tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20527207
30.09.2008
Phan Quang
Bên mộ vua Tần

MUÔN DẶM TRƯỜNG THÀNH


 


Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt


Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây


(Chinh phụ ngâm)


Thấy tôi vừa xem bản chương trình tham quan vừa tủm tỉm cười, anh bạn nhà báo tinh ý nói:


- Chúng tôi biết ông đã thăm Vạn Lý Trường Thành nhiều lần...


Tôi cười:


- Bất đáo Trường Thành phi hảo hán... Đã đến Bắc Kinh làm sao không đến Trường Thành. Đúng là tôi vinh dự trở thành hảo hán từ hồi còn trẻ. Mấy năm gần đây tuy không còn sung sức như trước, nhưng cũng đã thêm ba lần trở thành hảo hán. Lần này cố gắng nữa, vị chi năm.


- Dĩ nhiên ông có thể nghỉ ngơi, không đi thăm Trường Thành. Hay là chúng tôi sắp xếp cho ông một chương trình tham quan riêng, nhẹ nhàng thôi?


- Không, tôi sẽ đi Trường Thành cùng với mọi người - tôi đáp. Bạn đã sang Việt Nam nhiều lần. Chắc bạn biết ở Việt Nam chúng tôi có câu ca dao: Đi thì nhớ vợ cùng con, Về nhà nhớ củ khoai môn trên rừng... Có lần đến Bắc Kinh tôi đã ngần ngại không thăm Trường Thành, anh em đi về kể chuyện, mình lại tiếc. Tính tôi ham vui. Trường Thành dài muôn dặm, chú cuội ngồi trên cung trăng còn nhìn thấy; mới đi thăm ba lần, làm sao gọi là đủ. Bác Hồ của chúng tôi trong một chuyến thăm chính thức Trung Quốc năm 1957 từng đến đây, từng lên thành. Bác Hồ đã làm bài thơ ứng khẩu Thính thuyết Trường Thành vạn lý trường - Đầu liên Đông hải vĩ Tây cương... Bác Hồ nói, Trường Thành kéo dài từ biển Đông đến miền Tây Vực cơ mà...


Đến lượt người bạn Trung Hoa cười tủm tỉm:


- Chính vì vậy hôm nay chúng tôi không mời quý vị thăm Trường Thành ở điểm Bát Đạt Lĩnh như mọi lần. Chúng ta sẽ đi lối Mộ Điền Dụ. Đường có khó hơn, tuy nhiên hy vọng các vị đã từng thăm Trường Thành có thêm cảm nhận mới. Dù sao cũng không để các vị khách quý nhỡ chương trình chiều nay ở thủ đô.


Các bạn Trung Quốc thâm trầm và chu đáo thế. Đoàn đông người, trong đoàn có nhiều vị lần đầu đặt chân tới Bắc Kinh. Ai đã đến đây mà không ước mong thăm Vạn Lý Trường Thành. Ai không muốn mình được một lần trở thành hảo hán, kể cả các chị liễu yếu đào tơ, váy chùng quét đất và chân chưng diện những đôi giày thời trang gót cao mười hai centimét. Ai chẳng muốn có một tấm ảnh lưu niệm chụp đứng bên cái cột đá có bút tích của chính Chủ tịch Mao: Bất đáo Trường Thành...


Tôi thưa với bạn: Nói thật lòng, Trường Thành muôn vẻ. Cũng giống như vịnh Hạ Long của chúng tôi. Nhiều người cứ nghĩ thăm vịnh phải chọn hôm đẹp trời: nắng sáng, trời cao, biển lặng; với thời tiết này các đảo phô hết mọi sắc thái trước mắt khách tham quan. Nhưng những người sành điệu cho rằng thăm vịnh Hạ Long bất kỳ lúc nào cũng bắt gặp cái thần của nó: đêm trăng, chiều gió, mưa lớn, mây mù... Mỗi cảnh có nét đẹp riêng. Tôi đã đi thuyền qua vịnh lúc mưa to gió lớn, thật là hùng vĩ. Vào hôm sương mù, lại hay hơn. Đảo lớn đảo nhỏ cứ theo nhau hiển hiện, lúc đầu mờ ảo, dần dần rõ nét để rồi lại biến mất sau lưng ta như đã hòa tan vào cảnh thần tiên... Tôi đã thăm Trường Thành mấy lần, mỗi lần cảm xúc mỗi khác. Có điều chưa bao giờ được đến vào ban đêm, nên chưa được thấy bóng trăng trên Trường Thành. Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt..., câu thơ gợi cảm ấy, không mấy người Việt Nam chúng tôi có ít nhiều học vấn không thuộc lòng.


Trong cảm nhận chủ quan của tôi, sự biến đổi của cảnh quan Vạn Lý Trường Thành trong chừng mực nào đấy, biểu hiện sự đổi thay của Trung Quốc mấy chục năm lại đây. Đầu những năm chín mươi, quan hệ hai nước Việt - Trung ấm nồng lên sau một thời gian gián đoạn, đặc biệt là sau nhiều năm đất nước bạn trải qua những biến động đau đớn, tôi có dịp trở lại Trung Quốc. Vạn Lý Trường Thành hồi này đã bắt đầu nườm nượp khách du. Cờ xí rợp trời. Các cửa hàng bán vật lưu niệm, các nhà hàng, quán rượu, các tua du lịch mang cờ hiệu các tỉnh khắp Trung Quốc và của nhiều hãng nước ngoài chen lấn nhau. Người ta xếp hàng khá đông để được cầm cái dùi đánh lên mặt chiếc trống trận đặt trong điếm canh phòng, thẳng cánh dóng một hồi như thể đang xua quân tiến tới. Với một món tiền không lớn, bạn có thể tự tay đốt một tiếng pháo hiệu nổ đoành, khói trắng hòa vào hơi mù suốt ngày bàng bạc ven sườn núi cao. Hoặc hơn nữa, tự tay châm lửa đốt một ụ rơm người ta đã vun sẵn, nhìn làn khói xám bốc lên cao và bạt theo làn gió núi lúc nào cũng hun hút, và tưởng tượng đây chính là ngọn núi Cam Tuyền, và ta đây là người lính biên phòng đang khẩn cấp thông báo cho quan quân triều đình biết kẻ xâm lăng từ phương Bắc đã đến tận chân thành... Người đi xuống kẻ ngược lên, chen vai thích cánh. Chiếc cầu thang ghép đá hộc dẫn lên sàn thượng của điếm canh hẹp vừa đủ cho một người đi, lại cao dựng đứng, càng làm tăng thêm lượng người xếp hàng chờ đợi đến lượt mình. Lên trên ấy ngó nghiêng một cái bốn phương trời núi đồi trùng điệp vô cùng hiểm trở, rồi xếp hàng chờ đến lượt được leo trở xuống.


Chỉ tiếc mình không có đủ thời gian đến tận Sơn Hải Quan mãi trên bờ vịnh Bột Hải. Một người bạn văn của tôi đã tới nơi ấy. Anh kể dãy núi làm nền cho Trường Thành đến nơi đó tự tách làm đôi, tạo thành một điểm dừng chân và mở ra một lối đi hẹp cây cối um tùm. Thời trước đây là nơi duy nhất người “quan nội” (sống bên trong cửa ải) có thể đi ra “quan ngoại” (bên ngoài ải quan) và ngược lại. Tương truyền đây chính là nơi nàng Chiêu Quân dừng kiệu từ biệt quan quân theo tiễn, để một mình cùng vài thị nữ tâm phúc dấn thân vào đất Hồ, cái xứ mà người Trung Quốc xưa cho là xứ của người man di - “rợ Hồ” mà. Chiêu Quân cống Hồ (người đẹp Chiêu Quân mang thân sang làm vật cống nước Hồ), Tô Vũ mục dương (ông Tô Vũ bị đày, một mình thui thủi chăn dê trong giá tuyết) những giai thoại ấy, những tranh minh họa cảnh ấy đâu có xa lạ gì lắm đối với người Việt Nam. Bạn tôi cho biết ở Trung Quốc ngày nay còn lưu truyền rộng rãi bản cổ nhạc có tên Chiêu Quân xuất trại. Nàng Kiều bạc mệnh của Nguyễn Du xưa hẳn tâm đắc lắm nhạc khúc này[1]. Cung đàn thổn thức nỗi dằng xé nửa phần luyến chúa nửa phần tư gia trong lòng người thiếu phụ. Nhạc điệu u hoài bước chân lảo đảo của quân sĩ tùy tùng trong tuyết lạnh, tiếng ngựa hí cùng tiếng gió bắc thê lương...


