tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20563403
Tiểu thuyết
12.07.2014
Triệu Xuân
Trả giá


Lênh đênh trên biển, những lúc nghỉ ngơi, Hường lại bắt anh kể chuyện. Hường hỏi: “Em có giống ba em không?”. Hải nói: “Giống, giống cái tính nết, giống chiều cao và cả dáng đi”. Hường hỏi: “Em có giống má?”. Hải tính nói: “Em mới mười lăm mười sáu tuổi mà đã đẹp quá trời”, song lại thôi. Anh đáp: “Giống hệt như hai giọt nước! Gương mặt em với má em là một”. Rồi Hường ngồi thừ ra, không vá lưới được nữa.


 


     Đêm nay, họ lại nằm mỗi người một góc, cách nhau một khoảng vừa đúng hai cánh tay nối lại. Trăng rằm đã lên đến đỉnh đầu rồi mà không ai ngủ được. Họ cùng trở mình hướng mặt về phía nhau, họ cùng từ từ mở mắt ra nhìn nhau. Ngoài kia biển rộng quá, biển trời bát ngát ánh trăng. Phía tay mặt, hòn đảo nhỏ ngủ im lìm. Trời biển mênh mông mà thân họ lại quá nhỏ bé, đơn côi. Tại sao lại không là một? Như vợ chồng, như cha với mẹ ngày trước? Hai con tim cùng khát khao tình thương yêu, cùng đập gấp. Hai khối óc cùng nghĩ về nhau với tất cả hy vọng, tin tưởng. Hai bàn tay tìm đến tay nhau. Mặt hai người nhìn nhau chứa chan tình nghĩa. Không kìm được những đợt sóng yêu thương mãnh liệt trong lòng, Hải ôm lấy Hường, siết chặt. Hường vùi đầu vào bộ ngực nở nang của Hải, khóc nức nở. Hải vuốt ve mái tóc đen nhánh của Hường, bờ vai tròn lẳn của Hường, và Hường vẫn khóc. Họ cứ ôm nhau như thế cả giờ đồng hồ. Chợt khoang thuyền bừng sáng lên: Mặt trăng đã chếch về Tây, soi qua ô cửa sổ khoang thuyền. Vầng trăng dát ánh sáng ngọc ngà trên thân thể hai con người từ giờ phút này mới thực sực hòa làm một...


 


     Đó là lễ cưới, là đêm tân hôn của họ.


 


     Sáng hôm sau, mặt trời lên ngang tầm cột buồm, họ mới thức dậy. Hường lúi húi nấu ăn, Hải xuống đảo tìm nước ngọt đưa lên thuyền rồi nhổ neo. Họ nhắm thẳng đất liền tiến vào. Hải quyết định dừng lại ở khúc sông lượn cong hình đuôi tôm, anh cho thuyền rẽ vào con lạch nhỏ và neo lại. Ngày hôm qua họ sống giữa vùng biển trời bao la, thì hôm nay, họ đứng giữa rừng đước bạt ngàn. Với tay ra là thấy cây. Những cây đước lâu năm, một người ôm không xuể. Bốn phía là cây. Chỉ thấy cây! Dưới chân họ là sình lầy, dòng nước đầy tôm cá. Con mắt nghề nghiệp cho Hải biết, anh đang đứng giữa mỏ tôm, vựa cá. Hải buông thử vài tay lưới. Khi kéo lên, hai vợ chồng kinh ngạc: gần chục kí lô tôm thẻ và cá. Bữa ăn đầu tiên tại nơi ở mới, họ ăn toàn... tôm nướng.


 


     Hải làm một căn nhà. Anh lựa những cây đước vừa tầm vừa sức mà chặt. Tháng đầu, họ vẫn ngủ trên thuyền. Phải một tháng trời Hải mới làm xong nhà. Căn nhà toàn bằng thân cây đước, mái lợp lá dừa nước, vách xung quanh bằng những cây đước nhỏ thưng lại. Anh làm sàn nhà cao hơn mực nước triều cường lớn nhất; có bậc thang dẫn xuống thuyền giống như cầu tàu ở cảng. Hường rất thích cái cầu tàu này. Hải phát quang xung quanh nhà để diệt muỗi. Hường bị sốt rét vì muỗi và ngay ngày đầu đã đạp phải rắn. Rắn cắn làm cho bàn chân Hường sưng vù. Rất may là Hải đã học được cách chữa rắn cắn của cha truyền cho.


