tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21267593
Những bài báo
01.04.2009
Ngô Minh
Trịnh Công Sơn - cát bụi tuyệt vời


1.Trưa ngày 1-4 năm 2001, nhà thơ Thạch Quỳ ở Vinh vào chơi, cùng các nhà thơ Mai Văn Hoan, Phương Xích Lô uống rượu tại nhà tôi. Không hiểu do thần giao cách cảm hay linh cảm mà câu chuyện bên chiếu rượu của chúng tôi hôm đó chỉ bàn về một thế hệ đông đảo người Huế tài hoa nổi tiếng từ những năm 60 của thế kỷ trước như Trịnh Công Sơn, Đinh Cường, Bửu Ý, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trần Vàng Sao, Ngô Kha, Trần Quang Long. Thế rồi buổi tối, hàng chục cú điện thoại của bạn bè ở Sài Gòn, Huế tới tấp phôn cho tôi báo tin dữ: ‘Ngô Minh ơi, Trịnh Công Sơn. mất rồi!”. Ôi, nhạc sĩ tài hoa của đất nước, người con thân yêu của Huế đã về cùng cát bụi! Mồng 1 tháng Tư là ngày nói dối, hay là tạo hoá đùa trêu?


                                         Hạt bụi nào hoá kiếp


                                         Rồi một mai tôi về làm cát bui


                                         Ôi, cát bụi tuyệt vời…


             Đứa con trai út Ngô Hải Tân của tôi, lúc đó sinh viên năm thứ hai Đại học kiến trúc Hà Nội, học ở Huế, đi học về vội vàng mở băng đĩa CD Hạ Trắng của Trinh Công Sơn do Khánh Ly hát thật to. Nó trầm ngâm bảo:” Ba biết không, bác Sơn đi rồi!”.Suốt đêm mùng một và ngày mùng hai tháng Tư, hầu như cả thành phố Huế mở nhạc Trịnh.Tôi ghé nhà của nhà phóng viên báo Thế giới Điện Ảnh  Thanh Tú, anh mở nhạc Trịnh Công Sơn, rồi nằm một mình lặng im bên chiếc máy hát và chén rượu. Mấy ngày đó tôi thẫn thờ như người mất hồn. Mới hôm nào đây anh Sơn ra Huế, nâng cùng bạn bè chén rượu. Tôi ôm eo anh nâng lên nhấc nhấc xem anh độ bao nhiêu ký. “Ôi, sao anh nhẹ như xốp thế này”. Anh bảo:” Anh bây giờ là hư vô!”. Anh xốp vì uống nhiều rượu và hút thuốc lá quá độ. Anh bị bệnh tiểu đường và nhiêù thứ bệnh nan ý khác hành hạ bao nhiêu năm nay. Nên bây giờ anh nhẹ như hư vô:                                               


Chiều mong manh quá nắng vàng ơi


Lá hát đời sông tóc trắng trời


Thân gầy bóng đổ dài phương gió 


Người thôi thoáng chốc đã mù khơi… (NM) 


            2. Một chiều chủ nhật nắng tắt, tôi ngồi uống rượu đẻn cùng mấy anh bạn thơ Đồng Hới trong quán Hạ Trắng bên biển Hải Thành, Nhật Lệ, nhấm với tiếng hát Khánh Ly trong Sơn ca 7 từ cái cat-sét của cô chủ quán. Nhà thơ Lê Đình Ty thốt lên:” Không có gì có lý hơn ngồi uống trong quán Trịnh, nghe bài hát Trịnh trong một chiều biển hoang vắng gió nồm như thế này!”. Quán Trịnh, cách gọi của bạn tôi là một phát hiện thú vị về Trịnh Công Sơn. Vâng, có Nhạc Trịnh, Phố Trịnh, nên cuộc đời cũng có rất nhiều Quán Trịnh. 


        Trịnh Công Sơn có giọng hát rất hay, nhưng rất buồn: Chiều nay em ra phố về. Thấy đời mình là những quán không.”. Ấy là tâm linh, tâm cảm của người nhạc sĩ.Còn trên khắp các phố thị, thôn quê trong cả nước, các quán Trịnh bao giờ cũng đông khách. Ở miền Nam trước 1975 đã có rất nhiều quán mang tên các ca khúc Trịnh Công Sơn như Da Vàng, Hạ Trắng.. Sau ngày giải phóng, quán Trịnh phát triển ra các tỉnh thành miền Bắc. Tôi thường đến công tác ở các thành phố thị xã như Pleiku, Buôn Ma Thuột, Kon Tum, Đà Lạt,Quy Nhơn, Nha Trang, Đà Nẵng.ở đâu tôi cũng gặp Quán Trịnh. Ngay trên con đường Hải Thành, Đồng Hới này, tôi đếm được ba quán lấy tên bài hát Trịnh Công Sơn đặt tên quán: Hạ Trắng, Biển Nhớ, Môi Hồng. Còn ở Hà Nội, Huế và Thành phố Hồ Chí Minh, nơi Trịnh Công Sơn đã sống trong thời gian dài đến cuối đời, thì không thể đếm hết các Quán Trịnh: Diễm Xưa, Da Vàng, Rừng Xưa, Xuân Hồng, Nguồn Cội, Quỳnh Hương, Bống Bống, Địa Đàng, Thiên Thu, Heo May.v.v. Có thể nói: không có nhạc sĩ Việt Nam nào lại được giới thương nhân mến mộ, tên các ca khúc của mình lại được “tham dự”vào tên nhiều quán trên thương trường như Trịnh Công Sơn! Quán Trịnh là những quán rượu, quán cà phê, karaoke, cả nhà hàng đặc sản. Đặc điểm chung của các quán Trịnh là có “ đặc sản” nhạc Trịnh phát bằng băng sat-sét, đĩa hình.v.v..và khách đến, ngoài việc nhấm nháp, gặp gỡ nhau, còn có thêm một nhu cầu nữa là để được cùng bạn bè, người tình ngồi một góc im lặng lắng nghe những bài hát hay của Trịnh. Dù những chủ quán trẻ hôm nay chưa một lần gặp nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, nhưng họ đặt tên quán để thổ lộ tình yêu, sự ngưỡng mộ của mình đối với nhạc Trịnh. Và tất nhiên là để thu hút khách nữa. Người Huế bảo:” Hạnh phúc là ly ca phê và nhạc Trịnh”. Từ ngày nhạc sĩ Trịnh Công Sơn qua đời đến nay, các quán Trịnh càng phát triển hơn.   Nhiều quán nhậu còn mời các ca sĩ có tiếng đến hát ca khúc Trịnh cho khách nghe hàng đêm, vì các thương gia đã nhận chân được sự  ngưỡng mộ lớn lao của cả nước đối với nhạc sĩ tài hoa của mình.  