Không rõ tưởng tượng của tôi - và của anh bạn văn  có đi quá xa không. Thực tế e rằng không được như mơ màng của mình. Bởi theo báo chí phương Tây, ngay cả nơi khởi đầu Vạn Lý Trường Thành ở phía Đông, giáp biển và cách Bắc Kinh khoảng ba trăm ki lô mét về Đông Bắc, điểm Lão Long Đầu ngày nay Trường Thành chỉ còn lại vết móng. Các công trình kiến trúc đều mới, vừa được dựng lên vài chục năm lại đây nhằm thu hút khách du lịch và phục vụ nhu cầu hết sức lạ lẫm của họ, càng làm biến dạng thêm những gì còn lại của Trường Thành. Công bằng mà nói, phá hoại dữ dội nhất đoạn thành này không phải là thời gian hay người bản địa, mà chính là “liên quân” của nước ngoài, những người từ bên Tây kéo nhau sang đây xâm lăng, cướp bóc khoảng một trăm năm mươi năm về trước. Có phải bây giờ Trường Thành mới bị đổ nát đâu. Có điều là nhịp độ tàn phá của thời gian dường như mỗi ngày một nhanh lên.


Sự vật đổi thay rồi. Ngày nay chẳng ai còn dám ngang nhiên dọa nạt Trung Quốc. Ngày nay Trung Quốc là nước đang phát triển lớn nhất, có nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao nhất, chẳng bao lâu nữa sẽ trở thành một trong vài quốc gia đứng đầu thế giới về mọi mặt. Không ai có thể bỏ qua thậm chí coi nhẹ tiếng nói của Trung Quốc khi cần giải quyết những vấn đề toàn cầu. Không quốc gia nào không tính toán cái lợi cái hại trong việc làm ăn lâu dài với Trung Quốc. Đến nỗi nhiều chuyên gia của nước Mỹ siêu siêu cường qua bao nhiêu công trình nghiên cứu đã phải thốt lên: Cẩn thận, hãy cẩn thận, nước Trung Hoa sắp đuổi kịp, sắp vượt mặt đất nước Hoa Kỳ vĩ đại chúng ta rồi đó, vv.và vv. Các nhà kinh tế Nhật Bản nước mặt trời chói lọi Đông Á còn bi quan hơn. Đến mức tới lượt các học giả Trung Quốc, vì những lý do riêng của mình lại phải viện dẫn ra bao nhiêu tư liệu hùng hồn để lớn tiếng thanh minh: Không, không đâu, Trung Hoa ngày nay và về lâu dài vẫn là một nước đang phát triển; giả thiết cứ giữ được đều đặn mức tăng trưởng như hiện nay thì ít ra cũng phải năm mươi năm nữa, mới có thể đuổi kịp Hoa Kỳ về tổng giá trị của cải vật chất...


Dù thế nào đi nữa thì sự phát triển của đất nước Trung Hoa mấy chục năm vừa qua là kỳ diệu. Đổi thay khắp nơi, đổi thay nhanh chóng, ngoạn mục đến khó ngờ. Du khách chỉ cần tới lui trên quãng đường một trăm ki lô mét từ nội thành Bắc Kinh đến Vạn Lý Trường Thành thôi cũng đủ rõ.


Lẽ đương nhiên, như lịch sử thế giới đã chứng minh, từ xưa tới nay có sự đổi mới nào mà không phải trả giá, có sự phát triển nào không kinh qua khổ đau. Đường sá hiện đại thênh thang, nhà cửa nguy nga bề thế, những con người Trung Quốc ta gặp trên mọi nẻo đường hôm nay mỗi ngày mỗi sang trọng, mỗi văn minh hơn. Song, tần số bão cát từ sa mạc rất xa bên ngoài Trường Thành những năm gần đây lại tăng lên một cách đáng sợ. Ở nhiều vùng, quá trình sa mạc hóa đang là một nguy cơ hiển hiện. Hạn hán, lụt lội được khắc phục khá nhiều, song dường như có lúc có nơi lại trầm trọng hơn lên so với trước. Có năm chỉ một mùa lụt thôi đã làm thiệt mạng những bốn, năm nghìn người. Bão cát là kẻ thù hung dữ đang phá hoại Trường Thành. Bầu khí trời thủ đô Bắc Kinh ngày một xấu đi, đến nỗi không ít người nước ngoài cho rằng - tôi ngờ rằng họ xấu miệng quá chăng - thủ đô nhiều ngàn năm văn vật của nước Trung Hoa huyền thoại ngày nay đang trở thành thành phố ô nhiễm nặng nề nhất thế giới...


Cùng với cảnh vật, dĩ nhiên con người có nhiều sự đổi thay. Về mặt xã hội vẫn tiếp tục diễn ra sự cách biệt giữa miền Đông với miền Tây, thành thị với nông thôn. Thiếu việc làm là tình trạng phổ biến, và theo bén gót nó như một đứa em song sinh, là những tệ nạn xã hội... Một người bạn già thỉnh thoảng mời tôi uống trà tại một Trà quán nền nã bên hồ Bắc Hải, trầm ngâm: thanh niên Trung Quốc ngày nay thông minh lắm năng động lắm hiện đại lắm nhưng ông khó tìm được một vài bạn trẻ thuộc lòng trọn vẹn dăm bài thơ Đường, để cùng đàm đạo với nhau cho vui tuổi già...


Tôi không nghĩ mình là người hoài cổ. Tuy vậy một lần sang Bắc Kinh gần đây, tôi vẫn mang theo để khoe với bạn bè bên ấy một tấm ảnh kỷ niệm chụp chuyến đầu tiên tôi thăm Vạn Lý Trường Thành, tháng 10 năm 1965. Đối với khách nước ngoài chúng tôi, đấy là thời điểm huy hoàng của Trung Quốc. Người ngoài cuộc làm sao biết được những mầm mống mất ổn định đã âm ỉ từ bên trong đất nước Trung Hoa, nó sẽ trở thành cơn bão táp làm biến dạng đất nước vĩ đại này và góp phần đổi thay tận gốc bàn cờ quốc tế. Lần ấy, tôi được mời đi thăm Trường Thành cùng mấy bạn nhà báo nước ngoài. Đoạn Trường Thành gần thủ đô nhất đã được trùng tu, không còn cảnh hoang phế, đường lên xuống đã khá thuận tiện, dễ dàng. Khách có thể lên đến mặt thành và tha hồ ngược dốc nếu đủ sức leo. Nhưng cảnh quan còn vắng vẻ lắm. Chỉ có mấy chúng tôi, cùng lưa thưa một vài đoàn khách quốc tế khác, mỗi đoàn hoạt động riêng rẽ trên một khúc thành. Tuyệt nhiên không gặp những dân thường đến chơi, càng thưa thớt hơn khách du lịch nước ngoài. Vẻ hiu hắt vắng lặng của cổ thành do đó càng tăng thêm.


Tấm ảnh ấy chụp năm người. Một anh bạn Indonesia, một nhà báo Nhật Bản, tôi từ Việt Nam đến và hai người bạn nước chủ nhà - trong đó có một người là nhà báo thạo tiếng Việt rất thân thiết giúp phiên dịch cho tôi. Năm con người chụm lại, nhỏ bé trên mái Trường Thành chênh chếch, giữa núi đồi mênh mang và vắng vẻ thinh không.


Anh bạn người quần đảo Nam Dương[2], chỉ ít lâu sau tôi được biết, từ Bắc Kinh trở về đến sân bay Jakarta, anh bị những người làm đảo chính bắt giữ ngay vì cho anh có cảm tình với Cộng sản. Cũng dễ hiểu số phận anh sau đó ra sao. Anh bạn nhà báo đất Phù Tang[3] trở về nước đã rời Đảng Cộng sản Nhật Bản vì bất đồng với chính sách đối ngoại của ban lãnh đạo đảng anh. Còn anh bạn người Hoa của tôi, không ai rõ anh phiêu bạt đi đâu thời Cách mạng Văn hóa; có điều chắc chắn anh không còn là một ký giả tân văn và chưa một lần nào tôi được gặp lại anh.


Tôi có quen một người bạn Trung Hoa khác, danh tiếng hơn, mà tôi rất kính trọng. Tên cụ là Ngô Lãnh Tây, nguyên Chủ tịch Hiệp hội Nhà báo toàn Trung Quốc, từng nhiều năm đứng đầu Thông tấn xã Tân Hoa hùng mạnh và Tổng biên tập tờ Nhân dân Nhật báo đầy quyền uy. Trong cuộc họp báo quốc tế của Phó Thủ tướng, Nguyên soái Trần Nghị năm 1965, Ngô Lãnh Tây ngồi bên phải Nguyên soái. Hồi ấy ông Ngô còn khá trẻ. Chỉ có hai vị ấy chễm chệ trên bàn chủ tịch, người phiên dịch khép nép ngồi lùi về phía sau. Cụ Trần mang kính đen, uy nghi lẫm liệt. Ông Ngô long lanh đôi kính trắng gọng vàng, rất đẹp trai, đọc các câu hỏi đã ghi sẵn lên giấy của phóng viên các nước từ dưới gửi lên, chọn người được đặt câu hỏi và chuyển sang cho Nguyên soái - Phó Thủ tướng - Ngoại trưởng trả lời. Có ai đó rỉ tai tôi: Ông Ngô kỳ Đại hội sắp tới của Đảng Cộng sản Trung Quốc, nếu không làm Bộ trưởng Ngoại giao thay cụ Trần thì ít ra cũng là Ủy viên Ban bí thư Trung ương phụ trách đối ngoại. Ý kiến ấy có trọng lượng đến đâu, tôi không được rõ, song điều chắc chắn nhà báo - chính khách họ Ngô là một ngôi sao đang lên...


