tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19374647
Tiểu thuyết
01.04.2009
Hoài Anh
Vua Minh Mạng

 


V. Nghe tin Gia Long mất, Tổng trấn Bắc thành Lê Chất xin vào viếng. Minh Mạng lấy cớ phương Bắc là trọng trấn, chưa nên tạm lìa, không cho Chất vào kinh.


Sau khi tang lễ xong xuôi, vua mới triệu Chất lai kinh. Để tỏ ý tín nhiệm Chất, Minh Mạng giao cho Chất việc đôn đốc dân phu xây lăng Thiên Thọ. Lê Chất cũng muốn nhân dịp này, tìm hiểu nội tình của triều đình để tiện bề đối phó sau này, nên vui vẻ nhận lời. Khi lăng Thiên Thọ xây xong, Lê Chất liền mời Minh Mạng đến xem.


Thuyền rồng của Minh Mạng và Thuận Thiên Hoàng thái hậu lướt trên dòng sông Hương nước biếc. Sau khi thuyền cập bến, đạo ngự đi vào con đường hai bên trồng sầu đông lẫn thông. Gần đến khu lăng có những cột trụ biểu, đó là những cái cột dựng để báo cho mọi người biết sắp đến chốn tôn nghiêm không được chuyện trò huyên náo.


Cách bến đò 275 thước, con đường rẽ làm hai, ngả bên trái dẫn đến lăng Thiên Thọ. Nhìn từ xa đã thấy núi Thiên Thọ đứng sừng sững như vị chúa tể cả một vùng, làm án cho lăng tẩm, phía sau có 7 ngọn núi làm hậu án. Mỗi bên trái, phải có 7 ngọn núi làm “Tả Thanh Long” và “Hữu Bạch Hổ”. Lăng tẩm có cái thế “sơn hoàn thủy tụ”, ngoài những núi kể trên còn có hai hồ nước. Một hồ chảy ngang trước tẩm mộ và điện Minh Thành quanh quanh theo hình vòng cung uốn khúc rồi chảy đến một cái vũng hình vuông nằm trước Thoại Thánh (nơi chôn thân mẫu vua Gia Long) thì dừng lại. Hồ này vì hình dáng của nó nên được mệnh danh là Hồ Dài. Ngoài cái hồ, còn một cái suối Trường Phong, bao quanh núi Thiên Thọ, chạy dọc theo lăng đoạn sát nhập vào với Hồ Dài.


Điện Minh Thành xây trên núi Bạch, một trong mười bốn ngọn núi chầu về bên hữu của Lăng, dùng để thờ vua Gia Long và bà Thừa Thiên Cao Hoàng hậu. Điện không có gì là hoa mỹ, sườn nhà không sơn son thếp vàng, chạm trổ đơn sơ mà chắc khỏe. Điện gồm có hai ngôi nhà làm theo kiểu trùng thiềm (hai mái). Nhà chính bề dài hơn 22 thước, rộng 14 thước, ngôi nhà kia cũng cùng một bề dài nhưng chiều rộng chỉ 7 thước. Các tấm ván trang trí trong nội thất đều chạm trổ hình chữ “Thọ” và dây lá cách điệu chung quanh. Giữa điện treo tấm biển sơn son thếp vàng chói lọi, chạm trổ tinh vi, dành đặt thần chủ của vua Gia Long và Hoàng hậu, bên ngoài phủ một bức màn gấm bát tơ vàng.


Trong hai ngôi nhà củ điện Minh Thành, trưng bày hương án, sập thờ, bàn đọc chúc, những cây đèn kiểu cổ, những vật dụng hàng ngày: gối dựa, thau rửa mặt, cơi trầu, hộp thuốc…đặc biệt là bộ khôi giáp và đai của Gia Long.


Trước điện Minh Thành, một cái sân lát gạch giữa các con đường dũng đạo, sắc gạch nâu đậm để dễ phân biệt.


Hết sân này đến cửa tam quan hai tầng khá xinh đẹp, bên trong lối chạm trổ giống hệt như ở điện Minh Thành. Từ cửa tam quan có những tầng cấp đưa xuống sân chầu thứ hai, rồi lại có những tầng cấp đưa xuống sân chầu thứ ba. Hai bên có tường, giữa lát gạch. Lan can là những con rồng trương vi vẩy chạy dài từ trên xuống dưới. Tiếp theo cái sân, một con đường chạy ngang qua rồi về phía bên trái, một cái hồ bán nguyệt rộng, có những tầng cấp chạy thẳng xuống mặt nước với những con rồng trang trí hai bên.


Sân chầu trước lăng lát bằng thứ đá xám. Hai bên văn võ, voi ngựa đá, to lớn bằng thực, đứng dàn hầu.


Từ sân chầu lên trên thạch ốc là nơi dành chôn vua có đến sáu cái sân lát gạch, hai bên xây tường thấp. Sân dưới lên sân trên đều do những tầng cấp hai bên có rồng chầu, sân cuối cùng gọi là bái đình nơi dùng để lạy Vua trong những dịp cúng tế.


Thạch ốc bốn mặt có hai lớp tường vâykín, lớp tường trong hình vòng cung bao quanh, mặt trước trổ cửa. Lớp tường ngoài dày hơn, cao hơn, cách lớp tường trong chừng 3 thước và mặt trước có hai cánh cửa gỗ.