        Các Quán Trịnh không chỉ lấy chữ của Trịnh để đặt tên quán, mà đã mời cả Trịnh Công Sơn làm “tiếp thị” cho họ. Năm 1995, tập đoàn rượu nổi tiếng Martell trong chiến lược mở thị trường sang Đông Nam Á của mình đã chọn Trịnh Công Sơn làm “sứ giả”! Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, người bạn thân của Trịnh kể rằng, nhân kỷ niệm 280 năm thành lập Martell, ông Patrick chủ hãng sang Sài Gòn đã trực tiếp đưa giấy mời sang Châu Âu làm khách quý của tập đoàn Martell. Dịp đó Trịnh Công Sơn đến Luân Đôn cùng với những người nổi tiếng, các hoàng tử trên thế giới làm khách quý của Martell, được mời sang Anh dự cuộc đua ngựa ở thành phố Lyverpool do hãng Martell bảo trợ và sang Pháp tham quan lò rượu Martell, uống rượu Martell không mất tiền. Ở trên tủ buýp phê trong phòng khách của Trịnh Công Sơn ở thành phố Hồ Chí Minh có một tấm bằng kỷ niệm lồng kính, chữ viết tay bằng mực đen: ‘’ Martell thành lập năm 1715. Ngày hôm nay những cánh của Thiên đường của chúng tôi đã mở ra để cho phép ông Trịnh Công Sơn nếm thử một ly Cognac của năm 1848 để lâu trong thùng và già đến 65 năm. Một ly Cognac của năm 1875 để lâu trong thùng và già đến 49 năm. Sự kiện này đã được lưu giữ trong cuốn sổ vàng của chúng tôi đề ngày 11 tháng 4 năm 1995. Patrick Firino Martell". 


         Quán Trịnh còn mở sang thị trường du lịch. Hiện nay nhiều điểm du lịch ở Thành phố Hồ Chí Minh có quảng cáo ca nhạc Trịnh Công Sơn. Ở khu du lịch Bình Quới I, có “ Nhà lưu niệm Trịnh Công Sơn”. “Cõi đi về” này dành riêng cho Trịnh lúc đầu mang tên “ Hội quán Hội Ngộ” theo sáng kiến và nhạy bén thị trường của SaiGonTourist. Đây là nơi dành cho Sơn nghỉ ngơi, sáng tác, gặp gỡ bạn bè, công chúng.Ở Hội Quán này đã mấy lần triển lãm tranh Trịnh, và anh thường xuyên đến đây để giao lưu với những người mến mộ. Khách du lịch đến Khu du lịch Bình Quới đều ghé Quán Trịnh để xem tranh do nhạc sĩ vẽ, trực tiếp anh anh đàn hát, trò chuyện cùng anh.v.v..Khi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn rời ” cõi tạm”, thì Hội Quán trở thành nhà lưu niệm trưng bày các kỷ vật, tác phẩm hôi họa, âm nhạc, những hình ảnh, tư liệu, các đồ dùng hàng ngày của nhạc sĩ. để phục vụ người mến mộ. Hội quán Hội Ngộ (Nhà lưu niệm Trịnh Công Sơn) đã trở thành địa chỉ du lịch hấp dẫn ở Bình Quới! Mới đây, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đã đồng ý xây dựng một Khu lưu niệm Trịnh Công Sơn ở Huế và giao cho Hội Văn nghệ tỉnh thực hiện Huế. Đây cũng là một hình thức tạo nên một điểm du lịch mang tên Trịnh. Ậm ạch hai năm rồi, Khu lưư niệm Trịnh Công Sơn vẫn chỉ dừng trên giấy. Tôi cứ mong có một cõi Trịnh Công Sơn như thế.           


         3. Trịnh Công Sơn là thiên tài âm nhạc Việt Nam thế kỷ XX. Di sản âm nhạc Trịnh Công Sơn là vô giá, mãi mãi là niềm tự hào của người Việt Nam. Trịnh Công Sơn vẫn đi về trong lòng người mỗi ngày. Tám năm Trịnh Công Sơn về “với cát bụi”, đã có hàng chục sách viết về anh, cuốn văn học mới nhất là tập bút xuất sắc “ Cây đàn lia của Hoàng tử bé” của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường. Âm nhạc Trịnh ngày càng lay động chiều sâu tâm thức hàng chục triệu người. Đã là người Việt, từ già đến trẻ không ai không hát Trịnh, không gia đình nào không có trong nhà một băng hay đĩa nhạc Trịnh. Sống trong đời sống.Cần có một tấm lòng. Để làm gì em biết không ? Để gió cuốn đi. Để gió cuốn đi. 


           Không chỉ ở Việt Nam, âm nhạc Trịnh Công Sơn cũng ngày càng chinh phục thế giới. Ngay từ năm 1972, Trịnh Công Sơn đã được vào Đĩa Vàng ở Nhật Bản với bài Ngủ đi con, trong Ca khúc Da vàng, qua giọng hát Khánh Ly, phát hành trên 2 triệu đĩa. Trịnh Công Sơn có tên trong từ điển Bách khoa Pháp “ Encyclopédie de tous les pays du momde”. Hiện nay nhạc Trịnh đã có mặt tại nhiều nước Châu Á, châu Âu, Châu Mỹ. Có một chàng trai người Đức mang họ Trịnh luôn cùng mới bạn bè hát Trịnh Công Sơn; Có một cô gái Nhật Bản năm nào cũng sang Việt Nam để viếng mộ Trịnh, có nhà nghiên cứu phương Tây John C. Schafer cũng đam mê viết cả cuốn sách Hiện tượng Trịnh Công Sơn. 