Ít lâu sau, Tổng biên tập Ngô dẫn đầu một đoàn đại biểu hùng hậu của Nhân dân Nhật báo Bắc Kinh sang thăm Việt Nam theo lời mời của anh Hoàng Tùng, Tổng biên tập báo Nhân dân. Tôi được giao nhiệm vụ giúp Phó Tổng biên tập Nguyễn Thành Lê tháp tùng các vị khách quý. Sau khi đoàn đi thăm vùng than Đông Bắc và thắng cảnh vịnh Hạ Long về, chúng tôi đưa đoàn vào tận Vĩnh Linh tuyến lửa. Chuyến đi ấy đã cung cấp tư liệu và gợi xúc cảm cho các nhà báo nước bạn. Và các nhà báo nước bạn đã viết hàng loạt bài, với tình cảm hết sức ấm nồng, phản ánh cuộc chiến đấu anh hùng của nhân dân Việt Nam chống chiến tranh phá hoại do đế quốc Mỹ gây nên và sự gồng mình của cả hậu phương lớn miền Bắc chi viện miền Nam đánh thắng. Báo ảnh Trung Quốc dành trọn một số đặc biệt in nhiều ảnh của các phóng viên trong đoàn. Tôi giữ ấn tượng mạnh về tấm ảnh chụp cô dân quân Vĩnh Linh trong bộ áo quần nâu, lưng thắt dây da to bản làm nổi bật tấm lưng ong và thân hình tràn đầy sức sống, bên dưới có dòng chú thích Bất ái hồng trang ái vũ trang, rút từ một bài thơ được nhiều người thích của Mao Chủ tịch thời ấy.


Trong Cách mạng Văn hóa, ông Ngô bị hạ bệ. Ông không phải về nông thôn tỉnh xa cải tạo như nhiều nhà trí thức khác, mà lại được giao nhiệm vụ đặc biệt: hằng ngày chụp cái mũ giấy có đề hai chữ to “hữu phái” lên mái đầu ngày càng lưa thưa tóc, cố tình kéo thấp xuống che bớt vầng trán thông minh, rồi dọn dẹp kỳ cọ cho thật sạch các nhà vệ sinh trong cơ quan báo.


Tình hình ổn định trở lai, ông Ngô thoát những ngày hoạn nạn. Song ông không còn giữ trọng trách nào. Một người bạn tôi có dịp sang thăm Trung Quốc lần ấy có thăm ông. Trở về, anh kể lại: “Gặp bạn cũ, ông Ngô vui hẳn lên. Ông nói, mừng các bạn ngày càng khỏe mạnh ra, sung sức hơn. Còn tôi thì hỏng mất rồi. Người tôi mang bao nhiêu bệnh trọng. Hỏng, hỏng hẳn rồi”. Bạn tôi bình luận thêm, người Trung Hoa vốn thâm thúy; ông Ngô nói người ông hỏng rồi, chẳng rõ ấy là ông nói về thể chất ông, hay là còn bao hàm “ý tại ngôn ngoại” nào khác nữa hay không.


Sau một thời gian gián đoạn khá dài, đầu thập niên 90, tôi trở lại Trung Quốc. Mới biết lão tướng họ Ngô tuy không giữ trọng trách trên chính trường, song rất được giới tân văn trọng vọng. Ông lại được bầu là Chủ tịch Hiệp hội Tân văn ký giả toàn Trung Hoa, mặc dù trên thực tế vì lý do sức khỏe, ông không làm việc. Phần lớn thời gian ông nằm bệnh viện hoặc sống trong an dưỡng đường. Anh bạn nhà báo Trung Quốc cho biết, lão đồng chí Ngô bị bệnh tim nặng. Trung ương chỉ thị Cục bảo vệ sức khỏe phải tìm mọi cách, bằng bất cứ giá nào, chữa chạy cho bậc trưởng thượng. Người ta đã thay tim cho ông. Bây giờ sống với quả tim nhân tạo.


Tôi cực kỳ cảm kích khi được biết, cụ Ngô sẽ tiếp và mời cơm đoàn chúng tôi ở công viên Bắc Hải, ngay trong phòng ăn của chính bà Từ Hy Thái hậu ngày trước - ấy là người ta bảo thế. Cụ vẫn hồng hào, mái tóc bạc phơ, mắt còn tinh anh sau đôi kính trắng gọng đồi mồi. Ông nói với tôi: “Được tin các bạn Việt Nam sang Bắc Kinh, trong đó có bạn cũ, tôi không thể không gặp. Tôi xin dưỡng đường cho phép ra đây chiều nay với các bạn. Tôi không sao quên đất nước Việt Nam tuyệt vời. Trong trí tôi không bao giờ phai mờ chuyến đi Vĩnh Linh cùng các bạn. Nhưng, tiếp đoàn xong, tôi lại phải trở vào viện ngay. (Ông cười). Tôi bây giờ còn sống, nhưng đâu phải sống bằng trái tim của mẹ cha cho, bởi vậy nếp sống hằng ngày của tôi phải cực kỳ nghiêm túc”.


Ông già có trí nhớ lạ lùng. Ít lâu sau buổi gặp ấy, một đoàn nhà báo Việt Nam khác sang thăm Trung Quốc. Trong đoàn có anh Nguyễn Viết Khai, Tổng biên tập báo Quảng Ninh. Hơn ba mươi năm đã trôi qua, cuộc đời riêng của cụ Ngô cũng như thời cuộc hai nước đã trải qua bao biến cố, thế mà gặp lại đoàn nhà báo Việt Nam, nghe anh Khai nhắc lại chuyến thăm Vịnh năm nào, ông già nhận ngay ra bạn cũ. Anh Nguyễn Viết Khai nói, hơn ba mươi năm về trước, anh là một phóng viên mới vào nghề, được tòa soạn cử đi theo đoàn đưa tin, đâu đã được ngồi chung bàn chén tạc chén thù với các thượng khách. Ấy vậy mà chỉ sau vài lần tiếp xúc, ba mươi năm sau, bộ nhớ của vị lão tướng dạn dày kinh nghiệm vẫn lưu giữ hình ảnh người đồng nghiệp lính mới thoạt gặp, giữa những kỷ niệm về đất nước và con người Việt Nam.


Ông Ngô thuộc thế hệ lãnh đạo thứ hai, sau khi Cách mạng Trung Hoa thắng lợi. Tôi có quen một người bạn trí thức khác, thuộc thế hệ sau. Mấy lần gần đây sang Trung Quốc, tôi đều được anh giúp đỡ chí tình trong sự hướng dẫn đi đó đi đây. Anh thạo tiếng Pháp, thành ra nhỡ khi không có phiên dịch tiếng Việt, chúng tôi vẫn có thể trò chuyện với nhau. Xin tạm gọi là anh Lão Vương, theo cách xưng hô thân mật của người Trung Quốc. Lão Vương vừa nhận bằng tốt nghiệp đại học ngoại ngữ thì bùng nổ Cách mạng Văn hóa. Năm năm đèn sách, coi như vất đi. Người trí thức như anh, trước mắt chỉ có một con đường: về nông thôn lao động cải tạo. May sao cơ quan thông tin đối ngoại hồi ấy cần một chân ký giả trợ lý làm việc ở một nước xa xôi tận bên Tây Phi, mà chưa ai muốn xung phong hoặc tổ chức chưa chọn ra người phù hợp. Vương vui lòng nhận việc, lòng đầy biết ơn. Và anh đã sống ở châu Phi đen một thời gian dài. Hình như người ta mải bận nhiều việc lớn nên quên mất anh lính trẻ - đối với Lão Vương, không rõ đó là điều rủi hay chuyện may. Khi anh trở về nước, tình hình đã ổn định. Nhưng tuổi trẻ của Vương đã trôi qua dưới mặt trời chói chang xích đạo. Đầu anh đã hói tuy tuổi chưa cao. Dù sao, Lão Vương cũng có được niềm an ủi mình là một người may mắn trong cơn bão tố...


*


*     *


Trở lại với Vạn Lý Trường Thành. Biết bao sách báo đã viết về công trình vĩ đại ấy, một kỳ công của loài người. Từ thế kỷ thứ XVIII, một nhà khoa học người Anh đã tính toán, khối lượng vật liệu dùng để xây dựng nên muôn dặm Trường Thành còn lớn hơn tổng số vật liệu xây dựng dùng để kiến thiết tất cả mọi công trình được bàn tay con người xây cất lên trên toàn bộ vương quốc Anh Cát Lợi. Từ “muôn dặm” có thể hiểu chính xác theo nghĩa đen, bởi một dặm (lý) ngày xưa đo vừa đúng năm trăm mét, và Vạn Lý Trường Thành kể cả chiều trườn lên trượt xuống thực tế cùng độ dốc của địa hình, theo tính toán của các nhà khoa học, dài vừa đúng năm nghìn ki lô mét. Đó là công trình xây dựng duy nhất có thể nhìn thấy bằng mắt thường từ các con tàu bay trên không gian vũ trụ.


