tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20524862
Tiểu thuyết
03.04.2009
Hoài Anh
Vua Minh Mạng

Gia Long năm thứ 8 (1809) vua đi tuần du Quảng Nam, lưu Lê Văn Duyệt cùng bọn Nguyễn Văn Khiêm, Đặng Đức Siêu giữ kinh thành. Duyệt tính nghiêm thẳng, trị quân nghiêm ngặt, tướng lại không ai dám trông thẳng vào mặt, các đại thần huân cựu lúc bấy giờ cũng sợ. Chỉ có Lê Chất nghĩ mình mới quy phụ không được các cựu thần trọng, bởi thế cố hết sức lấy lòng Duyệt. Những việc cơ lược hành binh và nghị luận việc triều đình thường đi lại bàn với Duyệt. Có tham luận Nguyễn Văn Tài là liêu thuộc Tả quân, nhân việc quân bị Duyệt trách quở. Tài bèn cáo Duyệt đặt lập đồn kho, ngầm sai người đi Bắc Thành chiêu dụ hào kiệt, lại thường cùng Lê Chất đi lại mật bàn, ngờ có mưu phản. Duyệt sợ hãi xin nhận tội. Gia Long giao việc này cho bộ Hình tra hỏi. Tài bị kếttội vu cáo. Án dâng lên, Gia Long nói rằng: “Lời Tài nói dường như có nguyên cớ, nên xét cho đến cùng để sau này khỏi ngờ“”. Bèn sai đình thần xét lại. Trải qua ba lần tra hỏi, tới lời cuối cùng Tài vẫn không viện được chứng cớ gì, bèn phải tội xử tử.


Nhớ lại chuyện cũ, Chất còn rùng mình rởn tóc gáy. Mấy lần bị nghi ngờ, may mắn mà thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Chất nghĩ tuy mình đã lập được nhiều công lao với triều Nguyễn, nhưng dầu sao cũng là thân “hàng thần lơ láo”, không được tin cậy, số phận chưa biết sau này sẽ ra sao, lúc nào cũng như có gươm kề cổ, nên phải tính trước cho mình. Việc Minh Mạng không cho mình vào Kinh viếng Gia Long, là chứng cớ Minh Mạng nghi ngờ mình. Chất khuyên Duyệt cùng mình xin giải chức, chẳng qua chỉ để thăm dò ý định của Minh Mạng. Nếu Minh Mạng bằng lòng cho giải chức, Chất sẽ bàn với Duyệt xin trở về thành chuẩn bị bàn giao công việc cho người thay chức, rồi nhân đó, tập hợp binh mã, người giữ miền Bắc, người giữ miền Nam, cát cứ địa phương, không phục tùng triều đình. Chờ có cơ hội sẽ từ hai đầu kéo quân vào Kinh, phế Minh Mạng lập người khác lên làm vua. Thời gian vừa qua, Chất đã nói giùm cho thương nhân Diệp Liên Phong được thầu cung cấp vật liệu xây đài Trấn Hải, nên được Diên Khánh Công Tấn rất hàm ơn. Do đi lại thân mật với Tấn, Chất đã làm quen được với các hoàng tử con Gia Long như Kiến An Công Đài, Quản Oai Công Quân. Sau khi phế Minh Mạng, nếu không lập được Hoàng tôn Đán con Đông cung Cảnh lên làm vua, thì có thể lập một trong ba hoàng tử nói trên. Từ Võ Khánh, Chất lại kết thân được với nhiều võ quan có nhiệm vụ phòng thủ kinh thành. Các tướng võ nhiều người là bạn đồng ngũ với Chất trước đây, việc cử sự không mấy khó khăn.


Duyệt tin là Chất nên nói:


- Sự ấy chính hợp ý tôi.


Bèn cùng Chất dâng sớ, xin nộp lại triều đình ấn Tổng trấn hai thành. Minh Mạng đòi cả hai người lên điện, hỏi:


- Hai thành là trọng địa Nam, Bắc, trẫm đang ủy thác cho hai khanh, sao lại buông lời xin như vậy? Hay là việc thành có điều chi khó lắm chăng?


Duyệt phục xuống khóc không nói gì, lạy tạ mà ra.


Chất cứ quỳ khóc mãi không thôi. Vua hỏi mãi hai ba lần, Chất đành tâu:


- Có việc gì khó đâu, tôi làm được hay không là được là ở bệ hạ thôi.


Vua nói:


- Thế là thế nào?