         Đặc biệt, ngày 3-2-2004, tại trụ sở Liên Hiệp Quốc ở New York đã công bố “Giải thưởng Âm nhạc hòa bình thế giới” (WPMA). Sáu tên tuổi âm nhạc nổi tiếng thế giới được giải thưởng lần này là Bob Dylan, Conuntry Joe & the Fish, Hary Belafonte, Joan Baez, Peter, Paul & Mary và Trịnh Công Sơn. WPMA tôn vinh những người đã đem âm nhạc của mình cống hiến cho cuộc đấu tranh vì hòa bình và nhân đạo trên thế giới. Đây là sự kiện âm nhạc quốc tế lớn nhất Việt Nam từ trước tới nay!


           Kể từ ca khúc đầu tiên Ướt mi công bố năm 1959, trải 40 năm sáng tác, Trịnh Công Sơn đã để lại gia sản trên 600 ca khúc lay động lòng người. Người ta chia ca khúc Trịnh thành “ ba dòng”: Dòng trữ tình, dòng phản chiến và dòng giải thoát bản ngã!. Lý thuyết là thế, nhưng tôi nghĩ dưới góc nhìn “ hòa bình và nhân đạo” thì hầu như ca khúc nào của Trịnh cũng là vút lên từ tận cùng sâu thẳm của tình yêu cuộc sống và nỗi đau phận người. Đó chính là tầm cao, sự vĩnh cửu của âm nhạc Trịnh. 


             Nhưng phải nói dòng ca khúc phản chiến, ca khúc vì hòa bình của Trịnh Công Sơn đã góp một sức nặng lớn lao trong cuộc chiến đấu của nhân dân ta vì hòa bình và thống nhất Tổ Quốc. Hoàng Phủ Ngọc Tường cho rằng:”.. Từ năm 1966, trong vòng 10 năm, Trịnh Công Sơn là nhạc sĩ phản chiến duy nhất ở “ miền Nam”. Nhạc sĩ yêu nước thì có nhiều người, nhưng nhạc sĩ phản chiến duy nhất chỉ có một “. Những bài hát trong các tập Ca khúc Da Vàng và Kinh Việt Nam, không mô tả chiến tranh, mà vạch ra những vết sẹo chiến tranh: Mẹ cầu cho em. Tuổi xanh đừng biến mất. Tiếng hát Trịnh Công Sơn là tiếng hát đòi được sống, đòi được làm người, đòi được hưởng hạnh phúc trên đất nước thanh bình: Yêu quê hương nước mắt lưng tròng. Người con gái ngồi mơ thanh bình. Người con gái chợt ôm tim minh. Trên da thơm vết máu loang dần. Những ca khúc Chỉ có em, Chưa mất niềm tin, Người con gái Việt Nam da vàng, Kinh Việt nam, Đại bác ru đêm,Gia tài của Mẹ. luôn xoáy vào lòng người vết thương nhân loại, cất lên như tiếng kinh cầu nguyện cho số phận con người, nên có sức cuốn hút, tập hợp con người đứng lên chống chiến tranh rất lớn:


                        Đại bác đêm đêm dội về thành phố


                        Người phu quét đường dừng chổi đứng nghe 


                                                                                   ( Đại bác ru đêm) 


           Không chỉ “phản chiến”, âm nhạc Trịnh Công Sơn ở Sài Gòn trước ngày 30-4- 1975 còn công khai rất nhiều bài hát về nỗi khát khao thống nhất đất nước: Huế -Sài Gòn- Hà Nội quê hương ơi sao vẫn còn xa.Việt Nam ơi còn bao lâu. Những con người ngồi nhớ thương nhau.. Ngày mai đây những con đường Nam-Bắc nở hoa. Ngày vui lớn sẽ qua trăm cầu. Mẹ dâng miếng cau mẹ dâng ngọn trầu.( Huế- Sài Gòn- Hà Nội). Trịnh Công Sơn đã cùng bè bạn hát vang ở Sài Gòn ca khúc Nối vòng tay lớn loan tin thống nhất đất nước đến mỗi gia đình!


                        Mỗi ngày tôi chợt ngồi thiệt yên


                        Chợt nghĩ quê hương, nghĩ lại mình


                        Tôi chợt biết rằng vì sao tôi sống


                        Vì đất nước cần một trái tim. 


          Nhiều năm sau chiến tranh, Trịnh Công Sơn vẫn ám ảnh về nỗi đau chiến tranh và khát vọng hòa bình. Ca khúc Huyền thoại mẹ là một trong những bài hát hay nhất về mẹ anh hùng trong  cuộc chiến đấu, hy sinh của dân tộc ta vì hòa bình và thống nhất đất nước. Anh Sơn kể với chúng tôi trong một cuộc rượu ở Huế rằng: “ Dạo mình ra Quảng Bình, được nhìn bức ảnh mẹ Suốt tóc bay ngang trời chống thuyền qua sông giữa bom đạn, rồi kết hợp với những thực tế cùng những câu chuyện nghe được, rồi tôi nghĩ đến mẹ của mình, viết thành bài hát.”. Sau giải phóng 1975, sinh viên học sinh miền Nam phải đi đào mương, làm thủy lợi khắc phục tàn tích chiến tranh, có người cho rằng “ Nhà nước cộng sản đày đọa học sinh”. Nhưng Trịnh Công Sơn lại làm ca khúc để động viên họ: Em ở nông trường, em ra biên giới / Có những bước chân đi không về.Có tình yêu lớn bao trùm mọi thành kiến mới thấu hiểu được lòng người. Trịnh Công Sơn viết về mùa thu Hà Nội  hay da diết: Hà Nội mùa thu/ Cây cơm nguội vàng/ Cây bàng lá đỏ / Nằm kề bên nhau/ phố xưa nhà cổ/ mái ngói thâm nâu. là một trong những bài hát hay nhất về Hà Nội. Anh viết nhạc cho thiếu nhi  Em sẽ là mùa Xuân của mẹ. cũng được trẻ em cả nước hát mấy chục năm nay. 