 


     Nhiều ghe xuồng đi biển thấy có căn nhà mới dựng đã ghé vào. Nhờ vậy mà Hường đã mua sắm được vài vật dụng cần thiết: mấy chiếc nồi bằng đất nung, cái cà om đựng nước ngọt. Suốt đêm ngày Hường phải đốt lửa để chống muỗi. Mới tắt nắng một chút là muỗi đã hoành hành. Giơ tay ra vơ một cái là muỗi đầy lòng bàn tay. Buổi sáng, Hường thức dậy rót nước từ ấm ra, chị thấy lạ: Nước lưng ấm mà sao không rót được? Mở nắp ấm ra, Hường rợn người: Trong ấm đầy muỗi. Muỗi nhét chặt vòi ấm nên nước không chảy ra được!     Dạo ấy, trời mưa liên miên cả chục ngày, đến khi trời nắng, Hường mang tấm đệm(1) ra phơi. Giở tấm đệm lên, chị rụng rời chân tay, miệng cứng không kêu lên được: Ở giữa những cây đước ghép thành chỗ nằm là bảy, tám con rắn, con nào con ấy to bằng cánh tay của chị, đang... nằm ngủ ngon lành. Khi Hải về, anh đuổi mãi chúng mới chịu đi. Hôm sau, anh gửi mua một lưỡi cưa lớn, một lưỡi cưa nhỏ và đồ làm mộc. Họ bắt đầu đốn cây để bán cho chủ lò than. Hai vợ chồng tranh thủ lúc trời mưa, hì hục xẻ đước thành ván và đóng giường. Anh đóng theo kiểu sập chân quì mà những nhà giàu ở quê anh thường xài. Từ ngày có giường, Hường không lo rắn đến ngủ chung nữa. Rồi Hải gỡ tấm ván lấy ở thuyền lên làm bàn thờ ông bà ngay từ ngày ở nhà mới. Anh đóng được chiếc tủ thờ, dù đơn sơ nhưng nó cũng là cái tủ; rồi một cái bàn để uống nước và bốn cái ghế tựa. Cả năm trời anh mới làm xong được những việc ấy, làm vào những ngày không đi biển. Một năm sau ngày Hải, Hường đến lập nghiệp ở Xẻo Đước, có thêm cặp vợ chồng mới đến: anh Ba Tràm quê Hà Tiên. Họ đến với hai bàn tay trắng. Ghe của họ bị bão lật chìm ngoài khơi đảo Phú Quốc. Họ sợ bị chủ trừng phạt, bỏ xứ trốn qua đây. Tràm đi làm thuê cho chủ lò than ở Cà Mau nhưng rồi chịu không xiết. Đã nhiều lần kéo bè gỗ đước ngược sông, qua đây, họ nhìn thấy một mái nhà với một chiếc thuyền. Đó là ước mơ của họ. Ba Tràm làm quen với Hải; Hải đốn cây đước bán cho chủ lò than. Đước của Hải được cao giá nhất vì toàn cây lớn. Tràm đến nhận cây, bao giờ cũng được Hải mời lên nhà uống rượu. Một hôm, Tràm nói với Hải:        


     - Anh Hải à, anh cho vợ chồng tôi tới đây phụ giúp vợ chồng anh được không? Làm lò than cực quá, mà tay trắng vẫn hoàn tay trắng. Tôi chịu hết nổi rồi.


     - Được quá chớ. - Hải cười sang sảng! - Nếu thế thì còn gì bằng. Tôi thèm có bạn lắm rồi. Tới liền đi.


 


     Họ cùng nhau dựng lên căn nhà thứ hai, đối diện với căn nhà cũ. Khi Hải cặm hàng đáy thứ tư trên sông thì vợ chồng Ba Tràm đến nhập cư vào Xẻo Đước.


 


     Đất lành chim đậu.


 


     Họ làm ăn tấn tới, đã có của để dành. Sông nước vùng này không phụ lòng người. Một mẻ đáy ở đây bằng ở ngoài Trung đi biển cả tháng trời. Hải mua cho vợ chồng Ba Tràm một chiếc ghe lớn và lưới giã cào. Anh cặm thêm được hai hàng đáy nữa. Một năm sau, khi anh cặm hàng đáy thứ mười thì ấp Xẻo Đước đã có mười hai nóc nhà. Những gia đình ấy rất giống nhau về cảnh ngộ; và đặc biệt là họ rất biết ơn Hải, coi vợ chồng Hải là ân nhân.