Đó cũng là công trình duy nhất được con người xây dựng và tiếp tục tu bổ qua nhiều thời đại nhất. Bắt đầu khởi công từ thời Xuân Thu Chiến Quốc cách ngày nay hai nghìn năm trăm năm, được hoàn chỉnh lần đầu vào thời Tần Thủy Hoàng đế, rồi tiếp tục kéo dài và nâng cao hơn nữa các triều đại sau. Vạn Lý Trường Thành như ta thấy ngày nay chủ yếu được tu bổ và xây dựng kiên cố từ triều Minh. Tường thành được ốp đá hộc. Mặt thành lát những phiến đá to. Thành cao từ bảy đến mười mét; mặt thành rộng năm, sáu mét, có thể dùng làm đường di chuyển quân sĩ, để nhanh chóng chi viện lẫn nhau khi cần. Cách chừng nửa dặm có một điếm canh; đấy cũng là nơi dùng cho binh sĩ tạm trú gió to tuyết lạnh. Cách bốn, năm dặm có một ụ khói, sẵn sàng hun lên khi có kẻ địch bất ngờ xâm lăng bờ cõi, báo cho đại quân đồn trú trong nội địa biết và sẵn sàng nghênh chiến... Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây. Khói không chỉ bốc lên từ mỗi một đỉnh núi Cam Tuyền khi quốc gia hữu sự, mà trên chiều dài muôn dặm của Trường Thành, khói có thể bốc lên mờ mịt thức mây từ bất cứ điểm nào.


Trung Quốc ngày càng tiến lên hiện đại, Vạn Lý Trường Thành càng gần các khu dân cư tập trung hơn. Và vì vậy làm mất đi cái cảm giác thú vị mình được là người lên nơi biên ải, ở đó mình sẽ thật sự trở thành một trang hảo hán cho dù chỉ trong một buổi hoặc một ngày. Nói gì xa xôi, mới mấy chục năm trước đây thôi, đường sá vùng ngoại thành Bắc Kinh còn gập gềnh, ổ gà chen lẫn ổ voi. Trên đường thăm Trường Thành về, du khách sẽ ghé vào một cái quán nào đó bên đường để vừa thưởng thức tiếng hát ỉ ơi một giai điệu núi rừng vừa đáp ứng đòi hỏi gay gắt của dạ dày sau mấy chầu leo lên tụt xuống những dốc cao khá hiểm hóc. Thường là những cái quán đặc sản của “người dân tộc thiểu số vùng núi cao” - tên gọi vậy nhưng nhà hàng khá lịch sự vì dành riêng cho khách du lịch chưa lấy gì làm đông đảo, phần đông là người nhiều tiền của hoặc khách nước ngoài.


Bây giờ đã có xa lộ bốn hoặc sáu làn xe, cầu vượt rào chắn biển báo chỉ dẫn hoàn hảo theo đúng tiêu chuẩn quốc tế; các dãy núi hai bên xa lộ gần Trường Thành xanh mượt rừng thông mới trồng ngay hàng thẳng lối, thỉnh thoảng lại có quán nghỉ, vườn hoa. Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng, đường lên Trường Thành ngày nay không đến nỗi như câu thơ Thế Lữ, nhưng cảnh đẹp hoang sơ dù sao cũng chẳng còn bao nhiêu nữa. Rời khách sạn, lên xe hơi máy lạnh vèo một cái đến nơi, ngó nghiêng một chút, chụp vài pô ảnh, mua dăm món quà lưu niệm; lại lên xe và vèo một cái trở về khách sạn sang trọng bốn mùa điều hòa nhiệt độ ở thủ đô.


Khách du lịch càng đông, nền công nghiệp sạch càng phát triển, thì vẻ hoang sơ càng lùi dần, và nếu còn thì không thể không trở thành giả tạo. Vạn Lý Trường Thành, ít ra là những nơi ta thường viếng thăm, theo cảm nghĩ của tôi - chẳng bao lâu nữa có nguy cơ bị đô thị hóa hoặc trở thành một bộ phận của thủ đô Bắc Kinh hiện đại, cho dù về mặt hành chính nó còn thuộc địa phận tỉnh Hà Bắc. Tại Mục Thiên Vũ, cách Bắc Kinh non một trăm ki lô mét về Đông Bắc, người ta còn làm cáp treo cho khách dễ lên Trường Thành. Vào mùa đông, vừa hạ thành đã có thể lên đồi chơi môn thể thao trượt tuyết khá tốn kém vốn rất được người giàu có bên Tây yêu thích. Các nhà quản lý công trình, nghe đâu liên doanh với Hồng Kông, gọi làm như vậy là “cải tạo”, để cho đoạn Trường Thành cổ kính nơi đây thực sự trở nên “Trường Thành du lịch” thời hiện đại.


Những lần thăm Vạn Lý Trường Thành gần đây, tôi chú ý một cái mới - cũng có thể nó tồn tại ở đấy đã lâu rồi song những lần thăm trước mình chưa để ý đến chăng. Ấy là sợi xích sắt to đùng và đen thui gắn ven bờ thành từ điểm khởi đầu ở Bát Đạt Lĩnh đi ngược lên. Rất nhiều chiếc khóa đồng móc vào các mắt xích. Nước đồng mới của các ổ khóa vừa xuất xưởng ánh lên như một nốt nhạc lạc lõng bên cạnh tường đá xám ngàn năm rêu phong.


Thì ra để khắc phục tình trạng hàng ngàn hàng vạn hảo hán đã lên tới được Trường Thành còn muốn lưu danh thiên cổ, cho nên đã thi nhau vạch, viết, vẽ, sơn, khắc... danh tính của mình lên tường đá cổ bằng bất cứ vật liệu gì sẵn có trong tay, nhà quản lý thắng cảnh cho mời các bác thợ khóa đến. Trang hảo hán nào muốn lưu tên tuổi của mình (và của ai đó) cùng với ngày tháng năm lịch sử gót ngọc mình đã quá bộ đến chốn này cho hậu thế chiêm ngưỡng lâu dài, thì xin mời bạn vui lòng mở hầu bao mua cho một ổ khóa và chi thêm cho một món tiền nữa; bạn sẽ được người ta khắc quý danh quý tính lên mặt đồng, rồi mời bạn tự tay móc và bóp khóa lại ở quãng nào bạn thích trên sợi xích dài, càng ở trên cao càng tốt. Sợi xích và các ổ khóa bằng kim loại bộ dạng giống hệt nhau như những chú lính thú canh phòng biên ải thời toàn cầu hóa. Cùng với năm tháng sợi xích sắt sẽ dài thêm, các ổ khóa đồng sẽ nhiều lên, không phải một sợi mà hai, ba, bốn sợi đua nhau chạy song song, che lấp phần dưới của tường thành nền nã. Giống hệt cô gái người mặc áo tứ thân mà chân lại diện quần bò lửng[4]. Chắc chắn những sợi xích ấy có ích cho ông già bà lão hoặc những khách du như tôi, sức đã xuống mà vẫn náo nức muốn trở thành hảo hán. Các cụ hãy yên tâm vịn vào đấy khi lên khi xuống đỡ lo sảy chân trượt ngã. Tiện lợi chứ. Song ngẫm nghĩ, thấy cũng thật lạ lùng cho ý tưởng của nhà quản lý nào đầu tiên nghĩ ra sáng kiến này. Nó giúp hái ra tiền gần như cái cáp treo chở người lên xuống ở Mục Thiên Vũ, nhưng cứ nhịp điệu này thì dăm mươi năm nữa, làm gì còn khói Trường Thành để mờ mịt thức mây. Làm gì có bóng nguyệt lung lay Trường Thành, bởi giữa ban ngày ban mặt, bão cát đã ngang nhiên che khuất cả mặt trời mùa xuân ở thủ đô Bắc Kinh nữa là. Nói gì chuyện nhiều chục năm về sau nữa. Nghe nói ở mạn cực Tây của Trường Thành thuộc địa phận tỉnh Cam Túc giáp sa mạc Gobi, cái pháo đài cổ được dựng lên cách đây bảy thế kỷ đang bị thiên nhiên và con người tàn phá nặng nề. Lại nghe nói, có chỗ Trường Thành bị san bằng cho đường cao tốc xuyên ngang. Đó là con đường huyết mạch nối liền vùng Hoa Đông ấm áp ven biển với Cao nguyên Tây Tạng nghèo khó quanh năm lạnh giá và do vậy càng mẫn cảm hơn trước những đợt sóng ngầm do các thế lực thù địch tạo nên. Giữa nhu cầu phát triển kinh tế, củng cố an ninh quốc phòng với bảo tồn di sản văn hóa, ở đâu cũng vậy, là cả một sự dằng xé triền miên.