         4- Trong hơn 600 ca khúc Trịnh Công Sơn gửi lại dâng đời, ngoài âm nhạc cách mạng, nhạc phản chiến, còn lại đa phần là tình ca. Từ ca khúc Ứơt mi, Diễm Xưa cho đến hàng trăm bản tình ca sau này, Trịnh Công Sơn đã trở thành nhạc sĩ viết tình dâng tặng cho nhiều thế hệ người Việt. Có thể nói Trịnh Công sơn là người tình của cuộc đời, của con người, người tình của thiên nhiên muôn thuở: Mùa đông cho em nỗi buồn/ Chiều em ra đứng hát kinh đầu sông / Tàn đông con nước kéo lên / Chút tình mới chớm đã viên thành.( Đoá hoa vô thường) ; hay Chiều nay còn mưa sao em không lại / Nhỡ mai trong cơn đau vùi / Làm sao có nhau, hằn lên nỗi đau / Bước chân em xin về mau ( Diễm xưa) v.v.. Vậy NGƯỜI TÌNH của Trịnh Công Sơn là ai ? Có địa chỉ không ? Làm sao Trịnh có được hàng trăm nhạc phẩm tuyệt vời về tình yêu như thế ? Đó là câu hỏi của bạn, của tôi, mỗi khi nghĩ về Trịnh. 


         Tôi là người sinh sau, gặp anh Sơn khi Huế giải phóng và cùng ở trong Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên những năm 1976- 1979. Gần gũi mấy năm, tôi không nghe anh kể chuyện nhiều về những mối tình của mình. Phong phanh bạn bè kể rằng anh Sơn đã một lần cưới vợ đầu những năm 60 của thế kỷ trước. “Ngươì tình” Trịnh Công Sơn đó là một người đẹp nổi tiếng ở Sài Gòn. Đám cưới tổ chức ở Khách sạn sang trọng. Sau đám cưới, phòng “tân hôn” của cô dâu chú rể vẫn ở khách sạn. Bạn bè cũng nghỉ ở đó mai mới về. Đêm, mọi người cứ tưởng Trịnh sẽ có một đêm “động phòng” hạnh phúc, nhưng trong khuya bỗng Trịnh Công Sơn chạy sang xin nằm ngủ với bạn… Không hiểu thông tin ấy chính xác tới mức nào. Những lần gặp anh tôi không dám hỏi. Theo nhà văn Bửu Ý, người bạn rất thân của Trịnh, chính xác thì Trịnh Công Sơn đã hai lần tính chuyện “cưới vợ”. Cả hai lần đều sau 1975. Lần thứ nhất là năm 1983, Trịnh Công Sơn chuẩn bị cưới   người phụ nữ có tên là C.N.N sống ở Paris, Pháp. Từ Sài Gòn, Trịnh đã gửi thư cho Bửu Ý ngày 30.7.1983 rằng “Moi sẽ làm đám cưới trong tháng tới. Cố gắng vào thì vui hơn”, nhưng dự định cưới vợ lần ấy của Trịnh đã không thành


  
          Năm 1990, Trịnh Công Sơn lại tổ chức cưới vợ, người phụ nữ này là V.A, lễ cưới đã chuẩn bị xong, cô dâu đã may áo cưới, nhưng đến phút cuối không hiểu tại sao anh lại khước từ hạnh phúc. Ngoài những “người đẹp” C.N.N, V.A, có một cô gái Nhật Bản tên là Michiko yêu Trịnh tha thiết, và Trịnh cũng yêu. Theo Hoàng Phủ Ngọc Tường trong cuốn bút ký “Trịnh Công Sơn- Cây đàn lia của Hoàng tử bé” (NXB Trẻ 2005) thì Nhiều thiếu nữ,”fan” của nhạc Trịnh Công Sơn vẫn lui tới với anh hằng ngày, tìm thấy ở anh một tình bạn vong niên thật dễ thông cảm, vừa là một người tình lãng du của mọi lứa tuổi. Nhiểu bạn gái, trong đó có những người tình cũ của anh, đã trở về thăm anh như thăm lại nỗi cô đơn bẩm sinh khi người ta còn trẻ”. Trong đó có cô gái Nhật Bản Yosshii Michico, người đã quyết định bỏ ra ba năm học tiếng Việt để nói chuyện được với Trịnh và hiểu được ca từ Trịnh Công Sơn. Và làm luận văn cao học về nhạc nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn. Trịnh cũng có những năm tháng yêu một ca sĩ Hà Nội và đã viết những bài hát riêng cho ca sĩ này thể hiện. Trịnh Công Sơn thổ lộ:” Phải cảm ơn H.N vì nàng đã làm cho mình không chỉ tồn tại như một kẻ nhắc vở đến từ quá khứ”. Nhưng tất cả cuộc tình đều không đi đến kết quả. Nên kết cục Trịnh Công Sơn đã đi vào cõi vĩnh hằng một mình như khi mẹ sinh ra! Nên, trong tình yêu Trịnh mãi mãi vẫn là chàng lãng tử cô độc “Từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ”…  


           


          Đó là những “vợ chưa cưới”. Còn “người tình” tâm tưởng góp phần làm nên sức lắng đọng bền bỉ của âm nhạc Trịnh Công Sơn có lẽ không ai biết hết được ngoài anh ra. Những năm 1962- 1964, để tránh đi quân dịch, Trịnh Công Sơn rời Huế thi vào trường Sư phạm Quy Nhơn, và học trong hai năm. Ở thành phố biển xinh đẹp này, Trịnh đã sáng tác một loạt bản tình ca nổi tiếng như “Biển nhớ”, “Nhìn những mùa thu đi”, “Nắng thủy tinh”, “Chiều một mình qua phố”, “Dã tràng ca”, “Cát bụi"…, gây kinh ngạc và sự thán phục cho công chúng. Nhưng không biết “người đẹp” nào đã gieo mầm cho những hứng khởi âm nhạc vô giá này ? Chưa tài liệu nào nói tới chuyện này, nhưng tôi tin rằng chắc phải có, vì chuyện “giai nhân gọi tài tử ” là chuyện thường tình xưa nay.


