tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19350845
30.09.2008
Phan Quang
Bên mộ vua Tần (Tiếp theo)

TRIỀU SÔNG TIỀN ĐƯỜNG


 


Triều đâu nổi tiếng đùng đùng


Hỏi ra mới biết rằng sông Tiền Đường


(Kiều)


Nước triều dâng theo tuần trăng là hiện tượng tự nhiên bất kỳ ở đâu trên trái đất cũng có. Nông dân nước ta gọi lúc ấy là triều cường. Nhưng hiện tượng triều dâng, xua nước sông chảy ngược và tạo nên sóng lớn dữ dội ở cửa sông Tiền Đường tỉnh Chiết Giang (Trung Quốc) đặc biệt hùng tráng và ngoạn mục. Người Trung Quốc từ thời xa xưa đã gọi hiện tượng ấy là “thiên hạ kỳ quan”.


Ngọn triều lớn nhất trong năm xảy ra vào dịp trung thu. Vì vậy trung thu là Tết thưởng trăng; riêng đối với người Chiết Giang, đặc biệt người thành phố Hải Ninh, còn là “Ngày hội quan triều” (xem triều) - và ngày nay là điểm cao của mùa du lịch.


Trung thu năm nay trùng vào ngày kỷ niệm Quốc khánh Trung Quốc 1 -10. Mười sáu năm mới có một lần trùng hợp như vậy. Năm nay lại là năm mở đầu thế kỷ. Cho nên hội xem triều năm nay được tổ chức thành hội lớn, kéo dài suốt một tuần, với tên gọi gợi cảm “đại triều thế kỷ”, thu hút vô vàn khách trong nước và nước ngoài về dự.


Hải Ninh cách thành phố Hàng Châu chưa tới một giờ xe hơi. Sông Tiền Đường chính là con sông chảy cạnh thành phố Hàng Châu, ngược lên Đông Bắc và đổ ra biển thuộc địa phận huyện Hải Ninh. Con đường cao tốc từ thủ phủ tỉnh Chiết Giang về thành phố Hải Ninh rộng thênh thang, hai bên đường là những cánh đồng dâu làm nên lụa Hàng Châu nổi tiếng từ nghìn xưa. Nông thôn hai bên đường đã được quy hoạch và xây dựng lại thành những điểm dân cư san sát nhà ba tầng, cùng một kiểu dáng, cách mặt đường chừng một ki lô mét trở lại. Người bạn cùng đi cho biết đây là vùng thôn quê giàu có nhất Trung Quốc, thu nhập tính theo đầu người ít nơi sánh bằng. Tôi ngắm nghía các khu nhà mới toanh thế kia, nghĩ bụng hẳn là tiện nghi đầy đủ lắm, song dường như đã vĩnh viễn làm mất đi vẻ đẹp truyền thống của xóm thôn.


Càng gần đến thành phố Hải Ninh không khí hội hè càng rộn rã. Không trung lửng lơ xanh đỏ tím vàng bao nhiêu quả cầu bay, chiếc mang dòng chữ thiên hạ kỳ quan, chiếc thì đề thế kỷ đại triều. Các loa truyền thanh mở nhạc hết cỡ. Sân khấu ngoài trời đã đông nghịt khách mời, ngồi ngay ngắn trật tự. Mỗi người chúng tôi được cài lên áo một bông hoa lụa, đeo tòn ten tấm thẻ trước ngực y như đang dự hội nghị quốc tế, lại được phát thêm một chiếc mũ vải và một cuốn chương trình ấn loát công phu. Đã ngồi nghiêm chỉnh từ trước, bên cạnh chiếc ghế dành cho tôi, là một vị khách mặc com lê đen áo cài đủ ba khuy cho dù trời vẫn chang chang tuy đã sang tiết thu. Ông cúi đầu rất thấp khi bắt tay tôi và chìa ngay ra một tấm danh thiếp. Mới biết đấy là vị thị trưởng một thành phố bên Nhật Bản được mời sang dự “Hội quan triều”.


Như đã ghi rõ trong chương trình, ngày hôm nay phải chờ đến đúng mười hai giờ năm phút thì mới quan sát được triều dâng. Tuy nhiên, chờ xong lễ nghi khai mạc và xem qua một vài tiết mục múa dân tộc do đoàn ca múa huyện cho đúng lễ; khi tiếng nhạc hard rock nổi lên và các nữ nghệ sĩ choai choai trong trang phục áo chẽn không cài khuy và quần cộc hở rốn bắt đầu xuất hiện và múa may quay cuồng, thì anh bạn cùng đi bấm tôi. Chúng tôi lặng lẽ lách qua các hàng ghế, lẩn ra ngoài, đi lên đê.


Từ mặt đê cao, có thể nhìn rõ cả một khúc sông dài và rộng mênh mông. Nhìn bèo rác trôi, thấy nước sông đang đổ xiết ra biển. Đây là vị trí tốt nhất để xem triều. Người ta đã xây không biết từ thời nào một ngôi tháp bát giác bảy tầng cao trên bờ sông. Đó là nơi dành cho khách quý ngày xưa. Còn bây giờ thì san sát các lễ đài ghép bằng sắt và nhôm, có gắn những ghế ngồi nhiều bậc được đánh số thứ tự, kéo dài cả cây số trên mặt đê y như trong khán đài danh dự một sân vận động lớn. Bên dưới, chạy dọc theo bãi sông là những hàng rào bằng nhôm trắng[1], ngăn không để cho khách xuống  quá gần mép nước. Những người bán hàng rong chạy tới chạy lui chào bán ô che nắng, kính râm và ống nhòm.


Tôi đếm được chín khán đài có mái che, tất cả dễ chứa đến mấy vạn người. Không một chiếc ghế trống, trừ mấy hàng danh dự chắc dành chờ các vị khách quý sẽ đến sau. Có tấm biển ghi rõ, một vé vào khán đài này giá ba mươi nguyên.


Nhiều người nôn nóng đứng lên ngồi xuống, thỉnh thoảng nhìn đồng hồ. Bỗng có ai thốt lên một tiếng; nhiều người cùng ồ lên rồi chăm chăm nhìn về phía chân trời bên trái. Bạn tôi hỏi: “Anh đã nhìn thấy chưa? Đã thấy chưa? Triều bắt đầu lên đấy”.


Một làn sóng trắng đùng đục hiện lên rất xa, vắt từ bờ bên này sang tít tắp không nhìn thấy rõ bờ bên kia, vì sông Tiền Đường quãng này rộng bát ngát. Làn sóng trắng ấy cuộn lên, ngược dòng sông, đẩy nước sông đang chảy xiết dồn trở lại, tạo nên những ngọn sóng bạc đầu, càng đến gần chỗ quan sát càng lớn lên. Theo dự báo của ngành thủy văn, hôm nay sóng chưa cao lắm. Cực điểm là ngày mai và ngày kia, cơn sóng có thể lên cao hơn mặt nước sông gần hai mét rưỡi. Đó là điểm cực đại, sau đấy dần dần hạ xuống; hết tuần thì trở lại mức bình thường. Sở dĩ diễn ra hiện tượng này vì cửa sông Tiền Đường như cái phễu, phía ngoài mở rộng đón thủy triều, vào sâu trong đất liền thì sông thắt hẹp lại như đuôi phễu, chịu áp lực nước từ biển dồn vào. Dòng sông ở đây lại chảy xiết. Hai luồng nước ngược giao nhau, cuộn lên tạo thành sóng lớn chuyển động. Sóng biển mạnh hơn, đẩy nước sông lùi lại và từ từ tiến tới; cho đến khi áp lực bằng không thì cơn giận dữ của thiên nhiên dịu xuống, mặt sông trở lại bình thường.


Ngọn trào trước mặt chúng tôi vẫn cuồn cuộn ngược dòng. Quả thật ở xa tôi không nghe có ”tiếng sóng đùng đùng” như cụ Nguyễn Du viết. Nhưng nhìn những con sóng bạc dữ dội, nghĩ đến thân phận người con gái phải gieo thân xuống dòng nước xiết kia thì thật đáng hãi hùng cho nàng Kiều.


Ngọn triều tiếp tục dâng rồi mất hút về chân trời phía thượng lưu. Mọi người lục đục đứng lên. Tôi nhìn đồng hồ. Quang cảnh hùng vĩ ấy diễn ra gọn trong mười một phút.


 


Chiết Giang, 2001





 


MỘT THỜI CHƯA XA


 


Khách sạn Hải Vịnh đúng là một địa điểm tuyệt vời để từ đó quan sát toàn cảnh thành phố Thượng Hải, bắt đầu từ khu phố cổ ở phía Tây sông Hoàng Phố đến vùng đất mới, Phố Đông. Có lẽ vì vậy mà nó mang cái tên tiếng Anh The Panorama Hotel chăng. Khách sạn tọa lạc ở ngã ba nơi Dự Châu Hà (ngày xưa có tên là sông Ngô Tùng) đổ vào sông Hoàng Phố ngày đêm cuồn cuộn, sóng rập rình xô mạnh vào hai bên bờ dù trời yên gió lặng. Dòng sông không lúc nào ngơi ngược xuôi tàu to tàu nhỏ - những chiếc sà lan đen đủi chở hàng nặng đến mức ta có cảm giác nó sắp chìm xuống đáy sông, những tàu du lịch sáng ngời nhôm kính lướt sóng băng băng như thể đáy tàu không chạm mặt nước, những hạm viễn dương thỉnh thoảng lại hụ lên một hồi còi trầm xa vắng, những chiếc ca nô dã chiến của hải quan, biên phòng bay như tên bắn... Trong khi Dự Châu hà thì vẫn nhẫn lại trườn qua khu phố cũ, chịu cho hàng chục chiếc cầu vắt ngang lên mình, chẳng khác mấy một con kênh mới đào trong nội thị. Ngày nay có ai buồn nhớ, xưa kia khi Thượng Hải chưa ra đời, Ngô Tùng giang là con đường huyết mạch thông từ nội địa trù mật ra biển Đông. Thành phố Thanh Long trên bờ sông Ngô Tùng xưa không đơn thuần là một trung tâm hành chính mà còn là một hải cảng nhộn nhịp vào bậc nhất vùng Giang Nam2 .