*


*     *


Dù sao thì điều thú vị nhất khi thăm Vạn Lý Trường Thành hoặc bất cứ một thắng cảnh nào trên đất Trung Hoa - tôi chỉ dám nói về cảm nhận của riêng mình - là qua mỗi bước đi ta lại gặp dấu tích một nền văn hóa đã chừng nào thấm vào thịt da ta, một sự quen thuộc nếu không phải sâu xa từ ngọn nguồn thì ít ra cũng có sự giao lưu, tác động đậm đà cả vài ngàn năm trở lại. Một câu thơ Đường, một bài từ Sở, một ngôi tháp cổ, một miếu thờ danh nhân, một mái lầu Hoàng Hạc, một tiếng chuông chùa nơi núi lạnh, một ngọn đèn ngư phủ giữa sương khuya, một dòng tràng giang bát ngát... Thăm Trung Quốc, tôi thường có cảm giác ngờ ngợ là cái gì xa xưa thì mình cảm thấy gần gũi, cái gì đương đại thì mình lại thấy như có sự cách biệt, mà sự cách biệt này dường như đang doãng thêm cùng ngày tháng. Những thành tựu nước Trung Hoa đạt được mấy chục năm gần đây tôi thành tâm ngàn lần bái phục. Song, thật thà mà nói, những công trình xây dựng nguy nga kia, những cơ cấu hạ tầng bền vững ấy, ta có thể bắt gặp nhan nhản bên Mỹ bên Tây, còn cái hồn xưa quen thuộc với ta thì đi khắp thế giới chẳng thể tìm thấy ở nơi nào ngoài Trung Hoa.


Tôi mê Vạn Lý Trường Thành còn bởi chút kỷ niệm riêng tư. Nhà văn hóa uyên thâm cụ Hoàng Xuân Hãn kính mến của chúng ta nay không còn nữa, sau nhiều năm tìm tòi nghiên cứu cụ đã khẳng định: Tiếng trống vẫn làm lung lay bóng nguyệt trong tâm hồn hơn một thế hệ người Việt Nam ta không phải là trống trường thành, càng không phải trống của Trường Thành đích thực, mà nó là tiếng trống dóng lên đâu đó từ Tràng An, kinh đô của bốn triều đại lớn ở Trung Quốc thời xưa, nay là thành phố Tây An xa vời thuộc miền Tây Bắc. Ở gần cố đô Tràng An quả có một ngọn núi mang tên núi Cam Tuyền, đấy chính là nơi các đội lính canh giữ biên cương xưa kia khi gặp khẩn cấp, đốt khói lên cấp báo với triều đình, rằng rợ Hồ đã mang quân gây hấn gần tới kinh đô rồi đấy.


Sự thật lịch sử chắc hẳn đúng như nghiên cứu của cụ Hoàng. Song tôi vẫn muốn trộm phép nhà bác học uyên thâm để tin rằng nó vẫn là trống Trường Thành, vì tiếng thở dài của người chinh phục đã thấm vào hồn tôi - và có lẽ hồn của hơn một thế hệ - từ ngày chúng tôi còn đi học. Những câu Kiều, những câu Chinh phụ cùng với ca dao là chất kết dính những con người Việt Nam bất cứ ở chân trời nào lại với nhau, cho dù quan điểm của mỗi người về cuộc sống, về thời cuộc có khác. Trong riêng tư, chỉ trong riêng tư thôi, tôi cứ nghĩ cái làm cho người Việt Nam ta cảm thấy gần gũi những người bạn xóm giềng phương Bắc là ở sự tương đồng về văn hóa trong chiều sâu lịch sử, cho dù trong đường lối chiến lược hiện nay, hai bên quả có nhiều điều học tập lẫn nhau; và chân thành hợp tác là một tất yếu sống còn của cả hai phía.


Cũng có thể nói như vậy chăng, song ở mức độ chí thiết hơn, đậm đà hơn nhiều bởi do cùng chung dòng sữa mẹ Âu Cơ, với người Việt Nam ta bất kỳ đang sống ở phương trời nào.


Ngày mới giải phóng miền Nam, tôi có cái may được tiếp xúc một số nhà văn hóa nổi tiếng ở Sài Gòn. Tôi có lần đến thăm một nhà văn nữ, đúng hơn là một nhà giáo, giảng viên đại học có làm văn chương, theo lời giới thiệu riêng của nhà văn, học giả Nguyễn Hiến Lê. Chị rất ngại ngần khi có khách lạ gõ cửa, nhưng có lẽ vì nể tấm thiếp thân tình của bác Nguyễn Hiến Lê cho nên chị miễn cưỡng mời tôi vào nhà. Dễ hiểu thôi, chồng chị đang tập trung cải tạo, con gái lớn đang kẹt ở nước ngoài, tôi là người Bắc Việt mới chân ướt chân ráo đến đô thành... Chị né tránh những vấn đề thời sự. Và dĩ nhiên tôi đến thăm và làm quen với chị đâu để trao đổi với nhau về thời cuộc.


Nhưng rồi chị tiếp tôi lâu hơn, lưu tôi lại để chuyện trò lâu hơn tôi nghĩ khi mới đặt chân vào nhà. Người trí thức ấy muốn tìm hiểu sâu về sinh hoạt đời thường ngoài Bắc. Chúng tôi nói chuyện lan man. Hóa ra chị là một người am hiểu sâu sắc văn hóa Đông phương. Chị có nhiều trăn trở ưu tư trước tác động làn sóng xâm lăng ngoại lai về tinh thần - chị muốn nói đến văn hóa Hoa Kỳ. Chị cho biết đã có dịp thăm Đài Loan, đã sang Nhật Bản. “Tôi vẫn thòm thèm. Tôi muốn đến Trung Hoa lục địa. Nhưng, xin anh bỏ quá cho, tôi ngại các ông Cộng sản lắm”. Tôi hơi bất ngờ về sự thẳng thắn của chị.


Tiễn tôi ra về, đến cánh cổng sắt rộng, cả tháng nay rồi chỉ mở hé vừa đủ cho người nhà ra vào, chị hỏi: “Anh có phải là đảng viên không?”.


Chị rời thành phố trong làn sóng vượt biên. Sự việc làm sao có thể khác vậy, trong bối cảnh đầu thập niên tám mươi. Ít lâu sau, một người bạn đưa cho tôi xem mấy bài thơ ký bút danh chị, đăng trên một tạp chí Việt ngữ xuất bản ở nước ngoài. Giọng thơ hoài hương, nói lên mối sầu viễn xứ được coi là thời thượng dạo ấy, không có gì đặc sắc lắm về mặt văn chương tuy tình cảm chân thành thật đáng trân trọng. Bẵng đi một thời gian khá lâu, tôi lại được đọc trên một tập san khác một bài du ký, lần này dưới tên ký của chị có ghi rõ học hàm và địa chỉ một trường đại học nước ngoài. Chị viết nhân chuyến viếng thăm chùa Yên Tử đang được sửa sang. Một bài với nhiều chi tiết sống động, cảm xúc chân thực và ý kiến đề xuất mạnh mẽ. Chỉ những người có tâm huyết với đất nước quê hương và được mắt thấy tai nghe nhiều thứ mới đau lòng khi thấy màu xanh Yên Tử đang lùi bước nhanh trước đất đỏ mới đào xới và than đen.


Lần lên thăm Vạn Lý Trường Thành ấy vào mùa xuân, trời phương Bắc âm u. Càng dễ xúc động khi ngắm nhìn các cột khói trắng khách du lịch đốt lên trên cái đỉnh núi Cam Tuyền chỉ hiện diện trong hồi ức tôi. Bỗng dưng, tôi nhớ đến người bạn trí thức từng gặp ở  Sài Gòn năm nào. Rốt cuộc, người Việt Nam chúng ta có thể khác nhau về nếp nghĩ, lối sống; mỗi người có thể chọn cho mình một nơi nào đó để hạ cánh về cuối đời, nếu không muốn hoặc không có điều kiện sống trên dải đất hình chữ S. Nhưng cái căn bản gắn kết đồng bào Việt Nam chúng ta lại với nhau, rốt cuộc là nền móng văn hóa sâu xa của dân tộc.


Tôi chọn mua một tấm bưu ảnh chụp Trường Thành nửa tỏ nửa mờ trong mây trắng, gửi cho chị đang ở nước ngoài - dĩ nhiên tấm bưu thiếp muốn thật có “giá trị” về mặt tình cảm phải đóng dấu bưu cục Bát Đạt Lĩnh, theo đúng phong cách ứng xử ở bên Tây, chứ không phải được gửi đi từ bất cứ một bưu cục nào khác. Trong lúc vội vàng, chưa nghĩ ra ý gì, tôi chép lại hai câu Chinh phụ quen thuộc chợt hiện lên trong trí: Trống tràng thành lung lay bóng nguyệt - Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây, và viết thêm một câu nửa đùa nửa thực: Hỏi rằng ai có nhớ ai ...