       


            Nhưng nếu tính “người tình ” của Trịnh Công Sơn phải kể đến Bích Diễm, Khánh Ly. Sau ca khúc “Ướt mi”, đầu thập niên 60 ở Huế, Trịnh Công Sơn đã rung động theo hình ảnh một thiếu nữ mảnh mai, con của một vị giáo sư dạy Pháp văn: Ngô Vũ Bích Diễm. Hình ảnh này sẽ vương lại mãi trong trái tim nhạc sĩ như một vết thương thành vết sẹo giữa cuộc đời. Nghe người Huế đồn nhau rằng Diễm xinh đẹp, đài các lắm. Nàng theo bạn bè học sinh “xuống đường “ bị cảnh sát bắt giam. Gia đình ngày nào cũng chỉ bới cho “người tù” bộ áo tím Huế mới và cái quai nón bài thơ! Ca khúc nổi tiếng “Diễm xưa” ra đời, một ca khúc đánh dấu đặc biệt trong đời của Trịnh và tồn tại lâu bền


                                        Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ


                                        Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao


                                        Nghe lá thu mưa reo mòn gót nhỏ


                                        Đường dài hun hút cho mắt thêm sầu ( Diễn Xưa)


        Diễm xưa đã trở thành một hình dung từ chỉ cái đẹp nhạc Trịnh mà không biết bao nhiêu thương nhân Việt đã lấy để đặt tên cho quán của mình.. Hỏi về chuyện Diễn xưa, Trịnh Công Sơn trả lời rằng:” Ngày xưa dường như cả thế hệ tôi là vậy, yêu một mái tóc, một dáng hình, một ngày chỉ cần nhìn thấy mặt nhau, thấy em qua khung cửa sổ là cả ngày thấy vui”. Trong ca khúc Diễm Xưa có đoạn ca từ bất tử:


                                        Mưa vẫn hay mưa cho đời biến động


                                         Làm sao em biết bia đá không đau


                                         Xin hãy cho mưa qua miền đất rộng


                                         Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau.


Ấy là triết lý cuộc đời, triết lý Thiền mà Trịnh Công Sơn đã phát hiện ra từ khi còn rất trẻ.


 


         Nhưng phải nói rằng với Trịnh Công Sơn, Khánh Ly mới là Người Tình muôn đời. Dường như toàn bộ tình ca Trịnh là viết riêng dành cho giọng hát Khánh Ly. Nói theo cách của Hoàng Phủ Ngọc Tường thì “với Sơn, Khánh Ly luôn luôn là giọng hát Người Tình”. Sau khi tốt nghiệp trường Sư phạm Quy Nhơn, Trịnh Công Sơn được bổ lên dạy học ở Bảo Lộc. Và Trịnh đã gặp Khánh Ly với cái tên Lệ Mai ở phòng trà Tulipe Rouge, Đà Lạt. Thế là “nên duyên”. Nhạc Trịnh Công Sơn bắt nguồn từ triết học hiện sinh và tư tưởng Phật học, nhưng lại chọn riêng một NGƯỜI TÌNH để gửi – đó là Khánh Ly.   Trịnh nghe Khánh Ly hát, nhận ra ngay giọng hát của cô ca sĩ này phù hợp với những bản nhạc tâm thức của mình. Trịnh Công Sơn kể: “Gặp gỡ ca sĩ Khánh Ly là một may mắn tình cờ, không phải riêng cho tôi mà còn cho cả Khánh Ly. Lúc gặp Khánh Ly đang hát ở Đà Lạt, lúc đó Khánh Ly chưa nổi tiếng nhưng tôi nghe qua giọng hát thấy phù hợp với những bài hát của mình đang viết và lúc đó tôi chưa tìm ra ca sĩ nào ngoài Khánh Ly. Tôi đã mời Khánh Ly hát và rõ ràng giọng hát của Khánh Ly rất hợp với những bài hát của mình. Từ lúc đó Khánh Ly chỉ hát nhạc của tôi mà không hát nhạc người khác nữa. Đó cũng là lý do cho phép mình tập trung viết cho giọng hát đó và từ đó Khánh Ly không thể tách rời những bài hát của tôi cũng như những bài hát của tôi không thể thiếu Khánh Ly”. Khánh Ly kể lại giai đoạn cơ cực nhưng đầy hạnh phúc ấy: “Thực sự tôi rất mê hát. Không mê hát thì tôi không có đủ can đảm để đi hát với anh Sơn mười năm mà không có đồng xu, cắc bạc nào, phải chịu đói, chịu khổ, chịu nghèo, không cần biết đến ngày mai, không cần biết tới ai cả, mà chỉ cảm thấy mình thực là hạnh phúc, cảm thấy mình sống khi mình được hát những tình khúc của Trịnh”. Những ngày tháng cuối năm 1965 đó, bằng cây đàn guitar thùng đơn giản, Trịnh Công Sơn và Khánh Ly đã làm say đắm hàng ngàn khán giả mỗi đêm diễn. Hình như họ sinh ra để có nhau, vì nhau, vì những bản tình ca.


 


          Tác giả Ban Mai trong bài “ Trịnh Công Sơn- Tiếng hát con dã tràng” viết:” Trịnh Công Sơn, với dáng người mảnh khảnh, cặp kính trắng trí thức, giọng Huế nhỏ nhẹ, với cuộc sống bất định. Đêm đi hát, khuya về kê ghế bố ngủ với bạn bè ở Quán Văn hay Hội Họa sĩ Trẻ. Bên cạnh đó hình ảnh Khánh Ly, khi hát đi chân đất – nữ hoàng chân đất của một thời – giọng hát da diết diễn tả nỗi trầm thống vô vọng: “tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người”. Hai người đi với nhau tạo nên hình ảnh “đôi lứa”, một đôi trai-gái trong tình bạn hồn nhiên, trong sáng. Tạo thành một đôi bạn trẻ, một couple ở đây rất mới, đáp lại ước mơ hiện đại của một thế hệ thanh niên muốn phá vỡ quan niệm nam nữ thụ thụ bất thân còn đè nặng lên xã hội Việt Nam. Trong dư luận, họ cũng không bị nghi ngờ hay tai tiếng, dù người đời có kẻ thắc mắc, tò mò. Những tâm hồn phóng khoáng và “hiện đại” thì gạt phăng đi loại “tò mò bệnh hoạn ấy” “. Và đặc biệt, Trịnh Công Sơn là người tăm tiếng mà không tai tiếng. Sơn nói: “Tôi và Khánh Ly chỉ là hai người bạn. Thương nhau vô cùng, trên tình bạn”. Khánh Ly viết: “Một mối liên hệ cao hơn, đẹp đẽ hơn, thánh thiện hơn là những tình cảm đời thường” ; hay:” Trịnh Công Sơn là một nửa đời sống của tôi”…Tình cảm, tình yêu thánh thiên của Trịnh Công Sơn- Khánh Ly thời đó như là một biểu tượng phá vỡ lề thói Nho giáo trói buộc tình cảm nam nữ. Đó chính là Bá Nha-Tử Kỳ thời hiện đại!