- Trước kia án Lê Duy Thanh, tôi cùng Hình tào nghị xử tội Thanh đáng chết, đến lúc đình nghị, Thanh được giảm nhẹ, thế là phép không đủ tin với dân, mà tôi không làm được việc Bắc thành là bởi thế đấy.


- Đấy là đình thần bà không phải ý riêng của trẫm. Trẫm sẽ giao cái án của Thanh cho khanh nghị lại.


Chất biết ý vua giận, không dám nói nữa. Thanh lại được y án trước phát phối đi Quảng Bình hiệu lực.


Vài ngày sau, Minh Mạng sai Trung sứ đến nhà Duyệt ở, an ủi sai về Gia Định thành làm việc. Duyệt vào bái từ lên đường đi. Minh Mạng sai Trung sứ ban cho điếu hút thuốc bằng pha lê sắc biếc mạ vàng của vua dùng. Lại dụ rằng:


- Tự sau khi khanh bệ từ, lòng trẫm quyến luyến không quên. Khanh nên tự giữ gìn, đi đứng có tiết độ, chớ để nắng gió xâm phạm cho ta khỏi lo.


Lê Chất cũng được Minh Mạng cho về trấn Bắc thành như cũ. Lê Chất trước muốn khích cho Duyệt bất mãn để cùng mình chống lại Minh Mạng, nay thấy Duyệt đã nghe lời Minh Mạng trở về Nam, nếu chỉ có một mình hành động, chưa chắc đã thành công, nên cũng trở về Bắc.


Để lấy lòng Chất, Minh Mạng ban mũ áo nhị phẩm cho mẹ Chất là Đào Thị, sau đó lại cho con Chất là Hậu được lấy công chúa Ngọc Cửu, con gái Gia Long, em gái cùng mẹ với Định Viễn Công Bính.


Lê Chất thấy Minh mạng không nhắc gì đến hoạt động của mình trong thời gian ở Kinh, mừng thầm trong lòng.


Trước đây Đông cung Cảnh cùng Võ Tánh đi đánh thành Bình Định, nên được Võ Tánh và bà Ngọc Du rất quý trọng. Sau khi Đông cung Cảnh chết vì bệnh đậu mùa, để lại đứa con thơ là hoàng tôn Đán, bà Ngọc du rất thương cháu, nên thường gọi đến phủ chơi. Trong một lần Lê Chất đến thăm Võ Khánh, ngẫu nhiên gặp hoàng tôn Đán trong phủ. Chất tìm lời gợi chuyện xem ý của Đán như thế nào, nhưng tính Đán vốn nhu nhược, không tỏ ra ham muốn quyền vị và lợi lộc. Từ nhỏ Đán đã được nghe cha kể chuyện về nước Phú Lãng Sa, nên chỉ thích sang bên đó sống cảnh xa hoa, không thiết gì ở cái nước Nam nghèo nàn lạc hậu này. Mẹ Đán là Tống Thị Quyên cũng khuyên Đán không nên dính vào chuyện chính trị, kẻo sẽ mắc tai vạ. Vả chăng Đán đã được Gia Long phong làm Ứng Hòa Công, bổng lộc ngang với hoàng tử công, cho nên cũng không đến nỗi thiếu thốn. Tống Thị Quyên là người có đạo gốc thường khuyên Đán nên làm điều lành để sau khi chết được lên Thiên đường. Đán biết rằng nếu nghe lời người khác xui giục mà làm loạn, giành ngôi, tất sẽ gây ra cảnh chém giết, đổ máu, đến ngày phán xét cuốn cùng sẽ bị đày xuống hỏa ngục đời đời. Vì vậy mà Đán cảnh giác trước lời săn đón của Chất, câu chuyện giữa hai người không mấy mặn mà, sau đó Đán lấy cớ mệt, cáo từ về phủ.


Lê Chất giống như người đi câu tưởng vớ được cá to mà lại để xểnh, ngồi trở hồi lâu không nói năng gì. Ông ta thầm nghĩ: Dục tất bất đạt, cứ để từ từ rồi sẽ liệu.


VII


Điện Cần Chánh xây về hướng nam, chính tịch 5 gian, tiền tịch 7 gian, đông tây có hai chái, nền cao 2 thước 3 tấc, trùng thiềm trùng lương, lợp ngói hoàng lưu ly, mặt trước trang sức bằng pháp lam, trên nóc thiết bầu rượu bằng pháp lam. Mặt nam có 3 bệ đá để lên xuống, mặt bắc hai bệ, đông tây mỗi mặt một bệ.