Buổi sáng nấn ná trong nhà hàng sang trọng ở tầng ba mươi của khách sạn sau buổi điểm tâm, nhâm nhi nốt ly cà phê, bạn phóng mắt về phía Tây hoặc phía Nam, xuôi theo ánh mặt trời chói trang vừa mọc, sẽ bao quát trong tầm nhìn hầu như toàn bộ khu phố Thượng Hải cũ. Bên này sông Hoàng Phố, vẫn còn rất nhiều mái ngói rêu phong chen giữa những cao ốc chọc trời và những con đường thẳng tắp, thênh thang mới mở. Đến người Thượng Hải gốc cũng khó phỏng đoán nơi đây xưa kia từng là phường phố gì, những dinh thự một thời vang bóng nay chẳng biết khép nép ở góc nào bên cạnh những “tân lâu”, “đại hạ” mới toanh ngạo nghễ kia.


Buổi chiều, ngó về hướng Đông để khỏi bị lóa nắng, thì trước mắt bạn hiện lên càng rõ nét hơn dưới ánh mặt trời khu phố mới bên bờ Đông sông Hoàng Phố. Cao ngất nghểu và tưởng như nằm sát ngay mép sông là tháp truyền hình Đông Phương Minh Châu, niềm tự hào của dân thành phố. Rồi san sát những cao ốc khu tài chính ngân hàng hình thành chưa lâu, mà những người thích ví von khẳng định nó đúng là Wall Street của Trung Quốc. Những xa lộ chạy tít tắp không biết về đâu bởi xa quá tầm mắt ta, nhưng nhờ các biển báo dẫn đường, rồi bạn có thể chắc chắn đấy là những trục dẫn về sân bay Phố Đông cực kỳ hiện đại mới được khai trương chưa lâu nhằm phục vụ kịp đà phát triển của thành phố.


Người Thượng Hải mê mải làm ăn trong cuộc sống cạnh tranh thời hiện tại và say đắm ngóng về tương lai, chẳng mấy ai quan tâm đến quá khứ chưa xa của thành phố. Vả chăng tuyệt đại bộ phận người Thượng Hải, cũng như của mọi thành phố khác lớn lên với nhịp độ quá nhanh, chẳng phải là người gốc gác nơi đây. Kiến thức của họ về Thượng Hải xưa có lẽ không vượt quá phạm vi các bộ phim truyện nổi tiếng chiếu trên truyền hình.


Thật ra, quá khứ chưa xa của Thượng Hải ngồn ngộn chi tiết gợi cảm. Nói “chưa xa”, bởi cách đây mới có trên dưới nửa thế kỷ, ăn nhằm gì so với lịch sử năm nghìn năm của đất nước vĩ đại này. Quá khứ vẫn hiện diện kia, cũng có khi trừu tượng mơ hồ song tồn tại nhiều hơn dưới dạng vật chất qua những công trình kiên cố và những di tích đang được trân trọng bảo tồn. Chẳng cần đi đâu xa, hãy nhìn xuống chân khách sạn Hải Vịnh này. Bạn trông thấy kia một chiếc cầu sắt cổ, mặt cầu quá hẹp nếu so với quy cách cầu đường thời hiện đại. Đó là Ngoại Bạch Độ kiều bắc qua sông Dự Châu, đúng vào nơi nó nối với sông Hoàng Phố. Sát bên cầu, tòa nhà kiến trúc kiểu Tây phương đầu thế kỷ XIX, phất phới lá cờ ba màu đỏ, trắng, xanh đen: Tòa Tổng lãnh sự quán của Liên bang Nga tọa lạc ở đây từ trước Cách mạng Tháng Mười.


Trong thời gian một trăm năm mươi năm tồn tại, chiếc cầu sắt chứng kiến biết bao chuyện đổi thay, đủ để viết nên nhiều pho sách về những gì từng đi qua bên cạnh nó. Bởi Ngoại Bạch Độ kiều là chiếc cầu nối liền khu biệt cư của người Anh với khu biệt cư người Mỹ, và trong chiến tranh Trung - Nhật là ranh giới giữa vùng quân Nhật chiếm đóng với vùng tô giới quốc tế. Tất cả mọi người dân Trung Hoa thời này có việc đi qua cầu đều bắt buộc phải ngả nón cúi đầu chào tên lính Nhật đứng gác ở trạm canh đầu mố, nếu không muốn nó tống cho một quả đấm vào mặt hoặc xỉa mũi lê vào người. Có lần lính Nhật đã hung hãn ném một cụ già người địa phương xuống Dự Châu hà, trước cái nhìn dửng dưng của đồng bọn và trong tiếng cười hô hố của bọn lính Anh đứng gác đầu cầu phía bên tô giới quốc tế.


Qua khỏi cầu, ta theo đại lộ Trung Sơn xuôi về phía Nam, cũng chính là men theo dòng sông Hoàng Phố trên bờ đê nổi tiếng thế giới. Địa danh lịch sử đầu tiên ta gặp là Công viên Hoàng Phố lộng gió có từ  thời xa xưa, đối diện với công viên Phố Đông rộng lớn hơn mới mở mang sau này ở bờ bên kia. Công viên nằm ven mặt đê cạp đá, dân địa phương gọi là than - bãi sông hoặc bến sông - chẳng có gì đặc biệt lắm ngoại trừ vị trí tự nhiên thuận lợi của nó. Đứng nơi đây, tầm mắt bao quát một khoảng trời nước mênh mông, gió sông rời rợi giúp bạn tạm quên đi cái oi bức dữ dội của chiều hè. Sau lưng bạn, bên kia đường, san sát những công thự cao lớn, uy nghi, kiến trúc nửa cổ điển nửa hiện đại theo đúng mô hình phố xá bên Tây - mà trên thực tế nó cũng chẳng thua kém bất kỳ khu phố sang trọng nào ở đô thành London cổ kính hoặc Paris hoa lệ.


Công viên Hoàng Phố được nói đến nhiều vì nó thuộc tô giới quốc tế. Mọi sinh hoạt trong các khu nhượng địa này đều thuộc quyền sinh quyền sát của nhà cầm quyền nước ngoài, mà người dân lao động Thượng Hải thời trước thật khó hiểu nổi, chính quốc chúng ở nơi xa lắc xa lơ hùng mạnh đến mức nào mà một nhóm người dám sang làm vương làm tướng tại đất thiên triều này. Công viên xưa kia là nơi hóng mát, dạo chơi của những người sang trọng, đồng thời là chốn bàn bạc, cam kết, thực thi những phi vụ hợp pháp hoặc mờ ám giữa các đại gia tư bản hay phái viên ủy nhiệm của họ. Công viên ghi đậm một vết không bao giờ tẩy sạch trong lịch sử chủ nghĩa thực dân với tấm biển ngạo mạn: “Cấm chó và người Trung Hoa vào”. Chẳng ai bịa ra đâu. Nguyên văn chữ Anh chép rành rành giấy trắng mực đen trong Bộ luật vàng của “đế quốc Anh, nơi mặt trời không bao giờ lặn”: Dog and chinese Not Allowed. Điều mỉa mai là công viên này được xây dựng nên và chăm chút hằng ngày bởi công quỹ, nghĩa là tiền của những người đóng thuế, trong đó người Trung Quốc giàu sụ sống trong tô giới đông gấp mấy trăm lần những tên thực dân và nhà kinh doanh da trắng.


Ngày nay uy nghi lẫm liệt giữa công viên là bức tượng đồng toàn thân Nguyên soái Trần Nghị, người chỉ huy phương diện quân giải phóng Thượng Hải và là vị thị trưởng đầu tiên của thành phố, ngày đêm nhìn xuống hàng triệu người Trung Hoa và khách du lịch nước ngoài qua lại quanh đài kỷ niệm những chiến sĩ đã ngã xuống vì sự nghiệp khôi phục phẩm giá đất nước.