 


            Năm 1975, Khánh Ly rời Việt Nam sang định cư ở Mỹ, còn Trịnh thì cương quyết ở lại Việt Nam, vì “Việt Nam là nơi duy nhất tôi có thể sống và sáng tác. Ở nước ngoài, tôi không nghe ra tiếng nhạc trong đầu mình, tôi không nghe được câu thơ tôi viết ra. Tôi thích đi nước ngoài, nhưng nếu ở lâu, tôi sẽ khô cạn và chết mất. Hơi ấm của dân tộc Việt Nam giống như nước cần thiết cho hoa vậy”. Đau nỗi đau chia ly, Trịnh Công Sơn đã viết ca khúc:” Em còn nhớ hay em đã quên”, mà ai nghe hát cũng nghĩ là viết tặng Khánh Ly:


Em còn nhớ hay em đã quên
Nhớ Sài Gòn mưa rồi chợt nắng
Nhớ phố xưa quen biết tên bàn chân
Nhớ đèn đường từng đêm thao thức
Sáng cho em vòm lá me xanh


              Năm 1992, Trịnh Công Sơn sang Canada thăm em và đã gặp Khánh Ly. Sau lần gặp, Khánh Ly viết: “Có ai trong chúng tôi nghĩ rằng có một ngày nào đó phải thương nhớ nhau từng phút giây. Tuy vậy bằng cách nào đó, chúng tôi vẫn ở trong trí tưởng của mọi người, như ngày đầu ngồi với nhau, vào đời nhau bằng những bản tình ca” (Hoàng Phủ Ngọc Tường- Trịnh Công Sơn và cây đàn lia và hoàng tử bé).


 


             Trong hồi ức về Trịnh Công Sơn “Những kỷ niệm còn mãi trong tôi”, nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ kể rằng, trong căn nhà ở Khu chung cư Nguyễn Tường Tộ, Huế, anh Sơn ngồi, tay cầm cây bút xạ, mũi viết vẫn còn hướng xuống mặt bàn, khuôn mặt anh thảng thốt. Anh viết hai chữ Khánh Ly đầy cả một tấm giấy gần kín mặt bàn. Có lẽ anh Sơn viết rất lâu nên nó mới nhiều đến thế… Thấy Mỹ Dạ đến anh Sơn cho dạ xem tập ảnh chụp Trịnh Công Sơn chụp chung với Khánh Ly. Trong đó có bức Khánh Ly ngồi trong lòng Trịnh Công Sơn, trên hai bắp đùi. Rồi anh Sơn hỏi:” Dạ có biết ai chụp hình cho tụi mình không ?. Dạ lắc đầu. Anh Sơn bảo: “Chồng của Khánh Ly chụp đấy”. Đúng là NGƯỜI TÌNH muôn đời của Trịnh Công Sơn.


 


              Nhưng đó là những người tình cụ thể, dù rất đẹp vẫn là cái hiện hữu. NGƯỜI TÌNH của Trịnh Công Sơn biểu hiện qua toàn bộ tình ca của anh ảo diệu hơn nhiều, ám ảnh hơn nhiều. Trịnh Công Sơn nói:” Với ca khúc, tôi là người tình của thiên nhiên. Tình yêu cho phép những ca khúc ra đời. Nỗi đau và niềm hân hoan làm thành bào thai sinh nở ra âm nhạc”. Anh lại nói:”Tình yêu cứu vãn hư không “. Tác giả Ban Mai bảo rằng:”Trịnh Công Sơn là người tình của cuộc sống”. Ngược lại Cuộc Sống chính là người tình lớn nhất của Trịnh Công Sơn. Anh Sơn nói:” Nỗi ám ảnh lớn nhất, đeo đẳng tôi từ thuở còn nhỏ cho tới sau này vẫn luôn luôn bị ám ảnh là cái chết… Có lẽ do tôi quá yêu cuộc sống, sợ mất nó… Vì thế trong thế giới ca từ Trịnh Công Sơn có rất nhiều chữ phai, tàn phai, chết, lá rụng, như vôi, nhỡ,v.v… ” Bao nhiêu năm làm kiếp con người/ Để một chiều tóc trắng như vôi… (Cát bụi); Nhỡ mai trong cơn đau vùi / Làm sao có nhau, hằn lên nỗi đau ; ôi cát bụi phận này/ vết mực nào xoá bỏ không hay ( Cát bụi); yêu trăm năm và chết một ngày.v.v.. Và NGƯỜI TÌNH CUỘC SỐNG ấy hiện ra trong âm nhạc Trịnh bao giờ cũng là những cô gái gầy guộc nhỏ, như cánh vạc về chốn xa xôi; Tìm em tôi tìm/ mình hạc xương mai/ Nụ cười mong manh / Một hồn yếu đuối; Gọi nắng trên vai em gầy đường xa áo bay/ Cho tay em dài gầy thêm nắng mai.v.v..Nghĩa là mong manh lắm, dễ vỡ lắm. Phải thương yêu hết lòng, cưu mang hết lòng mới cứu vớt được. Đó chính là thân phận mong manh, ngắn ngủi của kiếp người cần được cứu rỗi. Đồng thời tình yêu của kiếp người bao giờ cũng là tình phôi pha, tình sầu, tình phụ, tình buồn, tình trôi, tình hư vô…


                         Ta thấy em trong tiền kiếp với cọng buồn cỏ khô


                                                             ( Rừng xưa đã khép)


                          Tuổi buồn em mang đi trong hư vô, ngày qua hững hờ


                                                              ( Tuổi đá buồn)


                          Dáng em trôi dài, trôi mãi, trôi trên ngàn năm


                                                              ( Ru em từng ngón xuân nồng)


                           Chết thật tình cờ, chết không hẹn hò, nằm chết như mơ


                                                               ( Tình ca của người mất trí)


Đó là Phúc âm buồn của cõi người luôn mong được sẻ chia, đồng cảm!Trịnh Công Sơn cho rằng:” Chúng ta làm cách nào nuôi dưỡng tình yêu, để tình yêu có thể cứu chuộc thân phận trên cây thập giá Đời”.


