưởng đoàn đến cải tạo ba là ai? Hắn ta nhân danh ai? Ba không tin người ấy, các con ạ. Hẳn các con còn nhớ, má các con thường hát ru: “Trời xanh, cây cứng, lá dai. Gió lay mặc gió, chiều ai ta chẳng chiều”, và cha mẹ đặt tên các con là Đước, là Trầm. Bà con ngư dân ấp Xẻo Đước đặt tên ba là Hai Mắm. Cha mẹ của ba, tức là ông bà nội các con, đặt tên ba là Hải. Ôi những cái tên gửi gắm bao nhiêu khí phách và tình thương yêu...


     Tái bút: Ba nhắc Trầm không được viết thư báo tin cho anh con. Hãy để cho anh con yên lòng làm nhiệm vụ. Khi nào Đước về phép, hãy cho anh con biết. Nhớ lời ba!”.


     Hai Đước đọc đến thuộc lòng lá thư của ba. Anh bắt Trầm thuật lại từng chi tiết nhỏ từ ngày ông Hải tự nguyện nộp đơn xin hiến tài sản cho Nhà nước, đến ngày ông ra đi...


     - Lá thư cuối cùng của ba mà anh nhận được đề ngày mười bốn tháng mười năm bảy mươi sáu. Trong thư ấy, ba báo tin là tình hình sản xuất của xưởng đông lạnh rất khả quan. Nhờ mối quan hệ thân thiết với bà con ngư dân, nhờ ba duy trì được hệ thống đáy và ghe tàu đánh bắt, nên nguyên liệu từ Mỏ Tôm đưa về kịp thời, sản lượng đảm bảo như trước tháng tư năm bảy mươi lăm. Ba nói rằng, giới tư sản ở Sài Gòn đang hoang mang ghê lắm! Riêng ba, chỉ là một tiểu chủ, ba có ý định hiến toàn bộ xưởng đông lạnh cho Nhà nước. Ba hỏi ý kiến anh. Anh đã viết thư trả lời, nói rõ ý với ba...


     - Em có đọc lá thư ấy. - Trầm nhìn Đước, giọng thật buồn - Ngay từ đầu, ba, em và anh đều nhất trí với nhau về chuyện hiến xưởng đông lạnh; vậy mà người ta đáp lại tấm lòng của gia đình mình bằng thái độ trắng trợn đến vậy. Ba nói với em: “Một người lao động chân chính như ba vẫn có thể làm ăn phát đạt. Nhưng bây giờ... Ai làm giàu là có tội!”.




(còn tiếp)


Nguồn: Trả giá. Tiểu thuyết của Triệu Xuân. NXB Văn Nghệ TP.Hồ Chí Minh in lần đầu và lần thứ hai năm 1988. Các NXB Văn học, NXB Hội Nhà văn… tái bản nhiều lần. Sách đã tái bản lần thứ 12 năm 2013.



 



 



www.trieuxuan.info   



 


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
xem thêm »