*


*     *


Mọi sự  bắt đầu từ một ngày hè oi bức nửa đầu thế kỷ mười chín. Thời kỳ này đất nước Trung Hoa dưới sự cai trị của triều đình Mãn Thanh ruỗng nát, lâm vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng. Chính sách bế quan tỏa cảng lỗi thời, xuất phát từ cái nhìn coi mọi người không phải Trung Hoa đều là kẻ hạ đẳng, là giống man rợ, làm sao giúp đất nước giữ yên được bờ cõi. Nhân danh quyền tự do giao thương, đế quốc Anh tìm mọi cách khuyến khích việc tuồn thuốc phiện mua từ Ấn Độ với giá rẻ mạt vào Trung Hoa và bán giá cao - càng dễ cao vì thuốc phiện là mặt hàng bị chính thức cấm đoán. Thương nhân Anh thu nguồn lợi lớn không thể tưởng tượng. Nền kinh tế Trung Hoa kiệt quệ. Các sử gia châu Âu ghi nhận, vào những thập niên đầu thế kỷ mười chín, riêng thuốc phiện nhập khẩu chiếm một nửa kim ngạch ngoại thương toàn Trung Hoa thời ấy.


Sự phản ứng của nhà cầm quyền Mãn Thanh đã thiếu cân nhắc lại mang tính kẻ cả cố hữu của triều đình. Tháng 6 năm 1840, một viên quan tên là Lâm Tắc Từ bất thần ra lệnh tịch thu và thiêu hủy hơn hai vạn hòm thuốc phiện do Công ty Đông An Độ của người Anh nhập khẩu, tạo nên cơ hội ngàn vàng cho đế quốc Hồng Mao. Nhân danh quyền tự do giao thương bị vi phạm, chúng ngang nhiên phát động cuộc chiến tranh xâm lược mà lịch sử sẽ gọi là Chiến tranh thuốc phiện. Thành phố Quảng Châu bị bao vây. Thị trấn Định Hải ở phía Nam Thượng Hải thất thủ. Phóng viên tờ Times xuất bản tại Luôn Đôn hớn hở đưa tin: “Lần đầu tiên quốc kỳ Anh tung bay trên một mảnh đất của Đế quốc Trung Hoa. Ngày Chủ nhật mùng năm tháng bảy (1840), Chu Sơn rơi vào tay người Anh. Như vậy là từ nay có thêm một điểm cư dân nữa ở Viễn Đông được cộng vào Vương triều chúng ta!”


Tháng 6 năm 1842, hạm đội Anh dưới quyền chỉ huy của phó Đô đốc William Parker nã đại bác vào pháo đài Ngô Tùng. Báo Illustrated London News tường thuật cuộc đánh chiếm Thượng Hải như sau:“...Chiến hạm Nemesis tiếp tục pháo kích thành phố Thượng Hải đã bị quân ta chiếm được. Các dinh thự bị đốt cháy, các kho lương thực của chính phủ được mở tung cho dân chúng vào hôi của. Thế nhưng đại pháo vẫn tiếp tục bắn phá không ngớt thêm hai giờ...”


Triều đình Mãn Thanh nuốt nhục hạ bút ký Điều ước Nam Kinh, mở năm cửa khẩu lớn là Quảng Châu, Phúc Châu, Ninh Ba, Hạ Môn và Thượng Hải cho người phương Tây vào tự do buôn bán, đồng thời phải chịu bồi thường chiến phí tới hai mươi mốt triệu lạng bạc!


Một trang lịch sử đầy nghịch lý của Thượng Hải bắt đầu.


Người Anh ghé được một chân lên lãnh thổ Trung Hoa. Nhưng, tháng 11 năm 1842, khi viên lãnh sự đầu tiên của Anh, Đại úy George Balfour đến Thượng Hải nhận việc, trong toàn thành phố này vẻn vẹn hai mươi ba gia đình người Anh. Trong thập niên tiếp theo, mới có nhiều nghìn người Anh khác từ chính quốc hoặc từ các nơi khác trên thế giới đổ về Thượng Hải, mang theo và thiết lập nên ở đây một lối sống xa lạ. Tuy nhiên, trong thâm tâm không mấy người Anh hồi ấy nghĩ “đến đây để ở lại đây”. Chưa mấy ai nghĩ Thượng Hải rồi sẽ trở thành một mảnh đất hứa. Một thương nhân phát biểu thẳng thừng với viên lãnh sự: “Tôi hy vọng trong vòng hai hoặc ba năm, kiếm được một đống tiền rồi chuồn đi nơi khác. Bởi vậy đối với tôi, có là vấn đề gì nếu sau khi tôi giã từ nơi đây, Thượng Hải bị thiêu rụi bởi hỏa hoạn hay đắm chìm trong lũ lụt? Ông chớ có hy vọng những người ở vào địa vị chúng tôi chịu kéo dài cuộc lưu đày của mình nơi khí hậu khắc nghiệt độc hại cho sức khỏe này vì sự phồn vinh của hậu thế. Chúng tôi là những người chuyên đi kiếm tiền, những con người thực dụng. Nghề nghiệp của chúng tôi là làm sao kiếm được tiền, càng nhiều càng nhanh càng tốt...”


Những người phương Tây đầu tiên đến lập nghiệp lâu dài trong các vùng tô giới Thượng Hải, ở bờ Tây sông Hoàng Phố hồi thế kỷ mười chín là ai? Trước hết dĩ nhiên là người Anh, người Mỹ, người Pháp..., trong số đó không ít kẻ phiêu lưu. Sau khi Nhật Bản đánh thắng cuộc chiến tranh Trung - Nhật năm 1894, nhiều người từ các đảo Phù Tang chật chội đổ xô đến Thượng Hải. Rồi tiếp đó, sau Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, đến lượt những người Nga trắng chạy trốn đất nước để khỏi phải trả lời về tội lỗi của mình. Tiếp nữa là làn sóng những người Do Thái vốn nổi tiếng nghề thương mại, di cư tránh chính sách diệt chủng của chủ nghĩa Phát xít do Hitler cầm đầu. Những cộng đồng đông đảo, nguồn gốc và văn hóa khác nhau ấy đã cùng nhau tạo nên bộ mặt đặc thù của Thượng Hải, tạo dựng nhiều thành phố nhỏ trong một thành phố lớn, những Tiểu Paris, Tiểu Tokyo, Tiểu Viena... Đặc biệt là các khu tô giới của nước ngoài, ở đó bọn thực dân da trắng cùng bầu đoàn thê tử và tay chân của họ sống trên đất nước Trung Hoa mà không thèm đếm xỉa đến Luật pháp Trung Quốc; đến lượt những người da trắng coi người bản địa và những ai không tóc quăn mũi lõ đều thuộc giống người hạ đẳng, kém văn minh...


Trong các khu nhượng địa chính quyền Mãn Thanh cắt cho người phương Tây, thì để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử phát triển kinh tế thương mại thành phố Thượng Hải có lẽ là tô giới Anh - Mỹ (còn gọi là tô giới quốc tế, sau khi hai vùng hợp nhất năm 1863) và trong lối sống là tô giới Pháp.


*


*     *


Khu tô giới Anh kéo dài dọc theo sông Hoàng Phố từ Dự Châu hà, nơi có cây cầu nổi tiếng Ngoại Bách Độ kiều đến một con lạch có tên là Dương Linh bang (bang là con sông nhỏ). Từ đây là tô giới Pháp chạy mãi đến tận chân thành cổ Thượng Hải. Con bang ấy nay không còn. Nó đã được san lấp để làm thành một đại lộ. Và bởi đại lộ này thuộc “đất Anh”, dĩ nhiên người Anh lấy danh hiệu một nhà vua của mình đặt tên cho nó:Edward VII Str. Người Pháp chẳng có lý do gì để không chấp thuận. Song, làm sao có thể để cho ngôn ngữ của Shakespeare lấn lướt văn tự của Victor Hugo. Bởi vậy, cùng một từ ấy, mặt phố bên kia mang bảng dẫn đường viết theo tiếng Anh, ở mặt phố bên này, người Pháp viết theo cách của mình: Rue Edouard VII. Ngày nay biển phố này dĩ nhiên mang chữ Hoa: Diên An đông lộ.


Người Anh, người Pháp, người Mỹ, người Nhật vừa ghé được chân lên Thượng Hải thì đua nhau bành trướng chéo đất của mình. Tô giới Anh, theo điều ước, thoạt tiên chỉ rộng có một dặm vưông. Thế mà xoay xở một hồi, thời gian sau, nó phình ra tới hơn tám dặm. Tô giới Pháp lúc đầu còn khiêm tốn hơn. Vẻn vẹn một phần tư dặm còm. Nơi làm việc của viên lãnh sự Pháp còn phải đặt trong một ngôi nhà thuê lại của một linh mục truyền giáo ở bờ Nam con lạch Dương Linh. Nhưng làm sao người Pháp chịu kém người Anh cơ chứ. Ấy thế là họ phù phép, ít lâu sau phần đất nhường cho họ nở ra gấp mười sáu lần, rộng tới bốn dặm vuông. Đến nước này thì nhà cầm quyền Trung Hoa không thể không lên tiếng. Nhưng, đằng nào mọi sự đã an bài. Hệ thống cơ sở hạ tầng điện, nước, giao thông... đã được lắp đặt, do nước ngoài quản lý và thu lãi, không dừng lại trong phạm vi tô giới mà còn vươn xa ra ngoài thành phố. Dĩ nhiên nước ngoài giành quyền tiếp tục kinh doanh, tiếp tục thu phí, tiếp tục hốt lãi... Những chi tiết nhỏ nhặt, song điển hình cho sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân.


Sự đời chỉ đổi thay về cơ bản sau khi thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, tháng 10 năm 1949.