  


            Trịnh Công Sơn từng nói: Âm nhạc như thể là tình yêu, là trong bản thân nó hàm chứa một cõi nhân sinh bề bộn những khổ đau và hoan lạc. Và Trịnh đi tìm NGƯỜI TÌNH của mình trong đó. Và chàng đã gặp. Từ nay tôi đã có người /Có em đi đứng bên đời líu lo / Từ nay tôi đã có tình / Có em yêu dấu lẫy lừng nói thưa / Từ em tôi đã đắp bồi / Có tôi trong dang em người trước sân… ( Đoá hoa vô thường).


 


 


        5. Anh Nguyễn Văn Hóa, giám đốc Xí nghiệp in chuyên dùng ở Huế là người rất say mê Trịnh Công Sơn. Trong phòng giám đốc của anh treo một bức ảnh phóng to chụp bức tranh họa sĩ Bửu Chỉ vẽ khuôn mặt Trịnh Công Sơn trong cây đàn ghi ta rất ấn tượng. Đến nỗi khi đến mừng nhà mới của tôi, anh cũng mang bức hình phóng to chụp tranh của hoạ sĩ Bửu Chỉ vẽ Trịnh đóng khung sang trọng tặng vợ chồng tôi. Trong chuyến tôi theo xe anh Hóa lên Khe Sanh ( huyện Hướng Hóa, Quảng Trị) thăm Hoàng Phủ Ngọc Tường đang chữa bệnh ở đấy, dọc đường tôi nghe anh Hóa ngâm những đoạn ca từ của Trịnh, như ngâm thơ vậy. Vâng, ca từ trong nhạc Trịnh Công Sơn là những áng thơ tuyệt tác. Đó là nhận xét của rất nhiều người. Nhà phê bình văn học Hoàng Ngọc Hiến gọi ca từ của bài hát  Đêm thấy ta là thác đổ của Trịnh Công Sơn là là một trong những bài thơ tình hay nhất của thế kỷ 20. Ca từ cũng là một phần làm nên sức mạnh trường tồn của âm nhạc Trịnh.


Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi


 Để một mai tôi về làm cát bụi.


.Bao nhiêu năm làm kiếp con người


 Chợt một chiều tóc trắng như vôi.


 


           Bởi thế mà nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, khi làm tập sách:” Trịnh Công Sơn- Một Cõi đi về” đã chọn in riêng trên 60 ca từ của Trịnh, in thành những bài thơ. Cách làm đó làm cho độc giả dễ nhận ra chất thơ bi tráng và sâu thẳm trong ca từ của Trịnh. Câu ca từ nào cũng là câu thơ hiện đại, ám ảnh:


                                     Nghe bao nỗi đau trên hai bàn tay


                                                             ( Tôi đang lắng nghe)


                                    Dưới vành nôi mọc từng nấm mộ


                                                             ( Có một dòng sông đã qua đời)


                                    Sống trong đời sống cần có một tấm lòng


                                    Để làm gì em biết không


                                    Để gió cuốn đi.


                                                             ( Để gió cuốn đi)


                                    Ngày sau sỏi đá vẫn cần có nhau.


            Trịnh Công Sơn có hàng ngàn câu thơ viết ra từ cõi tâm linh, từ sự chiêm cảm của kiếp người. Ca khúc Trịnh là thế giới hiện sinh, cũng chính là tư tưởng Phật Giáo hiện hữu trong máu của anh. Huế là đất Phật. Trịnh bảo: ‘ Huế và đạo Phật ảnh hưởng sâu đậm trên tình cảm thời thơ ấu của tôi’. Trịnh lại bảo: ‘ Bậc thượng thừa của hiện sinh chính là ông Phật’. Những chữ như ‘ hư vô’,  ‘hư không’, ‘ cõi đi về’, ‘ Đoá hoa vô thường’ ‘ ở trọ’,cát bụi.v.vv.. là ngôn ngữ Phật thường xuyên xuất hiện trong ca từ Trịnh: Con chim ở đậu cành tre / Con cá ở trọ trong khe nước nguồn / Tôi nay ở trọ trần gian / Trăm năm về chốn xe xăm cuối trời.Những Lời ca đó là triết học, là nhân sinh thăm thẳm. Tôi thầm ước mình làm được những câu thơ thần linh đó!


 


        6. Năm 1976, tôi từ Sài Gòn ra Hà Nội rồi về Huế gia nhập đội quân văn nghệ của tỉnh Bình Trị Thiên. Mặc dù đã nhẩm hát nhạc Trịnh Công Sơn suốt bốn năm trời ở rừng miền Đông Nam Bộ, nhưng những ngày tháng ấy tôi mới được làm quen với anh. Đại hội Văn nghệ Bình Trị Thiên lần thứ nhất, Trịnh Công Sơn ngồi bên bàn trước hội trường để thu tem phiếu lương thực và ghi tên đại biểu. Đó là công việc hành chính ở cơ quan Hội. Anh tươi cười bắt tay từng người, đeo kính cận dày cộp ngồi đếm đi đếm lại từng ô tem phiếu, vì thời bao cấp ấy, thiếu tem phiếu thì không thể nào bù được, không thể báo cơm ở khách sạn cho đại biểu được! Rồi anh cùng cơ quan lên Bình Điền (Huế), Cồn Tiên (Quảng Trị) cuốc đất trồng sắn, khoai. Đất đồi thì cứng, thân anh thì mảnh mai, gầy yếu, cuốc được ngày thì anh phồng dộp cả bàn tay.( bởi thế mà sau này có cây bút hải ngoại vu cho Hoàng Phủ Ngọc Tường, lúc đó là Phó chủ tịch Hội Văn nghệ tỉnh đã bắt Trịnh Công Sơn phải làm bản kiểm điểm về việc đi tăng gia!). Trong lúc cả nước đói, ai cũng phải cuộc đất trồng sắn, trồng khoai, riêng gì anh Sơn. Nhưng tôi thấy anh đi ‘tăng gia’ rất vui vẻ, vừa làm vừa hát. Anh còn đi tham gia lao động tại công trường Nam Thạch Hãn. Không việc gì anh không làm. Nhưng thời gian đó, dường như anh viết nhạc ít đi. Đó là sự thực.