 


Bắc Kinh - Hà Nội, 2002





 


TÂY HỒ MÙA THU


 


Chủ tịch Hội nhà báo Trung Quốc Triệu Hoa Trạch nói với tôi: “Mười sáu năm mới có một lần trung thu trùng hợp với Quốc khánh Trung Quốc, mùng một tháng mười dương lịch. Cán bộ, viên chức cả nước nghỉ bắc cầu suốt cả một tuần. Có khoảng một triệu rưởi người từ các địa phương và nước ngoài đổ về thủ đô mừng Quốc khánh. Bởi vậy Bắc Kinh ồn ào lắm. Anh đi Hàng Châu ngày mai là rất phải. Ở đấy lúc nào cũng yên ả. Thưởng ngoạn trung thu trên Tây Hồ thì thật tuyệt vời”.


Hàng Châu cách Bắc Kinh chỉ có hai giờ bay. Song, bởi mải mê với không khí thủ đô ngày hội, chúng tôi đến Hàng Châu hơi muộn. Thủ phủ tỉnh Chiết Giang mà trung tâm là cảnh đẹp Tây Hồ vốn nổi tiếng ở đất Giang Nam5 cả nghìn năm nay. “Trên trời có thiên đàng, dưới đất có Tô Hàng” (Tô Châu và Hàng Châu), người xưa nói thế và người nay cũng vẫn còn nói vậy.


Phi trường, tiếng là sân bay thuộc tỉnh, nhưng rộng lớn và hiện đại đủ làm ước mơ của thủ đô bao nhiêu nước. Kinh tế Chiết Giang tăng trưởng nhanh, từ vị trí thứ mười ba sau mười năm vươn lên đứng vào hàng thứ ba các tỉnh và thành phố toàn Trung Quốc. Mặc dù vậy, Hàng Châu vẫn giữ được phong độ văn vật cổ kính làm nên niềm tự hào nghìn xưa của nó. Ở đây không có nhiều nhà chọc trời. Không có vẻ lộng lẫy kiêu sa của ánh sáng đêm đêm tỏa ra từ tháp Eiffel bên Pháp. Không có những tia lade ngạo nghễ soi rọi mặt biển từ đôi mắt con hải sư khổng lồ bằng bê tông cốt thép ở đảo quốc Singapore nhỏ bé mà giàu sang bên cạnh chúng ta. Các đỉnh cao nhô lên khỏi các rừng cây cổ thụ ở Hàng Châu phần lớn là những ngôi tháp cổ mờ ảo dưới sương trăng, được tôn cao bởi xây trên các đỉnh núi chập chùng lớp lớp. Điều đập vào mắt du khách đến thành phố này là màu xanh cây cỏ và nét uốn lượn thanh thoát của những cái đao trên mái các đình, từ, quán, sảnh. Khắp nơi ngan ngát mùi hương kín đáo của hoa quế. Mùa thu là mùa hoa quế nở rộ mà Hàng Châu vẫn nổi tiếng toàn Trung Quốc với quế hoa.


Trăng thu ở Hàng Châu không tỏ như trăng thu Hà Nội. Ngồi ở quán trà trên tầng chót vót của khách sạn, nhấm những chiếc bánh trung thu nhỏ xíu và thưởng thức tiếng đàn sáo nhẹ nhàng, đợi cái tầng cao ấy quay hết một vòng thì du khách cũng tạm có cái nhìn khái quát vẻ dịu dàng hư ảo đêm Tây Hồ. Thật ra không phải thành phố ít đèn chiếu sáng, có điều là ánh đèn không quá chói chang. Chẳng hiểu do sương đêm hay chỉ vì liên tưởng mà nhìn các ngọn đèn thấp thoáng trên hồ, tôi cứ cho đấy là ánh lửa bác ngư phủ đơn độc trong chiếc thuyền con vào lúc trăng tà6. Xa lắm, có lẽ đâu trên sườn dãy núi mãi tận bờ bên kia hồ, các dãy đèn trang trí như phác họa lên nền màn đêm đường nét thanh tú những công trình kiến trúc cổ. Chị Vương, ký giả tờ Chiết Giang nhật báo nói: “Tỉnh chúng tôi có ba đặc trưng mà người dân ai cũng tự hào: kinh tế phát triển, cảnh quan đẹp và sinh hoạt văn hóa cao”.


Tôi ngắt lời Vương:


- Người đẹp nữa chứ, thưa chị!


*


*     *


Chiết Giang vốn được tiếng là đất văn vật. Xưa kia đây là quê hương của lụa mượt trà ngon, là vùng gạo trắng nước trong. Marco Polo, du khách đầu tiên đến từ phương Tây, đã ca ngợi trong Tập du ký của mình rằng Hàng Châu “là thành phố đẹp nhất, huy hoàng nhất thế giới”. Riêng một tỉnh Chiết Giang đã để lại cho lịch sử Trung Quốc hơn ba nghìn danh gia văn hóa. Hai tên tuổi lớn thời xưa có nhiều gắn bó với Tây Hồ, với Hàng Châu và khá quen thuộc với người Việt Nam ta, không ai khác hai đỉnh cao của thơ Đường, thơ Tống: Bạch Cư Dị và Tô Đông Pha.


Chúng tôi bước xuống một chiếc thuyền con vừa đủ chỗ cho bốn người ngồi đối diện, cách một chiếc bàn con, để có thể chuyện trò. Chị lái đò đẩy mái chèo gỗ, đưa con thuyền lướt nhẹ trên mặt hồ còn lưu luyến sương đêm. Trời se lạnh. Gió nhẹ nhàng. Cảnh vật thì nhìn về hướng nào cũng có cảm tưởng như ta đang ngắm những bức tranh thủy mặc, mà không bức nào giống bức nào. Mỗi ngôi chùa, mỗi bến nước, mỗi rặng cây nơi đây dường như đều có sự tính toán từ khi được tạo lập. Đâu đâu cũng có bàn tay chăm chút của con người. Người ta gây dựng cái hồ này từ hơn một nghìn năm rồi cơ mà. Tây Hồ ở về mạn Tây thành phố Hàng Châu. Từ mặt hồ nhìn sang bên này thấy san sát phố phường, nhà cửa, dinh thự; nhìn về bên kia là chập chùng đồi núi trời mây. Rặng cây gần bờ xanh đậm màu thảo mộc; từ đỉnh núi Bảo Thạch, một ngọn tháp trắng lồ lộ vươn lên trời cao. Rặng tiếp sau đó nhạt màu hơn, mà vẫn thấp thoáng những chùa những tháp. Xa hơn nữa là các rặng núi nửa khuất nửa tỏ trong sương mù; rồi lại núi lại cây nối tiếp cho đến khi hòa điệp hẳn vào mây.


Tây Hồ rộng có sáu ki lô mét vuông, độ sâu trung bình chỉ hai mét. Đường bọc quanh hồ dài chừng mười năm ki lô mét là nơi du ngoạn tuyệt vời. Nước trong veo, bởi hồ thông với sông, và mỗi năm nó được thay nước ba lần. Trên mặt hồ nhấp nhô năm hòn đảo lớn nhỏ khác nhau, có đảo thiên nhiên có hòn nhân tạo. Con đê dài với hàng liễu xanh mượt rũ xuống chấm nước hồ kia là công trình của thái thú Tô Đông Pha đời Tống, khi nhà thơ về đây nhậm chức trọng. Sử chép rằng thái thú Tô Thức rất yêu mến Hàng Châu. Ông đã cho khơi Tây Hồ lấy nước tưới ruộng giúp dân. Con đê kia do nạo vét bùn đất, đào sâu thêm lòng hồ mà đắp nên, đời sau gọi là đê của họ Tô (Tô đê). Một công đôi việc. Vừa có nước cho nhà nông, vừa chỉnh trang cảnh đẹp. Vừa tròn trách nhiệm nhà quan, vừa thỏa khát vọng người thơ.


“Trước Tô Đông Pha gần hai thế kỷ, nhà thơ Bạch Cư Dị khi làm quan ở đây cũng có cho đắp một con đập, nhỏ hơn, nó ở về phía bên trái chúng ta kia”, chị Vương nói. Tôi may mắn, có hai người bạn cùng chơi hôm nay, chị Vương là nhà báo địa phương đã đành, mà anh Dao từ Bắc Kinh cùng về, cũng là một người gốc Chiết Giang. Làng quê anh không xa Hàng Châu là mấy. Cả hai người đều rất thông thuộc chốn này.