Không thể phủ nhận chủ nghĩa tư bản phương Tây đã góp phần làm cho Thượng Hải trở thành một trung tâm kinh tế thương mại nổi tiếng trên toàn thế giới. Người Trung Hoa thời trước nói đến Thượng Hải, đến con người và sản vật được làm ra ở đây, là nói đến cái gì lịch sự, hiện đại, cải tiến, tân kỳ, chất lượng tốt, mang hơi hướng Tây phương... Mua hàng hóa made in Shanghai bạn có thể yên tâm về chất lượng và mẫu mã. Thời trang Trung Quốc khởi đầu từ Thượng Hải, giống như thời trang Pháp là thời trang Paris. Ăn mặc kiểu Thượng Hải đối với người Trung Quốc hồi ấy đồng nghĩa với trang phục hào hoa.


So với tiêu chuẩn Trung Hoa về không gian và thời gian, Thượng Hải là một thành phố mới, chỉ có mấy trăm năm. Người bản địa vốn chiếm phần nhỏ trong cư dân thành phố. Thượng Hải là đất hốt bạc và ăn chơi của giới tư bản phương Tây, là nơi nhiều nhà doanh thương Trung Quốc tài năng phất lên nhanh chóng, là nơi nông dân nghèo các vùng lân cận đổ về tìm kiếm công ăn việc làm, là nơi xã hội đen tồn tại ngang nhiên và phổ biến. Và đương nhiên cùng với đà phát triển công nghiệp, là một trong những cái nôi sớm nhất của vô sản Trung Hoa. Thượng Hải lừng danh là “Paris phương Đông”, “Thủ phủ của các tài công”, đồng thời chịu tiếng “Thiên đường của những kẻ phiêu lưu”, “Chốn đàng điếm châu Á” là do vậy.


Tuy nhiên sẽ rất sai lầm nếu nghĩ rằng sự hoành tráng của Thượng Hải mới bắt đầu có từ khi có người Au Mỹ đến đây lập nghiệp. Thành phố này đã trở thành một thương cảng quốc tế lớn từ ba trăm năm về trước. Theo ghi chép của các thương nhân và nhà truyền giáo châu Âu, đầu thế kỷ mười tám, mỗi tuần đã có không dưới bốn trăm tàu buồm lớn đăng ký ghé thương cảng này - ấy là chỉ tính được những tàu “có đăng bạ”. Ngay trước khi Thượng Hải bị ép mở cửa cho nước ngoài tự do giao thương, khối lượng vận chuyển hàng hóa của Thượng Hải đã ngang ngửa, nếu không vượt trội hơn, khối lượng hàng bốc dỡ ở Luân Đôn cùng thời.


Du khách các nơi ngày nay đến Thượng Hải, thế nào cũng thu xếp để thăm viếng khu phố cổ, mua sắm ở nơi buôn bán cực kỳ sầm uất mang cái tên lạ là Miếu Thành Hoàng, hay thơ thẩn dạo chơi trong Dự Viên, một khu vườn cảnh xây dựng từ thế kỷ mười sáu, không thuộc tài sản các vương triều và vì vậy có thể nói là có một không hai.


Đặc điểm của khu phố cổ Thượng Hải là những đường phố trục khá rộng, hai bên chỉa ra như xương cá cơ man là ngõ là ngách hẹp sâu tít mù. Hai bên những ngõ, ngách này là những ngôi nhà nhỏ, phần lớn một hoặc hai tầng, nhiều nhà nay còn giữ được mái ngói rêu phong. Mỗi nhà là một cái ống hun hút nhờ nhờ ánh sáng, có trời biết được có gì chứa ẩn nơi tận cùng của nó. Thỉnh thoảng chen vào giữa những nếp nhà sin sít ấy một ngôi chùa phất phơ cây phướn, một cái miếu hoặc từ đường trang trí rồng phượng rối rắm. Gian mặt tiền các nhà ở là cửa hàng, văn phòng giao dịch, tửu điếm, trà quán, hiệu ăn... Cửa hàng nào cũng luôn luôn đầy ắp hàng hóa, tửu điếm trà quán nào cũng đông khách ồn ào từ sáng tới khuya, chùa miếu từ đường nào cũng ngột ngạt khói hương quanh năm suốt sáng. Đường ngõ nào cũng ngổn ngang xe cộ chậm rãi len lách qua khách bộ hành đang nghiêng ngó giữa lòng đường.


Khách du từ phương xa đến có thể mua sắm hàng hóa lặt vặt, văn hóa phẩm hoặc vật kỷ niệm như hàng thêu tinh tế, tượng đá đủ màu chế tác tinh xảo, với giá rẻ đến bất ngờ. Có điều xin lưu ý trước, hàng mua ở Miếu Thành Hoàng chẳng có gì bảo đảm made in Shanghai đâu.


Chen lấn, ngó nghiêng, mặc cả kỳ chán, cho đến khi mỏi dừ đôi chân thì bạn có thể dừng lại, đưa tay đẩy bất kỳ một cánh cửa nào bên trên có treo chiếc đèn lồng lụa điều muôn thuở, dấu hiệu để nhận biết tửu quán, trà lâu. Không phải đã được vào ngay nhà hàng đâu, mà thường còn phải leo lên một cầu thang hẹp. Bạn sẽ gật đầu ra hiệu chào ông chủ béo tốt ngồi canh ở cửa, trước khi bước vào gian gác sàn gỗ cót két theo mỗi bước chân. Những người sành ẩm thực tại khu phố cổ thường đến sớm, trước giờ đông khách để dễ kiếm được chỗ ngồi. Nhưng cho dù bạn cẩn thận đến đâu, vẫn có những người đến trước và chiếm hết những nơi thoáng đãng rồi. Còn những ai quen giờ giấc bên Tây, nghĩa là chỉ dùng bữa sáng từ sau chính Ngọ trở về chiều, thì xin các bạn vui lòng xếp hàng. Những ông comlê càvạt đạo mạo kiên nhẫn nối đuôi sau các cô đầm choai choai áo thun quần soọc ba lô lếch tha lếch thếch, thỉnh thoảng hàng người lại phải nép sát vào nhau nhường lối cho khách vừa dùng xong bữa đi ra, cảnh tượng ấy trông đến là hay. Có điều cầm chắc là bạn đã đến đây sẽ được ăn thực phẩm tươi sống chế biến tuyệt vời, với giá rẻ đáng ngạc nhiên và nhất là được phục vụ nhanh... như điện, chắc hẳn để bù vào chỗ bạn mất công xếp hàng chờ. Khách vừa buông đũa chưa kịp đứng lên, đã có hai người hầu sẵn, một anh cầm chiếc khăn trải bàn sạch, một chi ôm chồng đĩa bát ly thìa sán vào thay ca. Cảnh ấy ít ra cũng đủ làm lóe lên niềm hy vọng ở dãy người rồng rắn.


Nếu có thời giờ nhẩn nha, mời bạn ghé trà quán Hồ Tâm Đình - đình xây giữa lòng hồ, đúng như tên gọi. Trà quán này có mặt ở tất cả mọi cuốn sách hướng dẫn du lịch về Thượng Hải xuất bản bên Mỹ bên Anh. Hồ không lấy gì làm rộng, độ sạch của nước đáng nghi ngờ. Đình thực ra là mấy nếp nhà cổ áp sát vào nhau, cái hình vuông, cái lục lăng, cái bát giác, nhà nào cũng có mái đao cong, chóp nhọn và lợp ngói lưu ly. Đình xây trên các cọc nguyên sơ chắc bằng gỗ tốt, nay được gia cố thêm bê tông cốt thép để chịu đựng bước chân hàng vạn người hằng ngày tới lui. Mọi lan can, cửa giả đều chạm trổ tinh vi, phủ lớp sơn đã bóng lộn càng thêm mượt mà nhờ thấm đượm mồ hôi tay của triệu thực khách. Gọi là đình, nhưng gió không lọt vào. Mọi phòng ốc đã lắp kính kín mít để sử dụng máy điều hòa không khí, chống sự oi nồng gay gắt ngày hè. Để từ cổng đi vào tận đình, bạn phải chậm bước trên chiếc cầu gỗ dựng là là mặt nước, hai bên có lan can tiện cũng bằng gỗ đẹp. Cầu gấp đủ chín khúc - chắc hẳn để tăng thêm cảm giác về độ dài vì mặt hồ chẳng lấy gì làm rộng, và cũng có lẽ vì số chín là con số hên đối với người phương Đông chăng.


Dự Viên thật sự là một thắng cảnh. Đây là công trình cầu kỳ của một vị đại thần họ Phan nào đó vào thế kỷ mười sáu tạo dựng lên. Một khu đất rộng với những lối đi không thể đoán trước, sẽ lần lượt hé mở để du khách bất ngờ thưởng thức những công trình xây dựng: nhà cửa, đình cầu, nơi hóng gió, chỗ ngâm thơ mọc lên giữa suối, khe, núi, động cùng bao nhiêu cây kỳ cỏ lạ hoa quý... Nghe đồn xưa kia vườn có cả chim muông. Có một khối đá thạch bích đồ sộ được chở đến từ miền Nam Trung Hoa xa xôi cách trở. Tương truyền một vị hoàng đế triều Bắc Tống có nỗi đam mê sưu tầm những vật lạ trên đời; tảng đá kỳ thú này vốn được trời sinh ra từ đâu đó tận miền núi rừng hiểm trở tỉnh Quý Châu hoặc Vân Nam. Theo lệnh vua nó phải tỉnh giấc mà trườn mà lội lên kinh kỳ. Vừa đến sông Hoàng Phố thì chẳng may gió bão đánh chìm bè... Khối đá chìm nghỉm xuống đáy sông. Chẳng có cách gì cứu vật lạ, cũng như chẳng ai làm được gì trước sự suy vong của triều Bắc Tống. Khối đá nằm yên đấy mấy thế kỷ. Họ Phan bỏ tiền ra mua, và cho phá dỡ cả một mảng tường để chuyển vào đặt trong vườn Dự.