 


     Năm một ngàn chín trăm bốn mươi, Hường sinh được đứa con trai, đặt tên là Lê Văn Đước. Cả ấp Xẻo Đước như trong ngày hội. Đó là đứa trẻ con đầu tiên của khu dân cư mới. Năm ấy, ở đây đã có hai mươi sáu gia đình. Lần lượt các gia đình đều có tiếng ù ơ ru con, tiếng ca vọng cổ và các điệu lý. Hải bỏ vốn ra sắm một lúc mười lăm chiếc ghe giao cho bà con trong ấp đi biển. Sau mỗi chuyến biển, người ta tự động gửi lại anh một chút tiền, gọi là trả góp vốn ban đầu. Nhiều người có ý trả cả lãi cho anh, nhưng Hải và Hường kiên quyết từ chối.


 


     - Chúng ta đã là nạn nhân của bọn địa chủ biển, bọn chủ vựa. Bộ bây giờ các chú, các anh lại muốn biến tôi thành hạng người đáng nguyền rủa đó sao?


 


     - Nhưng chúng tôi chịu ơn anh! - Ba Tràm nài nỉ.


 


     - Không! Tôi giúp không điều kiện! Nếu chịu ơn tôi thì hãy lo mà làm ăn cho phát đạt lên! - Hải nói với họ như vậy.


 


     Đứa con trai - Hải đặt tên bằng tên của rừng cây đã cưu mang, nuôi sống mình - lớn nhanh, khỏe mạnh, giống Hải như lột. Năm Đước chín tuổi thì Hường sanh đứa trai thứ hai. Lần này Hường giành phần đặt tên. Chị đặt tên con là Lê Ngọc Trầm. Hồi nhỏ, nghe bà con xóm chài và nghe Hải kể lại, quê của cha mẹ Hường ở miền tây Bình Định, có rất nhiều kỳ nam hương, tức là gỗ trầm hương. Hường đặt tên con là Trầm để sau này lớn lên, nhớ tới nguồn gốc ông bà của nó đã cực khổ, ê chề, lam lũ như thế nào, mà sống cho phải đạo làm người.


 


     Ấp Xẻo Đước đã có tới năm chục nóc nhà, kéo dài từ chỗ uốn lượn hình đuôi tôm của con sông - nơi căn nhà của Hải - sang tận dòng sông bên kia - cũng là một chi lưu của sông Cái lớn. Năm ấy, Hải đã có thêm chục hàng đáy biển và anh mua được một chiếc ghe lớn trọng tải mười tấn, chuyên dùng chở hải sản đi Sài Gòn; cùng nhiều ghe nhỏ đi biển. Một năm đôi ba lần, Hải mới đích thân lái tàu đi Sài Gòn, còn phần lớn thời gian, anh bám biển cùng mọi người.


 


     Chẳng biết tự bao giờ, mọi người không kêu tên thiệt của anh mà họ kêu Hải là anh Hai Mắm. Hải thứ hai thì đúng rồi, còn Mắm? Tràm cắt nghĩa cho Hải rằng: “Mắm là loại cây tiên phong trong quá trình đất liền lấn ra biển. Khi còn là bùn non nửa đất nửa nước, cây mắm xuất hiện. Sau khi rừng mắm làm cho đất cứng lại thì nhường chỗ cho cây đước tới; cây mắm lại đi đến vùng nửa đất nửa nước mà lấn biển. Nhờ cây mắm mới có đất, mới có cây đước và rừng đước, mới có đất cho con người làm ăn sinh sống. Nếu không có cây mắm thì đất mới không thể nào hình thành, sóng biển sẽ cuốn bùn non dở đất dở nước đi mất... Khi thấy anh đặt tên cho thằng cháu đầu là Đước, chúng tôi kêu anh bằng Hai Mắm, là muốn ghi công lao của anh đã cứu mạng chúng tôi, đã khai lập ra cái ấp Xẻo Đước này, đã giúp cho mọi người có phương tiện làm ăn, gia đình hạnh phúc...”.