Gian giữa thiết ngự tọa là ngai vàng của vua đặt trên cái bệ, bên cạnh một cái bàn để trà thuốc.


Trước sân điện Cần Chánh có hai cái đỉnh lớn, đặt lên trên hai cái ghế xây bằng đá, ngay sau cửa Đại Cung Môn.


Minh Mạng đang ngồi phe sớ tấu, thì viên tổng thái giám đầu đội mũ được trang trí bằng hoa và các hoa văn, hòe vàng, áo lễ phục có viền trắng bằng lụa bỏ thống xuống hai bên và dài đến thắt lưng, bước vào. Ông ta không râu, béo phì, da nhẽo, giọng sắc nhọn cao the thé như giọng của phụ nữ nhưng rất chói tai, mật tấu với vua, mới đây Lê Chất đã gặp gỡ hoàng tôn Đán ở phủ bà Thái trưởng công chúa Ngọc Du.


Minh Mạng giật mình. Biết đâu Chất chẳng có âm mưu tôn lập hoàng tôn Đán như Thành, Duyệt ngày trước. Ông liền nghĩ cách phá cái âm mưu đó. Muốn thể phải đặt ra quy định chỉ những người thuộc dòng của ông mới được quyền nối ngôi vua, còn những người thuộc dòng các anh em của ông thì không được phép kế vị.


Ông truyền cho tổng thái giám phải giữ bí mật việc này để ông liệu cách xử trí sao cho êm đẹp.


Khi còn tại vị(1), Gia Long đã quy định cách viết tộc phả nhà Nguyễn: con cháu Nguyễn Hoàng vào Nam thì chép theo họ tôn thất Nguyễn Phúc, con cháu của Nguyễn Hoàng ở Bắc và các chi trước Nguyễn Hoàng ở Thanh Hóa thì thuộc về công tính họ Nguyễn Hựu. Như vậy là đã có sự phân biệt thân sơ, nhưng với các hoàng tử con của Gia Long và con cháu của họ thì vẫn chưa có sự phân biệt. Để tránh tranh chấp trong nội bộ hoàng gia, đảm bảo đế nghiệp lâu dài cho mình và cho con cháu mình, Minh Mạng tìm ra phép đặt tên đôi khá chặt chẽ và tế nhị dễ chấp nhận đối với các hoàng tử anh em ruột của mình. Biết rằng anh em mình ai cũng yêu thơ, Minh Mạng đã thảo ra 11 bài thơ, trong đó có bài “Đế hệ thi” và 10 bài “Phiên hệ thi”. Mỗi bài 20 chữ, chữ có nghĩa tốt và uyên bác dùng làm tiền từ cho 20 đời nối tiếp sau kể từ Minh Mạng.


Bài “Đế hệ thi”:


Miên, Hường, Ưng, Bửu, Vĩnh,


Bảo, Quý, Định, Long, Trường.


Hiền, Năng, Kham, Kế, Thuật,


Thế, Thoại, Quốc, Gia, Xương.


Bài “Phiên hệ thi” tặng Định Viễn Công Bính, con thứ 6 vua Gia Long:


Tịnh, Hoài, Chiêm, Viễn, Ái,


Cảnh, Ngưỡng, Mẫn, Thanh, Kha.


Nghiễm, Khác, Do, Trung, Đạt,


Liêu, Trung, Tập, Cát, Đa.


Theo phép này, tất cả các con trai của Minh Mạng đều phải có tên bắt đầu bằng chữ “Miên”, cộng với một chữ do gia đình tự đặt, tất cả các con trai của thế hệ “Miên” đều có tên bắt đầu bằng chữ “Hường” cộng với một chữ do gia đình đặt, tất cả các con trai của thế “Hường” đều có tên bắt đâu bằng chữ “Ưng” cộng với một chữ do gia đình tự đặt... và cứ thế cho đến chữ thứ 20 của bài thơ.


Đối với 10 bài “Phiên hệ” cũng vận dụng như vậy.


10 phiên hệ gồm dòng Anh Duệ (hoàng thái tử Cảnh), Kiến An, Định Viễn, Diên Khánh, Điện Bàn, Thiệu Hóa, Quảng Oai, Thường Tín, Yên Khánh, Từ Sơn).


Theo lệ này hoàng trưởng tử Chủng con Minh Mạng còn có tên Miên Tông, hoàng tôn Đán con Anh Duệ hoàng thái tử Cảnh còn có tên Mỹ Đường.