 


         Một số nhạc sĩ ở miền Bắc vào ở Huế lúc đó cho rằng, nhạc Trịnh Công Sơn là “nhạc vàng”. Họ tổ chức cho sinh viên hội thảo phản đối nhạc vàng! Họ giăng cả biểu ngữ trước cửa trường Đại học Sư Phạm phản đối nhạc vàng. Một số nhà quản lý văn hoá cực đoan còn cấm hát rất nhiều bài hát phản chiến của Trịnh. Vì họ cho rằng Trịnh chống chiến tranh chung chung, không phân biệt địch- ta, không phân biệt chính nghĩa và phi nghĩa. Thời kỳ đó, ở Huế người ta tổ chức một số cuộc họp để thảo luận về âm nhạc Trịnh Công Sơn với cách mạng. Những người bạn của Trịnh như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân đã tìm mọi cách nói cho các quan chức văn hoá biết rằng, Trịnh Công Sơn là một người yêu nước, trước và sau năm 1975 đã viết nhiều ca khúc cách mạng. Nhưng một số người vẫn chưa tin. Ngay cả bài hát nổi tiếng   Nhớ mùa thu Hà Nội  viết năm 1984, cũng bị cho là ‘có vấn đề’, nên bị đình chỉ cấm hát đến hơn 2 năm.  Tất cả chỉ vì câu hỏi lặp đi lặp lại: ‘Từng con đường nhỏ trả lời cho tôi’. Người ta cho rằng câu hỏi đó là câu hỏi gì, ai sẽ trả lời, đó là ‘biểu tượng hai mặt’. Những người đó không hề biết hình tượng nghệ thuật bao giờ cũng đa nghĩa, càng đa nghĩa càng tốt. Vì viết “ nhạc vàng”, nhạc không phân biệt địch-ta, nên mãi đến đầu những năm 90 của thế kỷ trước, Trịnh Công Sơn mới được “kết nạp” vào Hội nhạc sĩ Việt Nam! Nhưng họp thì họp, nói thì cứ nói, cấm mặc cấm. Họp xong, nói xong. cấm xong mọi người lại hát Trịnh Công Sơn suốt đêm ngày! Có lẽ vì sự đối xử đó mà năm 1979, Trịnh Công Sơn đã chuyển vào sống ở Sài Gòn và ngay lập tức được bầu vào Ban chấp hành Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật thành phố, uỷ viên điều hành Hội nhạc sĩ Thành phố Hồ Chí Minh.


 


             Sau này tôi thường lui tới căn hộ chung cư của Hoàng Phủ Ngọc Tường ở đường Nguyễn Tường Tộ, bên bờ An Cựu, gần nhà thơ Phú Cam. Đây chính là căn nhà Trịnh Công Sơn đã ở trong một thời gian dài. Khi chuyển vào sống ở Sài Gòn, anh Sơn đã bảo chính quyền tỉnh sang tên ngôi nhà cho vợ chồng Tường- Dạ. Đứng bên ban công dưới hàng long não, nhìn ra bờ sông, nhìn qua Thánh đường Phú Cam trong chiều sương tím Huế, nghe âm hưởng của cây lá, của gió, của sông của bước chân con gái đi bộ qua đường. Hoặc đi bộ dọc sông An Cựu qua cầu Bến Ngự lên chùa Phổ Quang, nơi Trịnh Công Sơn gửi pháp danh Phật của mình, nghe dế kêu trong cỏ, gió rì rào trong lá, tôi nhận ra đây chính là giai điệu Trịnh Công Sơn! Trịnh Công Sơn đã viết hàng trăm ca khúc ở căn phòng này. Lần ra Huế dự “ Đêm nhạc Trịnh Công Sơn quyên góp tiền giúp trẻ em nghèo học giỏi”, anh Sơn nâng cùng anh em chén rươụ Chuồn, tâm sự:” Trong lời bài hát của mình không có một từ nào về các địa danh của Huế, nhưng toàn bộ âm nhạc của mình chính là Huế đấy, Huế của kiếp người.”. Vâng, trên 600 ca khúc của Trịnh Công Sơn để lại là một phần của Di sản văn hóa Huế, tồn tại mãi với thời gian.


 


           Âm nhạc Trịnh Công Sơn là âm nhạc vì con người nên ở lại mãi với hồn người, không biên giới, “cao hơn mọi thành kiến trên đời”- chữ của Anh Ngọc. Giải thưởng Âm nhạc hòa bình thế giới của Liên Hiệp Quốc là sự tôn vinh ở tầm cỡ thế giới về Di sản âm nhạc của Trịnh. Đây cũng là sự tôn vinh một nhân cách sống và bản lĩnh sáng tạo của một thiên tài âm nhạc.


Ngô Minh


Nguồn: vanvn.net  


 


 



 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Văn hóa ẩm thực: Phở - món đồ ăn bằng bánh thái nhỏ nấu với thịt bò - Trịnh Quang Dũng 11.12.2017
Văn hóa Ẩm thực: Phở Việt - Kỳ 3: Phở - Trịnh Quang Dũng 10.12.2017
Boris Pasternak Giải Nobel về văn học năm 1958 - Thân Trọng Sơn 09.12.2017
Bộ Tư lệnh Vùng 5 Hải quân - Tư liệu sưu tầm 02.12.2017
Pilates là gì? Lịch sử môn thể thao thời thượng Pilates - Triệu Thiên Hương 01.12.2017
Vĩnh biệt nhà văn Nguyễn Gia Nùng - Triệu Xuân 27.11.2017
Kỳ vọng cường quốc của Trung Quốc chỉ là 'lâu đài trên cát'? - Tư liệu 25.11.2017
Goncourt 2017 thuộc về nhà văn kiêm đạo diễn Eric Vuillard - Tư liệu 25.11.2017
Nhà văn Nguyễn Thị Anh Thư - Người luôn ẩn mình sau những trang văn - Đỗ Ngọc Yên 24.11.2017
Thầy trò đời nay với thầy trò xưa - Phan Khôi 19.11.2017
xem thêm »