Đến lượt gia đình họ Phan sa sút, Dự Viên rơi vào hoang phế. Tới giữa thế kỷ mười tám, một số nhà doanh thương tai mắt trong thành phố cám cảnh, đứng ra quyên góp lấy tiền khôi phục và tu bổ khu vườn như hiện nay.


Khu phố cổ Thượng Hải xưa kia có thành cao hào sâu bao bọc. Khoảng giữa thế kỷ mười sáu, Thượng Hải bắt đầu hưng thịnh, sông Hoàng Phố là ngõ giao thông với nước ngoài, đồng thời cũng là nơi bọn hải tặc từ phía Đông thường xuyên vào cướp phá. Mùa xuân năm 1553, trong vòng hai tháng bọn cướp từ các đảo Phù Tang năm lần tập kích vào cướp bóc. Mùa thu năm ấy, nhà cầm quyền phải đi đến quyết định táo bạo xây thành cao đào hào sâu bảo vệ dân an cư lạc nghiệp.


Thành Thượng Hải xưa dài năm ki lô mét, cao hơn tám mét. Thành có sáu cổng đêm đêm đóng lại sau canh hai; không kể những cống thoát nước đồng thời là những ngõ giao thông đường thủy và cũng có thể đóng mở khi cần. Trên thành dựng hai tháp canh cao và trổ đúng ba nghìn sáu trăm lỗ châu mai. Chung quanh thành có hào sâu bao bọc. Một kiến trúc phòng vệ thật sự ghê gớm. Mà quả thật, nhờ có thành này, nạn hải tặc đột kích vào cướp phá dân lành bị chặn đứng.


Thành cổ tồn tại ba trăm năm mươi chín năm, cho đến năm thứ hai sau khi thành lập Trung Hoa dân quốc (1912) mới bị san bằng. Thành cũ trở thành con đường vành đai. Du khách ngày nay chạy xe trên con đường vòng tròn khó mà nhận biết nếu không được giới thiệu trước. Đến người Thượng Hải gốc còn không rõ nguồn gốc của nó nữa là.


Mặc dù Thượng Hải có bước phát triển và hiện đại hóa rất mạnh mẽ mấy thập niên lại đây, khu phố cổ về cơ bản vẫn không bị biến dạng. Đương nhiên không thể thiếu những cải tạo cần thiết như mở mang đường sá, nâng cao kết cấu hạ tầng... Quy hoạch đúng đắn hướng sự mở rộng thành phố sang phía Đông sông Hoàng Phố nơi đất đai chua mặn còn bạt ngàn, tạo điều kiện cho khu phố cổ giữ được cảnh quan, phong thái và hương vị đặc biệt Trung Hoa của nó.


*


*     *


Sự phồn thịnh của Thượng Hải thể hiện rõ nét nhất ở khu phố cũ, nơi xưa kia có các tô giới nước ngoài. Đường Nam Kinh (tên cũ là Garden Lane), gợi nghĩ tới những lanes quen thuộc ở kinh thành Luân Đôn. Có người còn muốn ví nó với đại lộ Champs Elysées ở thủ đô Paris. Nam Kinh chắc hẳn là một con đường đẹp nhất, và có lẽ vào loại dài nhất ở thành phố cũ, chia thành Đông lộ và Tây lộ. Hai mươi sáu đường phố khởi phát từ Nam Kinh lộ đổ xuống phía Nam đến tận khu phố cổ, tạo thành những ô bàn cờ phố xá đẹp đẽ tiện nghi với cuộc sống ngày đêm sôi động.


Đường Nam Kinh bắt đầu từ trước công viên Hoàng Phố, với một tòa nhà bề thế và sang trọng: Khách sạn Hòa Bình - Peace Hotel. Dưới cái tên khiêm tốn, khách sạn mới bao gồm cả hai cánh ngày xưa, bên này là Palace Hotel và bên kia Cathay Hotel, những “đại hạ” thường xuyên được báo chí Anh quảng cáo là “Những hòn ngọc của ngành khách sạn bên Viễn Đông”. Cùng một dãy với khách sạn Hòa Bình và cùng ngửa mặt đón gió sông Hoàng Phố là những công trình kiến trúc rất đẹp tạo cho khu phố này của Thượng Hải dáng dấp cổ điển Au châu. Ngày nay đó là Tòa thị chính và trụ sở Hội đồng nhân dân thành phố, nhà Hải quan, cửa hàng Bách hóa (xưa là The Sun, một trong Big Four của thành phố cũ), khách sạn Đông Phương (vốn là Shanghai Club vang bóng một thời). Cạnh trụ sở Ngân hàng Trung Quốc còn có nhiều ngân hàng lừng danh thời trước nay đã thay tên đổi chủ: Hongkong and Shanghai Bank, the Oriental Bank, the Mercantile Bank, the Chartered Bank, le comptoir d`Escompte de Paris... Những cái tên đến là rối rắm và lạ lẫm đối với người Thượng Hải ngày nay.


Cũng như nhiều trung tâm thành phố lớn khác trên thế giới, đường Nam Kinh có một quãng dành riêng cho người đi bộ dạo chơi và mua sắm hàng hóa. Vỉa hè được dỡ bỏ, mặt đường lát đá nhẵn thín tràn vào tận cửa các cửa hiệu nhà hàng hai bên. Du khách tha hồ thả bộ, thoải mái quá bước vào bất cứ hiệu nào mà nhìn ngắm hàng họ. Những người bán hàng đứng khuất không biết ở một nơi nào lặng lẽ quan sát động thái của khách, họ chỉ xuất hiện để niềm nở chào mời khi bạn thoáng tỏ nhu cầu mua thức gì đấy. Ở đây đúng là trên trời dưới hàng hóa - trời đã hẹp lại, vì bị các nhà cao tầng lấn lướt.


Đặc biệt rộn rịp là những dịp hội hè truyền thống của người Trung Hoa. Phố Nam Kinh ngày nay không chỉ có ông tây bà đầm đi du lịch. Phần lớn là các nhà doanh nghiệp và nhân dân lao động. Tôi có dịp đến đây đúng vào đêm Quốc khánh Trung Quốc, và lần ấy may sao trùng hợp với tiết trung thu. Công viên Hoàng Phố, quảng trường Nhân Dân, đường Nam Kinh cũng như các phố lớn khác ở Thượng Hải tràn ngập người từ khắp nơi đổ về thăm Thượng Hải. Họ là công nhân viên chức, là những người làm công ăn lương tranh thủ dịp nghỉ bắc cầu dài hơn một tuần lễ để thăm viếng đó đây. Nhiều đôi vợ chồng mang theo con nhỏ, có khi là cả gia đình. Ông bà, con cái, chị em quây quần vừa đi chơi vừa lo lắng chăm chút một hoàng tử tí hon, bởi cả hai bên nội ngoại có mỗi một mụn ấy. Chỉ thấy người và người ngược xuôi đi lại trong ánh đèn huỳnh quang trang trí rực rỡ xanh đỏ tím vàng và những chớp sáng hầu như không lúc nào ngơi của đèn máy ảnh. Thời buổi vật liệu ảnh sản xuất trong nước bày la liệt với giá phải chăng, những chiếc máy ảnh tối tân tuy mang tên Nhật tên Mỹ nhưng toàn lắp ráp nội địa, chơi ảnh không còn là đặc quyền của giới thượng lưu, ai dại gì chẳng cầm theo cái máy nắm gọn trong lòng bàn tay, biết đâu rồi chẳng ngáp được một vài pô độc đáo mang về khoe với bạn bè chuyến viếng thăm nơi đô hội phồn hoa nhất nước.


Tuy nhiên, theo những người am hiểu Thượng Hải thời xưa, đại lộ Nam Kinh (Garden Lane do người Anh quản lý) sầm uất nhưng chưa hẳn là sang trọng. Nam Kinh là phố tài chính ngân hàng, phố đầu tư kinh doanh. Đến phố Nam Kinh là để tìm cơ hội làm giàu. Còn muốn phô trương sự hào hoa phong nhã, muốn chơi bời điệu nghệ phải sang bên tô giới Pháp. Tiêu điểm của khu này là con đường thẳng tắp, còn dài và thẳng hơn cả Garden Lane, trước đây có nghịch lý là mang tên dữ dằn một vị thống soái thời thế chiến thứ nhất - Avenue du Maréchal Joffre. Tên phố này nay vẫn giữ hơi hướng trận mạc nhưng ý nghĩa khác: Hoài Hải lộ - Hoài Hải là một trong những chiến dịch oanh liệt nhất của quân dân Trung Hoa thời chiến tranh giải phóng. Đường Hoài Hải dài ngút mắt, cũng chia thành Đông lộ Tây lộ để tiện đánh số nhà. Tôi ngờ là cầm quyền Pháp ở Thượng Hải thời xưa hẳn tưởng nhớ đô thành chính quốc họ khi nghĩ ra cái tên nhà binh này, bởi gần một nửa trong số mười hai đại lộ chầu về Khải hoàn môn hiện tại ở Paris vẫn mang tên các vị thống chế, vậy mà chẳng được tiếng là những đường phố giàu có sang trọng nhất đó sao. Người ta đến Avenue Joffre để ngắm thời trang mới nhất của Paris, để nhìn người đẹp lượn lờ mua bán, có khi chỉ để lười biếng nhâm nhi một ly cognac chính gốc Fine Champagne hoặc một tách cà phê phin Arabica thơm lựng nhập khẩu từ Brasilla. Phần đông họ là những người thừa tiền sẵn của nên đến đây để...chẳng làm gì cả, trừ việc giết thời giờ một cách tốn kém.