 


     Năm một ngàn chín trăm năm mươi sáu, Lê Ngọc Trầm lên năm tuổi, Trầm thấy một người khách lạ ở trong nhà. Mọi người kêu là “chú Bảy”. Chú Bảy bị bệnh rất nặng, đang bị lính “quốc gia” lùng bắt. Đã một năm nay, ngày nào Trầm cũng thấy tàu chở lính chạy ầm ầm trên sông, chĩa súng vào rừng đước mà nhả đạn. Trầm thấy ba chôn một cái lu lớn xuống mé sau nhà, có nắp đậy, ở trên nắp là giàn phơi tôm cá. Mỗi khi có động, ba Trầm dìu chú Bảy chui xuống lu. Thầy thuốc đến nhà, nói bệnh của chú Bảy phải uống thuốc bắc hầm với chim bồ câu mới hết. Ở miệt này cò rất nhiều, cò đậu trắng cả rừng đước, nhưng chim bồ câu không có một con. Đích thân ông Hai Mắm lái tàu đi Rạch Giá mua bồ câu non về làm thuốc. Chú Bảy ở trong nhà Trầm một tháng thì khỏi bệnh. Chú rất thương Trầm, thường kể chuyện cho Trầm nghe và dạy Trầm học chữ. Một buổi sáng, Trầm thức dậy, không thấy chú Bảy đâu nữa. Ba và anh của Trầm cũng vắng nhà. Ông Hai Mắm cùng con trai đã dùng tàu chở tôm cá lên Sài Gòn bán. Dưới lớp tôm cá là “chú Bảy”. Mãi cho đến sau này, khi ông Hai Mắm bị cải tạo, bỏ đi biệt tích, người khách ấy có về thăm vùng cuối đất cùng trời. Ông hỏi thăm người đã mua chim câu về cứu sống ông; nhưng cả ở huyện và tỉnh, không ai biết gì về người dân chài ấy.


 


     Từ Xẻo Đước lên thị trấn Mỏ Tôm mất ba giờ chèo ghe, ở đó mới có trường tiểu học. Hai Mắm thuyết phục tất cả các gia đình trong ấp phải cho con đi học. Đời ông, đời cha bị mù chữ nên bị người ta hà hiếp. Đời con mình phải thoát khỏi cảnh ấy. Hai Đước đi học dắt em theo. Đêm về, cả hai anh em cùng học bài và thường bắt mẹ kể chuyện đời xưa. Trầm và Đước rất mê những chuyện do chú Bảy kể trong những ngày chú nằm bệnh tại nhà. Trong đó có câu chuyện cổ về nguồn gốc của cây đước, của rừng cây được gọi bằng tên “rừng biết đi”:


 


     “... Ngày xửa ngày xưa, vùng đất mà chú và hai cháu đang ở đây, - chú Bảy ẵm bé Trầm trong lòng; còn Đước thì ngồi đối diện với chú - là nơi vua Thủy Tề thường cỡi sóng đi dạo chơi. Mũi đất thuở ấy chưa tới đây. Nó còn ở tít miệt trên kia, nơi có rừng tràm mà ta kêu bằng U Minh. Thuở ấy, trong rừng đầy hổ báo và vô số các loài thú khác do một con hổ già được tôn là Chúa rừng cai quản. Con hổ này “tu luyện” được nhiều phép thần thông biến hóa. Một hôm, hổ chúa đi chơi ngoài bãi biển, gặp công chúa con vua Thủy Tề đang nằm tắm nắng. Hổ chúa mê sắc đẹp của nàng công chúa bèn cho cá sấu mang lễ vật xuống Long cung cầu hôn. Vua biển cười, trả lễ vật và nói: “Công chúa con ta là rồng, đứng đầu tứ linh, không thể gả cho cọp được!”.


 


     Chúa rừng nổi giận vì những lời trịch thượng ấy, quyết tìm cách trả thù. Không thể mang binh rừng đi đánh dưới nước, hổ chúa cho lấp biển để bắt sống Long vương. Dã tràng ngày đêm hì hục tha đất lấp biển, nhưng sóng biển làm tan biến hết, công ấy chỉ là “công dã tràng”. Chúa rừng liền sai chim đi lấy đá tận dãy Tà Lơn mang thả xuống lấp biển. Đến nay, đàn nhạn biển vẫn kiên nhẫn làm công việc này mà cũng chỉ nhú lên được vài hòn đảo nhỏ xíu là Hòn Nhạn, Hòn Tre, Hòn Khoai, Hòn Chuối, Hòn Đá Bạc... Chúa rừng bèn làm phép cho rừng tiến ra biển. Rừng tràm tiến rất nhanh. Nhưng Long vương nổi dông bão làm cho rừng tràm gãy rạp cả. Ngày nay, dưới nền rừng U Minh còn nhiều xác cây rừng lớn, nguyên vẹn nằm chồng lên nhau mà người ta kêu bằng tràm lụt. 