Mục đích việc này nhằm từ đây chia các hoàng tử vua Gia Long làm hai hệ: đế hệ và phiên hệ. Đế hệ được kế thừa kế nghiệp, phiên hệ là bờ rào bao quanh bảo vệ đế hệ. Khi ban bố cách đặt tên này, Minh Mạng nói: Trẫm không dám so sánh với nhà Chu xưa ở Trung Nguyên nói năm được 700 năm, bói đời được 30 đời. Nhờ các tiên đế ta tính nhân đức, chính sự ân huệ tốt, họ Nguyễn Phúc được cội sâu gốc bền, nghiệp lớn tốt thịnh. Trẫm chỉ giơ tay lên trán cầu trời cho từ nay về sau con cháu ta nhận nối cơ đồ lớn, được hưởng 500 năm, tức là hơn 20 đời, chẳng dám mong nhiều hơn!


Cùng năm ban hành phép đặt tên này, 23 hoàng tử của vua Minh Mạng thảy được đổi tên lấy Miên đứng đầu: Miên Tông, Miên Định, Miên Nghi, Miên Hoành, Miên An…


Từ đó trở đi, hễ sinh thêm hoàng tử, đầy 100 ngày phải làm lễ “bão kiến” (ẵm đến ra mắt vua) chiếu theo “Đế hệ thi” mà cho tên. Có tên mới chấm dứt dùng tên cũ.


Làm xong thơ, Minh Mạng đến cung Từ Thọ để thăm mẹ là Thuận Thiên Hoàng thái hậu.


Cung Từ Thọ có một dãy hành lang rất dài gọi là trường lang, trên có mái che nối liền cung này với nơi vua ở (điện Trung Hòa), với Thái Bình lâu, Nhật Thành lâu và Duyệt Thị đường. Trước mặt cung có cổng lớn ra vào gọi là Thọ Chỉ môn, vượt qua cửa này sẽ đến một cái sâu rộng với một tấm bình phong đồ sộ, hai bên sân này ở phía tay trái có nhà Tả Trà, ở phía tay phải có lầu Tịnh Minh. Sau lưng cung Từ Thọ là điện Thọ Ninh, bên trái là tạ Trường Du, bên phải là am Phước Thọ. Một dãy hành lang có mái che nối liền tất cả các công trình này với cung Từ Thọ.


Mặt bằng cung Từ Thọ hình chữ nhật, được xây dựng theo kiểu nhà kép như ở điện Thái Hòa. Mái cung lợp ngói âm dương. Tòa nhà thì rộng rãi nhưng bộ mái lại khá thấp, nền cũng thấp cho nên thiếu phần cao ráo, sáng sủa. Hàng cột hiên ở mặt trước cung không đứng ở trên nền cao như thường thấy mà lại dựng dưới bậc thềm, hình dáng cột thon nhỏ.


Mặt mái trước tiền doanh cung Từ Thọ được cắt ra thành ba mảng theo chiều ngang. Trên mái dải cổ diêm nằm giữa lớp mái thứ nhất và lớp mái thứ hai có trang trí những bức họa nhiều màu sắc trong từng ô hộc, trên bờ nóc và bờ quyết và dải cổ diêm của các tầng mái khác cũng thế.


Ở giữa bờ nóc có trang trí hình con phụng. Ở hai đầu bờ nóc và ở cuối các đoạn của bờ quyết nơi gócv mái lại trang trí bằng hình những con phụng khác quay đầu vào giữa bờ nóc. Chỉ có ở tầng mái cuối là trang trí hình con giao.


Bộ dàn trò của cung Từ Thọ làm bằng gỗ lim đánh bóng. Toàn bộ cung chia làm 7 gian 2 chái, trước cung và sau cung đều có mái hiên.


Hệ thống vì kèo ở tiền doanh được kết cấu theo kiểu chồng rường gồm 3 tầng giá thủ đỡ lấy kèo và đòn nóc chạy xuyên suốt 7 gian nhà. Trên mặt gỗ của các vì kèo có chạm nổi những hình hoa lá cách điệu. Khắp mặt các liên ba được chia thành từng ô hộc, hình vuông hoặc hình chữ nhật và được trang hoàng bằng những hình chạm nổi theo những chủ đề trang trí cổ điển như lư trầm hay lẵng hoa.