Chiều lòng hiếu kỳ méo mó nghề nghiệp của tôi, anh bạn nhà báo Trung Quốc vui lòng dẫn chúng tôi đến xem tận mắt một tòa nhà Tây kiến trúc cổ điển nằm trên đường Hoài Hải. Đây là hiệu Café Renaissance đặc biệt trang nhã một thời vang bóng. Người ta kể lại rằng những chàng trai cô gái chạy bàn ở đây thời trước thế chiến, tuy vóc dáng không còn trẻ nhưng vẫn giữ được cốt cách hào hoa, toàn là quý tộc Nga chính cống. Những người mà nghề nghiệp không cho phép được lắm lời, chỉ mong sao có vị khách hạ cố hỏi chuyện để được dịp thổ lộ rằng, họ đích thực là những hoàng thân, tướng lĩnh, đích thực là những bá tước và hầu tước phu nhân từng có cuộc sống huy hoàng đích thực ở cố đô Saint Petersbourg hay thành phố Moscou, chẳng qua vì thời thế đổi thay mà sa cơ lỡ bước đến chốn Viễn Đông nóng ẩm này.


Anh bạn tôi kể, thời trước chiến tranh thế giới thứ hai, hiệu cà phê này lúc nào cũng đông khách vì người ta tranh nhau đến đây để thưởng thức giọng hát vàng của danh ca Nga Alexander Vertinsky, người từng là một (trong vô vàn) bạn tình của ngôi sao màn bạc Marlene Dietrich. Bậc danh ca ấy, theo lời anh ta thề thốt, từng vào ra Cung điện Mùa Hè, Cung điện Mùa Đông như cơm bữa, mang tài năng thiên phú phục vụ Nga hoàng cùng các vị danh gia tiếng tăm nhất đế quốc Đại Nga. Anh chàng đến Thượng Hải không còn một đồng xu dính túi, sau khi đã nếm đủ mùi thất bại ở Paris, New York và Hollywood. Dù sao con người tài hoa này rốt cuộc cũng được sao Thái Bạch kim tinh chiếu mệnh. Cuối cùng anh vẫn được trở về Moscou theo lời mời của đích thân Đại Nguyên soái Stalin, một thính giả hâm mộ giọng hát của anh - vẫn theo lời quả quyết của Alexander - để sắm vai chính không tìm ai thay thế nổi trong vở opéra Trà hoa nữ thắm đượm chất chữ tình. Câu chuyện ấy đích thực đến đâu, không ai dám chắc, bởi chính anh bạn tôi cũng chỉ được nghe người ta kể lại.


Thượng Hải vốn là một nơi có phong trào quần chúng đấu tranh mạnh mẽ vì độc lập dân tộc, chống cường quyền. Là một trung tâm kinh tế lớn, Thượng Hải có đội ngũ công nhân sớm trưởng thành về chính trị. Các nhà cách mạng lợi dụng quy chế các khu tô giới nước ngoài - nơi cảnh sát và quân đội của nhà cầm quyền Trung Quốc thời ấy không được phép vào - để né tránh sự quấy rầy của bọn phản động. Chủ tịch Mao Trạch Đông hoạt động ở Thượng Hải vào những năm 1924 - 1926. Quanh ngôi nhà Chu Ân Lai cư trú vào đầu những năm bốn mươi thế kỷ trước ở phố Massenet (nay là Tân An lộ) lúc nào cũng nhung nhúc bọn đặc vụ Nhật Bản và Quốc dân đảng rình mò.


Một ngôi nhà cũ khác gần công viên Hoài Hải ngày nay trở thành một di tích lịch sử xếp hạng quốc gia. Tháng 7 năm 1921, ngôi nhà mang biển số 106 phố Wantz (nay đánh số 76) là nơi họp Đại hội thành lập Đảng Cộng sản. Khách tham quan có thể nhìn thấy nguyên trạng cái bàn trên bày mười hai chén trà và hai cái gạt tàn thuốc lá. Thật ra, cuộc họp ấy vừa bắt đầu được ít lâu thì cảnh sát Pháp đã ập vào. Các đại biểu rút về Hàng Châu tiếp tục công việc của mình trên một chiếc thuyền tạm mướn.


Một ngôi nhà khác nữa, tọa lạc số 29 phố Molière, là nơi vị Tổng thống đầu tiên của Trung Hoa dân quốc Tôn Dật Tiên sống cùng gia đình, nay cũng trở thành nhà lưu niệm. Trên bức tường gạch trần xây theo phong vị kiến trúc Ănglê, tấm biển đề mấy đại tự chỉ rõ nơi đây đích thị Tôn Trung Sơn cố cư. Chính tại ngôi nhà khiêm nhường này chàng sĩ quan trẻ Tưởng Giới Thạch lần đầu tiên gặp và làm quen người đẹp Tống Mỹ Linh. Lễ thành hôn của họ sẽ được tiến hành phô trương trong khung cảnh xa hoa tại phòng khiêu vũ Hotel Majestic thuộc tô giới Pháp, tháng 12 năm 1927.


*


*     *


Một quán giải khát bình dân đầu công viên Hoàng Phố. Mấy cái bàn, mươi chiếc ghế nhựa rẻ tiền kê ngay dưới chân chiếc cầu vượt dành cho khách bộ hành từ bờ sông sang bên kia đại lộ Trung Sơn. Chúng tôi ghé vào không phải bởi nhu cầu giải khát mà chỉ vì nhìn thấy mấy chiếc ghế, có thể là nơi tạm cho đôi chân lội bộ đã mỏi nhừ được nghỉ ngơi chốc lát. Hơn nữa đây cũng là địa điểm lý tưởng ngắm nhìn mặt sông Hoàng Phố mà không phải chen lấn. Đê ở quãng này rất cao, tầm nhìn chúng tôi chỉ bị hạn chế bởi một lan can sắt làm hàng rào bảo vệ khách bộ hành.


Chị chủ quán đẫy đà cùng cô phục vụ trẻ lăng xăng săn đón. Bàn bên cạnh chúng tôi là một gia đình - thoạt nhìn tôi đã đoán không sai. Hai vợ chồng đứng tuổi. Cô con gái duy nhất. Người đàn ông cao lớn, đầy tự tin, dáng dấp như một hảo hán trong truyện xưa. Cô gái dáng người thô nhưng cố giữ cho gầy đúng mốt ngày nay, thoải mái trong bộ quần gin áo bó, lưng tòn ten chiếc ba lô nhỏ xíu và nhẹ tưng đeo chỉ để làm cảnh. Khuôn mặt bà mẹ, ngược lại, hiền lành chất phác. Sống mũi cao thanh tú, đôi mắt sâu và xa xăm, vầng trán hẹp, từa tựa vẻ người vùng Trung Á.


Người đàn ông cởi mở, chỉ một lát sau đã chuyện trò rôm rả với anh bạn Trung Quốc cùng đi với chúng tôi. Bạn tôi quay lại giới thiệu, đây là một sĩ quan quân đội đồn trú ở mãi tỉnh Tân Cương, cùng gia đình du lịch nhân kỳ nghỉ phép năm. Lần đầu tiên tới Thượng hải. Ông đang phát biểu cảm tưởng về thành phố này. Đại thể khen ít chê nhiều. Chê giá đắt, tinh thần phục vụ kém, ấy thế mà động đến thứ gì cũng đòi tiền; muốn đi tới đâu, vào xem cái gì cũng chẳng tránh khỏi xếp hàng chờ đợi... Vâng, từ thủ phủ Urumsi tỉnh Tân Cương đến miền Giang Nam này, đường đi xa xôi diệu vợi lắm. Chúng tôi đã đi máy bay, xe lửa, ô tô... Nhưng, nghỉ phép năm cả một tháng ròng. Chi phí tàu xe ăn ở đã có quân đội trang trải. Dại gì không cho vợ con đi theo để biết thêm đất nước Trung Hoa vĩ đại. Cháu là sinh viên đang theo học ngành y ở Trường đại học Tây An, tỉnh Thiểm Tây; thật ra cháu đã có dịp cùng bạn bè đồng khóa tham quan Thượng Hải rồi. Song lần này được đi cùng bố mẹ, lại có cái vui...