 


     Hổ chúa quyết định dùng biện pháp cuối cùng. Nhờ có phép nhìn xa, từ lâu hổ chúa đã nhìn thấy ở hướng Nam những quần đảo xa có một loài cây biết đi, có sức chống trả lại dông bão sóng gió. Chúa rừng bèn cho đàn cá sấu khai một đường nước bọc quanh rừng, tách bãi biển ra khỏi đất liền, rồi sai các loài chim bay đi lấy trái của loài cây biết đi, về thả dài theo bãi. Đường nước ấy ngày nay là dòng sông Ông Đốc bao bọc cả một phía rừng U Minh. Trái lạ kia nảy mầm lên cây; cây lớn nhanh như thổi và bắt đầu tiến ra biển, vừa tiến vừa thả trái xuống cho mọc lên cây mới làm thành rừng cây dày đặc. Cây tiến tới đâu, dã tràng xe cát tới đó, bồi cho vững gốc và đẩy biển lên xa. Biển không ngăn được phải lui dần. Hằng năm, lợi dụng mùa mưa lớn, Thủy Tề dâng nước biển lên hòng đánh bạt cây trở lại. Nhưng nhờ có bộ rễ đặc biệt nâng cây lên cao, nước biển tràn lên chỉ lùa qua lớp rễ bắc cầu vồng. Nước lại phải rút về. Cây hút chất phù sa tự bồi vào gốc và tiếp tục buông trái già xuống theo nước đuổi ra tận biển. Nước rút, trái cây găm sâu vào bãi bồi, nảy mầm, vọt lên một lớp rừng non; lớp trái sau lại tiến xa hơn, mỗi ngày một lấn nhanh ra biển. Đến nay, khu rừng ấy đã tiến rất xa, bỏ cửa sông Ông Đốc lại phía sau vài chục cây số, và mũi đất ấy đang hướng về phía Tây...”.


 


     - Mũi đất ấy là mũi Cà Mau. Còn giống cây biết đi ấy là Cây Đước. Ba cháu đặt tên loài cây ấy cho cháu là muốn cháu có khí phách bất khuất, chiến thắng mọi kẻ thù. Cháu có hiểu không, Hai Đước?


 


     - Dạ, cháu hiểu. - Đước trả lời.


 


     Trầm tiếp lời anh:


 


     - Cả cháu cũng hiểu, chú Bảy à!


 


     Những câu chuyện, những câu vè, những bài vọng cổ của dân lưu tán tứ xứ về đây càng làm cho Hai Đước và Trầm hiểu thêm về thân phận con người bị đày đọa, áp bức. Những người đã thoát khỏi cái chết của nạn đói ở Cà Mau năm 1938, đã qua cuộc đấu tranh do Mười Chức cầm đầu, đã qua vụ đồng Nọc Nạn; những người chạy trốn sự bóc lột tàn nhẫn của tên đại điền chủ Trần Trinh Trạch... Họ về đây, được ông Hai Mắm giúp đỡ. Chính họ là những người đã hưởng ứng cuộc khởi nghĩa cướp chính quyền ở Cà Mau năm 1945; và bao người đã nằm xuống trong hàng chục năm chiến đấu cho ước mơ: được tự do làm ăn trên đất, trên biển của mình, tự do hưởng thành quả lao động của mình. Những câu hát ru, mẹ Trầm thường ru Trầm hồi nhỏ:


 


                        “Trời xanh cây cứng lá dai


 


                        Gió lay mặc gió, chìu ai ta chẳng chìu...”


(còn tiếp)


 


Nguồn: Trả giá. Tiểu thuyết của Triệu Xuân. NXB Văn Nghệ TP.Hồ Chí Minh in lần đầu và lần thứ hai  năm 1988. Các NXB Văn học, NXB Hội Nhà văn… tái bản nhiều lần. Sách đã tái bản lần thứ 12 năm 2013.


www.trieuxuan.info


 


(1) Đan bằng cây bàng, dùng thay chiếu. Bàng là cây họ lác (cói), trong kháng chiến chống Pháp được dùng để đan nóp cho bộ đội.



 



 



 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
xem thêm »