Bạch Cư Dị, như chúng ta biết, cùng với Lý Bạch và Đỗ Phủ là ba nhân vật cự phách của thi ca Trung Quốc thời Đường. Không thể bàn đến Đường thi mà không nói tới họ Bạch. Ông đã để lại cho hậu thế ba nghìn thi phẩm tài hoa, nhiều bài mang tính xã hội sâu sắc. Bạch Cư Dị tuy là người gốc ở tỉnh Thiểm Tây song thời trẻ sống nhiều năm ở Hàng Châu vào lúc thành phố này đang vươn lên trở thành một trung tâm chính trị văn hóa lớn ở miền Nam Trung Quốc; một sự lớn lên trong niềm khổ ải của bao người lao động bị dồn ép từ nhiều nơi về xây cất dinh thự đền đài. Các nhà nghiên cứu cho rằng niềm thông cảm của họ Bạch khi ông đã đường đường một vị đại thần đối với ông lão nghèo thôn Đỗ Lăng, với cụ già cụt tay xóm Tân Phong, với người bán than, người đào củ đồ hoàng mang cho nhà giàu vỗ ngựa để đổi lấy hạt thóc ngựa ăn thừa, và nhất là đối với người kỹ nữ ở bến Tầm Dương “cùng một lứa bên trời lận đận”, đều bắt nguồn từ thời niên thiếu của ông ở Hàng Châu. Hồi này bậc đại quan còn là một cậu học trò tài hoa song gia thế không lấy gì làm phong độ. Khi được cử về làm trọng trách ở Hàng Châu, ông vừa chăm lo cho dân chúng vừa tâm huyết tôn tạo thắng cảnh Tây Hồ.


Con đê ngăn đôi Tây Hồ mà thái thú Tô Thức cho xây cách đây mười thế kỷ vẫn còn nguyên vẹn. Thân đê có năm cây cầu xây cuốn cho thuyền nhỏ qua lại. Từ đường cái rẽ lên đê, có nhà bia tưởng niệm công đức ông. Nhà thơ họ Tô tuy làm quan to song không che dấu thái độ căm ghét sự hủ bại của triều đình Bắc Tống. Ông thông cảm với đời sống dân nghèo. Tô Đông Pha không chỉ lừng danh với hai bài phú Xích bích mà còn nổi tiếng qua nhiều bài ca ca ngợi thiên nhiên. Bài Uống rượu ở Tây Hồ, trước tạnh sau mưa viết trong lúc say là một bức tranh đầy màu sắc lột được cái thần của cảnh quan và khí hậu Tây Hồ.


Mây đen trút mực chưa nhòa núi.


Mưa trắng gieo châu nhảy rộn thuyền.


Trận gió bỗng đâu lôi cuốn sạch


Dưới cầu nước gợn sóng thanh thiên.


                                    (Bản dịch của Nam Trân)


*


*     *


Trong chuyến đi thăm Hàng Châu lần này tôi được làm quen thêm hai người bạn có cảm tình với Việt Nam. Giáo sư Giang Bình, Chủ tịch Hội nhà báo tỉnh Chiết Giang, một cây bút kỳ cựu và vợ là Đàm Lệ Quyên, nghệ sĩ thanh nhạc, Chủ tịch Hiệp hội âm nhạc tỉnh. Chị Đàm nói: “Gia đình tôi gắn bó với Việt Nam. Rất tiếc hôm nay tôi chưa có dịp giới thiệu với anh cô em dâu tôi. Thời các bạn đánh Mỹ, cô ấy làm việc ở Việt Nam và cũng đã biết thế nào là bom đạn Mỹ”. Chị Đàm rất lấy làm vinh dự đã được nhiều dịp hát phục vụ Bác Hồ những lần Bác thăm Hàng Châu. “Hồi ấy tôi còn ít tuổi, được Bác Hồ cưng như đứa cháu gái nhỏ. Gia đình còn giữ được bức ảnh tôi chụp với Bác, tôi cho phóng to treo chính giữa nhà”, chị nói tiếp.


Tôi tự hỏi sao đất Hàng Châu sản sinh ra lắm nhà văn hóa lỗi lạc đến thế. Ba nghìn danh gia, như sử sách chép. Riêng thời đương đại, và chỉ nói về văn học thôi, đã có thể kể: Mao Thuẫn, Hạ Diễn, Phùng Tuyết Phong, Ngãi Thanh, Ngô Hàm... Nổi bật hơn cả là Lỗ Tấn, ngọn cờ văn học cách mạng Trung Quốc thế kỷ XX. Họ đều là người Chiết Giang, người Hàng Châu. Họ có những cống hiến lớn cho văn hóa Trung Quốc. Có người làm bộ trưởng. Có vị đứng đầu Hiệp hội Văn học Nghệ thuật. Không ít vị đã trải qua những ngày tháng lao đao. Nhưng, xã hội tạm thời có thể bất công song lịch sử bao giờ cũng công bằng. Những tài năng đích thực bao giờ cũng sẽ tồn tại bất chấp sự tàn nhẫn của thời gian.


Tây Hồ gợi nhớ những câu thơ Đường, thơ Tống đã đi vào tâm khảm thế hệ chúng tôi từ ngày còn nhỏ tuổi. Cảnh vật ở đây đúng là một bài thơ. Nhưng anh Dao bạn tôi cười: “Rất nhiều danh gia làm thơ, làm phú ca ngợi Tây Hồ. Tuy nhiên có một người con của Chiết Giang dám nói: Cảnh Tây Hồ đẹp lắm, người Hàng Châu xinh lắm, song cứ mải mê lần lữa ở Tây Hồ thì không còn ý chí chiến đấu. Người ấy không ai khác Lỗ Tấn”.


Thú thực tôi chưa từng được đọc câu trên của nhà văn lớn. Nhưng làm sao không tin lời anh bạn, trước hết bởi anh là người Trung Hoa. Ồ, mà đã đến được Hàng Châu, đã chơi thuyền trên Tây Hồ, sao tôi lại dám không viếng thăm quê Lỗ Tấn nhỉ?


 


Hàng Châu, 2002


 


 


 


NHÀ CŨ LỖ TẤN


 


“Quán rượu Hàm Hanh ở chỗ cửa ô đi vào Lỗ Trấn”7 nay không còn như thời Lỗ Tấn mô tả trong tác phẩm của ông nữa. Nó chỉ còn giữ được mỗi cái tên. Thêm vào đó người ta đã dựng nên trước cửa quán, ngay trên vỉa hè bức tượng cao lớn của bác Khổng At Kỷ, “người độc nhất mặc áo dài” vào mùa này, không chỉ ở quận Thiệu Hưng mà có lẽ trong toàn nước Trung Hoa. Song chính nhờ có bác Khổng mà tôi đã nhận ra ngay không chỉ mình đã tới quê hương Lỗ Tấn mà đang sống cùng các nhân vật của ông.


Lỗ Tấn từng viết, không rõ nhờ có văn chương mà nhân vật nổi tiếng hay bởi có nhân vật cho nên văn chương mới được lưu truyền. Rượu Thiệu Hưng, đặc sản quê hương Lỗ Tấn đã có từ rất lâu trước khi nhà văn ra đời. Song có lẽ nhờ có bác Khổng At Kỷ lỗi thời trong quán rượu Hàm Hưng xế cửa ô, nhờ anh chàng trí thức tỉnh lẻ ở tửu quán Nhất Thạch Cư “chật hẹp, ẩm thấp với tấm biển hiệu cũ nát”, mà rượu Thiệu Hưng càng thêm nổi tiếng khắp Trung Hoa. Mỗi lần có dịp tiếp đãi bạn văn từ xa đến, các bạn Trung Quốc, ngay cả ở Đài Loan, thế nào cũng mời khách nếm cho được chén rượu Thiệu Hưng. Thức nhắm ngày nay dĩ nhiên có đủ thứ cao lương mỹ vị, song với các nhân vật của Lỗ Tấn thì vẫn là mấy miếng đậu rán: “Một cân rượu Thiệu Hưng đi. Món nhắm? Mười miếng đậu rán, cho nhiều cay vào!”8


Chính nhờ uy danh văn hào Lỗ Tấn mà quán rượu Hàm Hanh ngày nay đã trở thành một “đại tửu lâu” ngất nghểu không biết bao nhiêu tầng. Công bằng mà nói, người ta đã cẩn thận thêm vào một chữ tân, “Tân Hàm Hanh”, cho rạch ròi cũ mới. Khách vào ra như trẩy hội. Quá trưa leo lên gác hai, theo người phục vụ đi hết phòng này qua phòng khác, phòng nào cũng rộng thênh thang và đầy kín khách để tìm ra một bàn còn trống, chúng tôi mới thấy hết quê hương Lỗ Tấn đang thu hút khách du lịch đến mức nào. Khách khứa thời nay phần lớn sang trọng và hiện đại, vừa nhắm rượu vừa líu ríu nói chuyện qua điện thoại cầm tay, song ở mặt tiền đại tửu lâu, bác Khổng At Kỷ vẫn mặc chiếc áo dài cũ  kỹ kiên nhẫn và ân cần đón khách.