Ông rút máy ảnh. Ba người thay nhau chụp. Rồi nhờ chúng tôi bấm giúp mấy kiểu cả gia đình bên bờ sông Hoàng Phố. Lại đề nghị chụp chung với vợ chồng tôi, hết kiểu này đến kiểu khác. Ồ, các bạn mãi từ Việt Nam sang ư, vinh hạnh quá. Ta làm thêm mấy kiểu nữa đi, thưa các bạn. Thế nào tôi cũng gửi ảnh tặng ông bà. Còn các kiểu chụp trong máy các bạn, xin chớ quên gửi cho chúng tôi. Theo địa chỉ này, này...


Ông rút tấm danh thiếp, cẩn thận ghi thêm số điện thoại cầm tay và số máy riêng ở gia đình mình đưa cho bạn. Rồi rút một tấm khác, nắn nót ghi địa chỉ và số điện thoại của bạn tôi bỏ vào túi áo ngực, cài khuy. “Anh thường xuyên ở Bắc Kinh ư? Hảo, hảo. Vậy là chúng ta dễ liên hệ với nhau... Thế nào cũng nhớ gửi ảnh cho chúng tôi nhé. Chỉ còn chiều nay nữa thôi. Chúng tôi đã sang bên Phố Đông một ngày. Và cả một buổi sáng ở la cà khu phố cổ. Đêm nay đáp xe lửa về Hàng Châu... Đừng quên gửi ảnh nhé. Tái chéng. Tái chéng”3.


Ông giữ chặt tay tôi trong bàn tay to, khỏe, thô ráp của người chiến sĩ đồn trú chốn biên cương.


 


2002


 


 


 


TÍN HIỆU TỪ THƯỢNG HẢI


 


Trong khoảng mấy năm gần đây, tôi có việc đến Thượng Hải nhiều lần. Lần nào cũng không quên thăm khu phố mới xây dựng bên bờ đông sông Hoàng Phố, nổi tiếng thế giới với tên gọi chính thức Phố Đông. Tôi cũng được đọc không ít bài báo, tư liệu về thành phố này.


Càng có dịp đến, càng tiếp cận nhiều tư liệu thì càng ngại ngần khi định đặt bút viết một cái gì đó về nơi này, cho dù dưới dạng ghi chép. Ngại ngần bởi sự phát triển kinh tế xã hội ở đây diễn ra với nhịp độ quá nhanh, khiến người nơi khác thỉnh thoảng đến luôn cảm thấy như mình bị hụt hơi, không nắm bắt kịp thực tế. Những điều mình vừa trông thấy, những tư liệu mình thu thập được cho đến hôm nay thì tháng sau, quý sau có thể trở thành lạc hậu rồi. Mà cái nghiệp báo chí lại không cho phép tôi bỏ qua nhân tố cập nhật.


Cuối năm ngoái, đến Thượng Hải, tôi muốn sang Phố Đông ngó nghiêng cho biết. Người lái xe taxi trước khi mở máy quay lại hỏi:


- Phố Đông, OK. Nhưng ông muốn xem chỗ nào, và ông có bao nhiêu thời gian? Bởi vì Phố Đông rộng lắm, và có nhiều thứ đáng xem lắm.


Tôi ớ người ra, rồi đáp:


- Thôi thì anh cho tôi xuống chỗ trước tháp Minh Châu vậy.


Tôi trả lời đại, bởi tháp truyền hình Minh Châu đã trở thành biểu tượng của Thượng Hải mới, ai cũng biết, đứng ở đâu cũng dễ nhận ra, và cũng bởi vì tôi có khá nhiều kỷ niệm về công trình kiến trúc này. Lần đầu tôi trở lại Thượng Hải sau khi hai nước lập lại quan hệ bình thường, cảm giác mà thành phố lớn này để lại trong tôi là sự chật chội. Trừ khu tô giới cũ, phố xá phần lớn vẫn chật hẹp và lộn xộn, người đông nườm nượp, nạn kẹt xe xảy ra thường xuyên; riêng một chuyện rủ nhau đi ăn tối chẳng hạn, có khi mất vài tiếng đồng hồ. Sân bay lớn nhưng không được hiện đại lắm so với vị trí, tầm cỡ và sinh hoạt sôi động của thành phố này.


Để đến công trường xây dựng tháp Minh Châu lần ấy, chúng tôi phải khó nhọc lách qua những con đường cũ ở Phố Tây đang ào ạt phá các dãy nhà hai bên phố, giải phóng mặt bằng để mở rộng đường cho bốn làn xe. Chúng tôi phải chạy xe trên những trục đường mới làm nền, còn tung bụi mù mịt ở Phố Đông. Mất bao nhiêu thời giờ mới đến được chân tháp Minh Châu khi đó còn lố nhố rừng cọc thép chuẩn bị đổ bê tông tầng trệt. Ấy thế mà chỉ vài năm sau, trở lại Thượng Hải, tôi đã được mời lên uống nước và ngắm toàn cảnh thành phố ở hiệu cà phê tự quay trên tầng cao. Người bạn Trung Quốc tự hào giới thiệu: “Tháp Ngọc sáng Phương Đông (Đông phương Minh Châu) của chúng tôi cao nhất châu Á, và so với toàn thế giới thì đứng thứ ba, chỉ sau có tháp Ostankino nước Nga và tháp Toronto bên Canada thôi”.


Lần ấy, tôi từ khu phố cũ ở bờ Tây sang sông Hoàng Phố trên một chiếc cầu mới, duy nhất hiện đại. Lần này, người lái xe trước khi sang sông, lại quay đầu hỏi: “ Ông muốn đi đường ngầm hay cầu nổi?” và trỏ hai cỗ máy đang đào đất ở gần đấy, anh nói thêm: “Chúng tôi đã có ba cầu mới và hai đường ngầm vượt sông. Không đủ. Phải xây thêm ba đường ngầm nữa. Kia là một, vừa khởi công”.


Lần ấy, Thượng Hải bắt đầu cơn sốt xây dựng, phát triển. Hầu như đi tới đâu bên khu phố cũ cũng gặp cảnh san phá mặt bằng. Để mở rộng hoặc nắn thẳng các trục giao thông nội thị. Để làm cầu vượt, giải quyết nạn ùn tắc giao thông, không chỉ lãng phí thời gian, tiền của mà làm căng thẳng thần kinh ghê gớm. Để xây những công trình mới bề thế tối tân thay vào chỗ các căn nhà lụp xụp tồi tàn. Trên các công trường, ven các đại lộ nổi bật dòng khẩu hiệu: “Làm việc một năm bằng ba năm, sau mười năm biến đổi hoàn toàn Thượng Hải”. Bây giờ không nhìn thấy khẩu hiệu ấy nữa, song tinh thần người dân Thượng Hải thì vẫn vậy, và cuộc sống ở thành phố dường như mỗi ngày càng sôi động hơn.


Còn nhớ lời một vị lãnh đạo thành phố nói với tôi lần hội kiến trước: “Trung Quốc cải cách, mở cửa cho đến nay đã được một thời gian không ngắn, nhưng Thượng Hải thành phố lớn nhất nước chưa bắt kịp nhịp đi. Ngoài những bất cập chủ quan, còn có một nguyên nhân: Hằng năm chúng tôi đóng góp cho ngân sách một phần đáng kể, tuy chưa thể gọi là nhiều, song phần dành lại cho thành phố để đầu tư phát triển còn mỏng. Vừa qua, đồng chí Đặng Tiểu Bình đi thị sát phương Nam, thăm Thẩm Quyến, sau khi về làm việc với lãnh đạo thành phố có nói đại ý: Trung ương bỏ quên Thượng Hải. Tôi sẽ đề nghị Trung ương cho phép Thượng Hải dành lại một phần thích đáng tích lũy để đầu tư xây dựng, đồng thời cho Thượng Hải được thực hiện một cơ chế đặc biệt về quản lý. Sự bật dậy của Thượng Hải bắt đầu từ chủ trương ấy của Trung ương”.


Lần trước đến thăm Truyền hình thành phố, tôi đã có ấn tượng sâu sắc về cách thức bạn kết hợp làm thông tin văn hóa, tức là công tác tư tưởng, với hoạt động kinh tế. Phải có nguồn lực mạnh thì mới phát triển, mới tiến nhanh lên hiện đại được. Nhưng Trung ương không bao cấp. Thành phố chỉ tạo cho một số điều kiện bước đầu. Ấy thế mà nhìn cơ ngơi nhà cửa, trường quay, thiết bị... đã thấy ngợp. Nghe giới thiệu hoạt động kinh tế mới bị ngợp hơn. Nói theo ngôn ngữ đời thường, báo chí, phát thanh, truyền hình ở đây “mạnh” lắm, mạnh chẳng kém gì các tập đoàn kinh tế có tên tuổi. Tuy nhiên bạn vẫn chưa hài lòng. Giám đốc Truyền hình thành phố Trần Bình nói: “Cái quan trọng để có những chương trình hay, hấp dẫn, là phải tạo cho được sức cạnh tranh. Độc quyền, độc tôn khắc dẫm chân tại chỗ. Chúng tôi đang làm thử. Lần sau anh đến, mới dám giới thiệu kỹ hơn”.