Qua khỏi tiền doanh người ta thấy hệ thống vì kèo của mái thừa lưu được chạm lộng rất tinh vi trang nhã. Tiếp đến là chính doanh, phần chính của tòa nhà. Hai gian bên trái và hai gian bên phải được vách đố ngăn lại thành cái buồng rộng dành riêng cho Hoàng thái hậu làm nơi ăn ngủ, còn lại ba gian giữa có kê bục cao dùng làm nơi tiếp khách.


Hoàng Thái hậu mặc áo ngoài màu cổ đồng trùm lên các áo ở lớp trong màu túy lục, tử đờn, mặt quần tím xếp con 5 lá, đi giày “chín thoa” là thứ giày Tàu thêu thùa rất tinh vi, dưới dày đến chín lớp, làm cho mỗi bước đi ống quần xòe ra dịu dàng như cánh dơi.


Hoàng Thái hậu nghe tin báo vua đến, từ trong buồng bước ra gian giữa, ngồi trên sập sơn son thếp vàng. Minh Mạng vào, quỳ xuống vấn an mẹ. Hoàng Thái hậu ban cho vua ngồi trên sập, nhưng vua chỉ rón rén ghé ngồi ở một góc sập.


Hoàng Thái hậu tính cần kiệm, từng đặt nhà dệt, nuôi tằm trong cung thân đến trông nom để làm vui. Khi Minh Mạng còn nhỏ, bà luôn dạy bảo, kèm cặp con học hành, nên Minh Mạng rất chăm học và học rất giỏi. Bà sinh được 4 con trai, con trưởng là Minh Mạng, con thứ hai là Kiến An Công tên là Đài, thứ ba là hoàng tử Hiệu chết sớm, thứ tư là Thiệu Hóa Công tên là Chẩn. Minh Mạng thưa với mẹ chuyện Đài ăn tiêu hoang phí, xin mẹ răn dạy thêm cho. Thấy Hoàng Thái hậu mắt có sắc giận, Minh Mạng lại kể chuyện Chẩn hơn Hoàng trưởng tử Chủng có 4 tuổi, chú cháu cùng học với nhau, mà Chẩn rất có lễ, coi trọng Chủng. Hoàng Thái hậu lúc ấy mới tươi cười, nói:


- Thấy Chẩn noi gương hoàng huynh nó trước đây chăm chỉ học hành ta rất mừng. Chỉ hiềm vì nó sức yếu, lắm bệnh, nên ta cũng không dám đốc thúc quá nhiều. Còn Đài, ta sẽ khuyên bảo nó dè sẻn trong việc chi tiêu, nếu nó vẫn quen thói cũ xa hoa hoang phí, ta sẽ không cho nó vào cung thăm ta nữa.


Minh Mạng xin mẹ đừng lo buồn, cố gắng ăn uống, nghỉ ngơi giữ gìn sức khỏe. Hoàng Thái hậu nói:


- Ta biết hoàng đế chăm lo công việc suốt ngày, há nỡ lấy tuổi già mà làm lụy cho con, cho nên hàng ngày cố gắng ăn thêm, tự thấy tâm thần thảnh thơi, hoàng đế không phải lo.


Ngừng một lát, thái hậu lại nói, giọng trầm buồn:


- Trước đây cũng vì bà chánh phi không hiền, nên mẹ con ta đã phải chịu bao đắng cay khổ sở. Con có nhớ hồi nhỏ mẹ từng dạy con bài thơ Cù mộc trong Kinh Thi hay không? Người chủ tam cung lục viện phải như cây cả cho sắn bìm dựa vào. Nay ngôi Hoàng quý phi trong cung chưa lập, mà con lại có nhiều phi tần, người nào cũng muốn chiều lòng con để được phong chức ấy, nên con phải hết sức cẩn thận. Gần đây mẹ nghe nói con rất sủng ái con Huỳnh Thị Liễu, mẹ thấy con có tính tình không được nết na thùy mị, nếu con lập làm Hoàng quý phi, e không có lợi cho hoàng gia và triều đình…


Minh Mạng giật mình. Mới đây phó tổng trấn Gia Định thành Huỳnh Công Ly có dâng con gái là Huỳnh Thị Liễu cho ông. Thấy nàng xinh đẹp, ông cũng đem lòng quyến luyến, nàng cũng hết sức chiều chuộng ông, khiến ông có phần xiêu lòng…


(còn tiếp)


Nguồn: Vua Minh Mạng. Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học , 2006.


 


 







(1) Tại vị: Đang ở ngôi vua.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
xem thêm »