Cạnh tửu lâu là các hiệu bốc thuốc bắc và cửa hàng bán rượu Thiệu Hưng. Rượu đựng vào những cái vò gốm da lươn dễ đến mười lít một, đặt trong rọ đan bằng tre cho dễ vận chuyển, xếp thành chồng. Ai cần mua ít hơn, để làm kỷ niệm chuyến đi chẳng hạn, thì đã có những lọ con cũng bằng gốm đựng một phần tư hoặc nửa lít một, dán nhãn giấy hồng điều, lại được phủ lên ngoài nút chai là một mảnh lụa đỏ thắt sợi dây vàng, kèm thêm cái túi lưới tết bằng sợi cỏ cho khách dễ xách mang theo, vừa giữ được vẻ dân dã y như thời xa xưa vừa tiện lợi cho thượng đế đời nay. Còn trong tửu quán, người ta vẫn đong bán rượu bằng cân, và điều tôi lấy làm lạ nhất là rượu không đựng trong bình, trong chai mà trong những cái phễu gò bằng sắt tây, na ná như cái phễu vẫn dùng đong bán dầu hỏa ở các vùng quê ta thời trước. Nhìn sang bàn nào cũng thấy có cái phễu sắt tây trắng hếu.


Đi qua các quán rượu thấy có mùi là lạ. Thưốc bắc ư, tôi hỏi. Bà vợ tôi cười: “Anh không nhận ra mùi đậu phụ lên men sao?”.


*


*     *


Ngôi nhà cũ của nhà văn, “Lỗ Tấn cố cư” như chữ đề, cách quán rượu chừng trăm mét. Đấy là một ngôi nhà gỗ, mặt tiền khá rộng, đằng sau có vườn; muốn vào nhà phải bước qua cái ngưỡng cửa khá cao, và càng đi sâu vào càng thấy lớn. Phòng riêng của Lỗ Tấn ở ngay gian ngoài, phần bên trái. Phần bên phải không kê đồ đạc mà chỉ đặt cái bàn cho chị nhân viên nhà lưu niệm ngồi thu vé, và cũng là lối đi để vào nhà trong. Cửa phòng có tấm song gỗ ngăn không cho khách tham quan vào. Lỗ Tấn sống ở phòng này từ tháng 10 năm 1910 đến tháng 02 năm1912. Tác phẩm đầu tiên của nhà văn, Hồi ức về quá khứ, được viết ở đây.


Đồ đạc ít và đơn sơ, cho nên phòng trông khá rộng. Chiếc giường ngủ, một án thư, một tủ sách, tất cả đều bằng gỗ tốt lâu năm đen nhánh như mun. Chiếc gối nhà văn dùng là loại gối tròn và dài thời cũ, không bọc vải để lộ cái cốt đan bằng mây thưa, trông na ná như chiếc hom giỏ. Thời gia đình Lỗ Tấn chuyển đi khỏi Thiệu Hưng, ngôi nhà đã đổi chủ và được bày biện theo cách khác. Khi lập nhà lưu niệm, người ta đã tìm lại đúng những vật dụng của nhà văn ngày trước.


Một sân nhỏ ngăn nhà ngoài với nhà trong. Ở góc sân sát tường kê một cái chum rộng miệng hứng nước mưa. Nửa bên phải là bếp. Gian bên trái bày cối xay lúa, cối giã gạo. Một cái cót lớn ở góc phòng, chắc để đựng thóc. Lại có cả một cái “xe quạt lúa” giống hệt như những cái mà nhà nông khá giả ở miền Trung quê tôi ngày trước vẫn dùng để rê thóc lép ngày mùa; từ ngày ra Bắc tôi chưa hề có dịp nhìn thấy ở đâu. Vườn sau trồng nhiều cây cỏ, có hoa và cây cảnh, lại có cả vài luống khoai luống đậu, được đặt cái tên hoa mỹ là Bách thảo viên. Trong hồi ký của mình, Lỗ Tấn nói rằng đây là “góc thiên đường nhỏ bé của ông” thời niên thiếu. Ông thích ra đây thơ thẩn một mình với cỏ cây. Từ vườn có lối đi thông sang phố khác ở mặt sau nhà, nay để bảo vệ, người ta đã xây một bức tường chắn ngang.


Trường học vỡ lòng của Lỗ Tấn ở phía bên kia phố và đi sâu vào một cái ngõ. Tuy mang tên gọi sang trọng là Tam vị học đường nhưng thật ra nó chỉ là một căn nhà hẹp và sâu hun hút. Sân chơi của học sinh chỉ rộng bằng mươi chiếc chiếu. Cậu bé Chu Thụ Nhân là một học sinh thông minh, được nhiều “thẻ tốt” song thường bị phạt vì tuy nhà ở gần mà hay đi học trễ. Còn giữ được cái bàn nơi cậu Chu ngồi học. Bức ảnh thầy giáo đầu tiên được phóng to, giới thiệu với khách tham quan một cụ già mặc tấm áo chùng mặt mày khắc khổ.


Nhà lưu niệm xây không xa ngôi nhà cũ, lại quá lớn quá cao so với các căn nhà cùng phố. Gian chính giữa bày tượng bán thân của nhà văn tạc bằng đá trắng, uy nghi mạnh mẽ khác hẳn bức tượng bằng cẩm thạch ở thành phố Thượng Hải, nơi ông làm việc những năm cuối đời và từ trần khi mới ở tuổi bốn mươi lăm. Đối với những độc giả quen thuộc với Lỗ Tấn, những thông tin bày trong nhà lưu niệm không có gì mới lắm. Quý nhất có lẽ là các hiện vật: bút tích của nhà văn, những bộ sách cũ, tạp chí Thanh niên do Lỗ Tấn chủ trương, số 1 ra đời năm 1931, dưới măng sét có phụ đề tiếng Pháp La jeunesse. Gây xúc động nhiều là tấm ảnh phóng đại chụp nhà văn lúc lâm chung. Tấm ảnh này, nhà văn - học giả uyên thâm Đặng Thai Mai của chúng ta, người đầu tiên giới thiệu Lỗ Tấn với độc giả Việt Nam, đã được nhìn thấy gần bảy mươi năm trước đây, khi ông tìm mua được ở một hiệu sách Trung Quốc xế chợ Đồng Xuân, Hà Nội, tập Đặc san kỷ niệm ngày mất của “Lỗ Tấn tiên sinh”. Hai mươi lăm năm sau, cụ Đặng nhớ lại suy nghĩ của mình: “Lỗ Tấn chết rồi. Tôi bắt đầu đi tìm Lỗ Tấn”9


Gây ấn tượng mạnh cho khách thăm khi vừa đặt chân vào nhà lưu niệm là hai câu thơ quen thuộc Trợn mắt coi khinh ngàn lực sĩ - Cúi đầu làm ngựa đứa nhi đồng khảm bằng chữ vàng lên bức tường cẩm thạch đằng sau bức tượng bán thân của Lỗ Tấn. Bức ảnh chụp lúc ông qua đời bày ở gian cuối cùng. Bên cạnh có mấy câu, dường như là bút tích của chính nhà văn, tổng kết cuộc đời: “Tôi như con bò, suốt đời ăn cỏ làm ra sữa cho người”.


Bên ngoài ngôi nhà cũ của Lỗ Tấn, phố xá tấp nập hối hả người, xe qua lại. Thị trấn Thiệu Hưng ngày nay vẫn thoang thoảng mùi rượu thơm, đang cải cách mở cửa, tiến lên hiện đại. Phòng lưu niệm cũng như “cố cư” của nhà văn thường xuyên đông khách viếng thăm. Không chỉ Lỗ Tấn, không chỉ phủ Thiệu Hưng mà cả nước Trung Hoa tự hào về đứa con nhai cỏ mà làm ra sữa cho người đời.


 


Thiệu Hưng, 2001


 


(Còn tiếp)


Nguồn: Bên mộ vua Tần. NXB Văn học, 2004.








[1] Quá quan này khúc Chiêu Quân


Nửa phần luyến chúa nửa phần tư gia  (Kiều – Nguyễn Du)




[2] Một tên gọi khác chỉ Indonesia (B.T)




[3] Tức Nhật bản (B.T)




[4] Quần bò lửng: quần jean, ống ngắn, chỉ qua đầu gối một chút (B.T)




5 Chỉ miền đất phía nam sông Dương Tử. (BT).




6 Câu thơ Đường: Giang phong ngư hoả đối sầu miên. (Nguyên văn: Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên. Giang phong ngư hoả đối sầu miên. Cô Tô thành ngoại Hàn San tự. Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền)  trong bài Phong kiều dạ bạc của Trương Kế  (B.T)


 




7 Truyện ngắn Khổng Ất Kỷ, bản dịch của Trương Chính.




8 Truyện ngắn Trong quán rượu, bản dịch của Giản Chi.


 




9 Đặng Thai Mai Trên đường học tập và nghiên cứu, 1961.


 



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
Nghệ sỹ Ưu tú Đoàn Quốc với những cống hiến lặng lẽ - Trịnh Bích Ngân 07.08.2017
Ngô Tất Tố: Ba tính cách trong một con người - Phan Quang 14.07.2017
Nguyễn Tuần: Cỏ Độc lập - Phan Quang 14.07.2017
12 người lập ra nước Nhật (13) - Sakaiya Taichi 05.07.2017
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
xem thêm »