Lần sau tôi đến, bạn mời sang Phố Đông, thăm một cơ sở truyền hình mới, một đài riêng biệt, mới được xây dựng gọi là Orient TV, đài Phương Đông, tách từ đài truyền hình thành phố nhưng tự lực phát triển. Và xem chừng chương trình của đài này đang hút khách của “đài mẹ”; đặc biệt lớp trẻ thích xem đài Phương Đông hơn. Tuy mới ra đời, người ta mạnh dạn tung phóng viên đi hoạt động trên thế giới. Theo ý kiến nhiều người, tin bài do đài Phương Đông đưa tin về World Cup France 1998 là hấp dẫn nhất trong số các đài vốn rất mạnh ở lưu vực sông Dương Tử. Tuy còn nghèo, người ta dám trang bị cho phóng viên và tung theo các đoàn thám hiểm; phương tiện duy nhất của nhà báo truyền từ cao nguyên Tây Tạng về Studio là điện thoại vệ tinh - vì chẳng có trạm bưu chính viễn thông nào trong sa mạc hay rừng sâu. Một cách tập dượt phong cách làm báo hiện đại.


Lần này thì tận mục sở thị nhé. Bạn mời tôi xem, quây quần quanh trụ sở chính ngất nghểu mấy chục tầng với những thiết bị xịn nhất, bên này là nhà hát bên kia là khách sạn ba sao. Để phục vụ hoạt động nghề nghiệp và cũng để kinh doanh, bạn nói vậy. Tôi nghĩ thầm: Xây dựng được thế này dĩ nhiên là khó. Sử dụng có hiệu quả công nghệ thông tin hiện đại còn khó hơn. Nhưng cái khó lớn nhất là cái khó “đầu tiên”; lấy đâu ra tiền để làm nên những cái này? Liệu bạn có nói thật, nói hết cho mình nghe không?


Và lựa lời đặt câu hỏi. Dường như bạn cũng đã lường trước. Lời đáp thật mạch lạc, rõ ràng. Vốn được cấp chừng này. Vay ngân hàng chừng này. Anh chị em đóng góp (cổ phần) ngần này. Nguồn thu, qua quảng cáo ngần này. Tiền bán chương trình và thu dịch vụ phí, ngần này. Sau mấy năm, đã trả được bao nhiêu phần trăm nợ ngân hàng. Chừng này năm nữa sẽ thanh toán xong nợ nần. Lúc đó thu nhập hằng năm, sau khi trang trải mọi chi phí và đóng thuế cho nhà nước, còn lại là lãi ròng. “Lúc ấy mới dám nói rằng chúng tôi “mạnh”. Lúc ấy mới gọi là có bước phát triển thật sự. Cái khó là ở cơ chế. Cái dễ cũng do cơ chế, các bạn à”.


*


*     *


Thượng Hải là thành phố mang đặc trưng Trung Quốc nhất mà cũng là thành phố có dáng dấp phương Tây nhất Trung Hoa. So với lịch sử năm nghìn năm của đất nước này, tuổi đời thành phố còn trẻ lắm. Nó mới thật sự được thế giới biết đến chừng hơn một thế kỷ nay. Nhưng, trong hơn một trăm năm ấy, lịch sử thành phố lại khá tiêu biểu cho lịch sử dân tộc Trung Hoa. Bây giờ người ta ít nhắc đến chuyện cũ, chứ vài ba mươi năm về trước, mỗi khi có bạn bè từ nơi khác đến thăm, thế nào chủ nhà cũng mời khách ra bên bờ sông Hoàng Phố, nơi gần với khách sạn Hòa Bình trên đại lộ Nam Kinh nổi tiếng ngày nay, để chua chát giới thiệu: “Cái công viên này đây, các bạn ạ, ngày xưa khi nơi đây còn là tô giới của nước ngoài, người Anh dám treo một cái biển hỗn xược trước cánh cổng khép hờ: Cấm chó và người Trung Quốc vào vườn hoa”.


Thời trước, Thượng Hải biết thế nào là tủi nhục. Đồng thời Thượng Hải cũng rất đỗi tự hào là một nơi nhen nhúm và góp phần vào vinh quang của đất nước qua hoạt động của các danh nhân tiếng tăm lừng lẫy: Cù Thu Bạch, Lỗ Tấn, Chu An Lai, Tống Khánh Linh..., bên cạnh bao nhiêu thợ máy, sinh viên, trí thức, dân nghèo đã chiến đấu, đã hy sinh mà không hề lưu lại cho lịch sử một cái tên riêng, ngoài dòng chữ chung mạ vàng gắn trước nhà lưu niệm: Nơi đây, năm 1921, Đảng Cộng sản Trung Quốc ra đời.


Trên bến sông xưa tủi nhục ấy, ngày nay sừng sững bức tượng toàn thân của Nguyên soái Trần Nghị người giải phóng Thượng Hải và cũng là vị thị trưởng đầu tiên của thành phố sau ngày đất nước khôi phục trọn vẹn độc lập, chủ quyền. Và ở bờ sông bên kia, cao vút lên trời xanh như một niềm kiêu hãnh, tháp truyền hình Minh Châu chen vai thích cánh cùng bao nhiêu cao ốc, nhà chọc trời mới xây dựng sáng lóe kính, và thép không gỉ của Phố Đông.


Hơn năm mươi năm về trước, Thượng Hải chia làm hai phần rành rẽ. Hay đúng hơn, thời ấy có hai thành phố Thượng Hải. Một của người Trung Quốc đích thực và một của người nước ngoài, với luật pháp, sinh hoạt, phong tục, tập quán riêng biệt. Tuy nhiên, từ đầu thế kỷ XX, Thượng Hải đã nổi lên như một trung tâm công thương, văn hóa, giao lưu quốc tế lớn ở miền Đông Á. Ngay từ thời ấy, sản vật mang nhãn mác Thượng Hải - từ cỗ máy lớn cho đến mét lụa, bánh xà phòng hay thời trang, lối sống đều bao hàm ý nghĩa cách tân, chất lượng, tinh tế. Thượng Hải là nơi ra đời nhiều nhà doanh nghiệp lớn của Trung Quốc ganh đua trên trường quốc tế. Có hiểu chút ít về bối cảnh lịch sử và tính cách con người Thượng Hải, mới có thể lý giải vai trò và những cống hiến nổi trội của những nhân vật đương đại như Giang Trạch Dân, Chu Dung Cơ, Tăng Khánh Hồng, Hoàng Cúc... và những người lao động trên đôi bờ sông Hoàng Phố đối với sự phát triển của đất nước Trung Quốc ngày nay.


Tôi đến Thượng Hải lần rồi đúng vào dịp thành phố đăng cai Hội nghị cấp Bộ trưởng Tổ chức hợp tác Kinh tế các nước châu Á - Thái Bình Dương (APEC). Lại có Hội nghị các nước “Nhóm Thượng Hải”; trong số các nguyên thủ đến dự hội nghị, có đương kim Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ chưa thật sự định thần sau cơn choáng mà “sự kiện 11 tháng 9” bi thảm vừa diễn ra tại Mỹ.


Thượng Hải chuẩn bị cho các hội nghị ấy từ vài ba năm nay. Trong khoảng thời gian ngắn, có thêm ba mươi công viên mới hình thành, mười vạn cây cổ thụ được đưa từ nơi khác đến trồng tại thành phố. Mấy tháng cuối năm 2001, khánh thành năm công trình lớn: Vườn khoa học công nghệ, Trung tâm triển lãm quốc tế Phố Đông, Trung tâm báo chí quốc tế Thượng Hải, đường cao tốc và đường băng chuyên dụng ở sân bay quốc tế mới. Chất lượng không khí thành phố cũng được thường xuyên theo dõi, kiểm tra và thông báo công khai, để tìm cách cải thiện. Đúng là một loạt tín hiệu đánh đi cho toàn thế giới: Thượng Hải ngày nay không chỉ là nơi kinh tế phát triển, có thu nhập bình quân tính theo đầu người cao nhất Trung Quốc, chỉ kém có Hồng Kông và Ma Cao, là nơi đầu tư nước ngoài thuận tiện, hiệu quả cao, mà Thượng Hải còn là một địa bàn lý tưởng cho cư trú, sinh hoạt, giải trí. Thành phố dang tay đón mời bè bạn: Hãy đến đây làm ăn, hãy đưa gia đình, thân thuộc đến đây làm việc và sinh sống lâu dài, các bạn sẽ trở thành những người giàu sang, sung sướng trong đầy đủ tiện nghi.


 


Thượng Hải, 2001


 


(Còn tiếp)


Nguồn: Bên mộ vua Tần. NXB Văn học, 2004.







[1] Một loại hợp kim, không gỉ, cường độ chịu lực cao (B.T)




2 Vùng Giang Nam: Chỉ vùng đất rộng lớn phía Nam Trung Hoa, từ sông Trường Giang đổ xuống.


 




3 Tái chéng: Tạm biệt.


 



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguồn gốc người Việt - người Mường: Nước Xích Quỷ - Tạ Đức 21.05.2017
Nói có sách (1) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (6) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (5) - Vũ Bằng 18.05.2017
OIJ chấm dứt hoạt động, sự nghiệp OIJ trường tồn - Phan Quang 17.05.2017
Ký ức tháng Tư - Trần Đăng Khoa 02.05.2017
Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười (4) - Hà Minh Đức 04.04.2017
Gặp một người “Hà Nội Xưa và nay” và… - Thái Thành Đức Phổ 04.04.2017
Ma túy, những câu chuyện khốc liệt - Hoàng Điệp – Mai Vinh 23.03.2017
Một làng biên giới - Võ Phiến 23.03.2017
xem thêm »