Hai huyệt mộ lộ thiên song táng theo quan niệm “Càn khôn hiệp đức”, cách nhau chỉ gang tay, được đào sẵn. Mộ bên tả dành để chôn vua Gia Long, mộ bên hữu dành để chôn bà Thừa Thiên Cao Hoàng hậu. Bửu thành này đặt trên ngọn đồi tên gọi Chánh Trung, bên ngoài lại còn một lớp thành hình móng ngựa chu vi phỏng ngoài 120 thước.


Từ sân chầu trước huyệt mộ đi về phía đông, đến nhà bia xây trên chóp núi Thanh. Từ dưới đất những tầng cấp đưa lên một cái sân thứ nhất rồi qua một cái sân thú hai nữa, ngắn và sâu hơn mới vào đến sân của nhà bia. Hai bên tầng cấp đều có rồng chầu. Nhà bia xinh xinh làm theo kiểu trùng thiềm. Bia bằng đá cẩm thạch sắc xám ẩn xanh chữ mạ vàng, khắc bài văn bia “Thánh đức thần công” của vua Minh Mạng viết, bốn bên có những đường chạm trổ mảnh mai và xinh đẹp. Cạnh nhà bia là miếu thờ thần Hậu Thổ. Trước điện Minh Thành, bên kia hồ Dài, dưới chân một ngọn đồi ẩn trong những lùm cây cổ thụ là ngôi đền thờ Thánh Mẫu.


Xem xét khắp khu lăng một lượt, Minh Mạng cùng Mẫu hậu đến làm lễ trước tẩm mộ của Gia Long và bà Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu.


Vua thưởng tiền cho quân lính và làm thơ để kỷ niệm.


Vua ra triều, khen ngợi Lê Chất về công lao đôn đốc xây dựng hoàn thành lăng Thiên Thọ.


Chất tạ ơn. Vua lại hỏi:


- Đức tiên đế sai đắp Trấn Hải để phòng giữ cửa bể Thuận An, gần đây vì sóng bể làm lở, muốn được vững chắc thì nên dùng cách gì?


Chất tâu:


- Tâu Bệ hạ, xin cho cắm nhiều cây bằng gỗ mà trong đổ gạch đá.


Vua cho là phải rồi giục Chất đi đốc suât việc sửa đắp đài Trấn Hải.


Biết tin, Diên Khánh công Tấn, con thứ bảy Gia Long, muốn kết thân với Chất để có dịp nhờ vả. Tấn mời Chất đến dự cuộc đánh bài chòi ở Phủ bà Thái trưởng công chúa Ngọc Du, chị của Gia Long, vợ góa của Hậu quân Võ Tánh. Vì thương Võ Tánh tử tiết, Gia Long hết sức chăm sóc, ưu đãi vợ con ông, nên bà Thái trưởng công chúa trở thành người rất có thế lực ở Kinh thành. Những kẻ gia thuộc của bà cậy thế bà ức hiếp người ta mà bà cũng chẳng ngăn cấm. Họ lại xui bà mở sòng bài chòi để kiếm lợi. Sòng của bà là sòng lớn nhất ở Kinh đô lúc bấy giờ.


Giữa một sân lát gạch Bát Tràng rộng rãi, chứa mười một cái chòi là mười một chiếc nhà cao cẳng, cao quá đầu người, đi lên bằng thang. Chòi ba mặt có phên, trước có treo sáo, ở trong trải chiếu, trên sàn lát tre. Mười một chòi được xây cất theo dáng chữ U, hai bên tả hữu đều chứa cân phân năm chòi, còn trong lòng chữ U (phía cong) chỗ dựng chòi trung ương có một nhà Lục Giác Đình, lợp ngói âm dương có sáu mặt, cấp đá Thanh đưa lên sân thượng, để Ban Trị Sự điều khiển sòng bài ngồi, và để các khách sang trọng đến ngồi xem chờ đợi hội bài rất thuận tiện và trang trọng.


Hai bộ bài, mỗi bộ 30 con, được dán vào những thẻ tre to lớn, bào mỏng nhuộm cùng một màu, đều đặn như nhau, để khi úp sấp lại không thể đoán biết con bài gì. Mỗi bộ bài được bỏ vào miệng một ống gỗ to sâu đủ đựng 30 con bài tre, lút gần ngập đầu.


Theo ba hồi trống của Ban Trị Sự, người đánh cùng gia đình hoặc thân thuộc, bạn bè, đến lựa chiếm các chòi mình ưng ý theo chiều gió hoặc theo ánh nắng mặt trời. Khi tất cả người chơi lên chiếm cứ mười một chòi xong, một hồi trống khác cho đi thâu tiền. Thí dụ mỗi chòi đưa ra 10 quan tiền, mười một chòi thành được 110 quan. Ban Trị Sự sẽ tổ chức cho được 10 ván bài, để trả lại cho mỗi chòi trúng 10 quan, còn lại 10 quan là tiền xâu để trả tiền phục dịch, phụ phi, công lao tổ chức...


Một hồi trống báo hiệu chia bài. Hai người phục dịch đến nắm hai ống bài đưa lên quá trán và bắt đầu từ hai đầu chữ U mà đi vào, ngang chòi nào ngừng lại đưa lên cao, chủ chòi thò tay ra chỉ lấy may rủi 5 con bài không được lựa chọn. Hết chòi này đến chòi khác. Cứ đi đến đều mà cũng như cân nhau, để khi đến chòi trung ương thì hai người phục dịch cũng gần đến ngang nhau đưa cao lên cho chủ chòi trung ương thò tay ra lựa hoặc ống này hoặc ống kia, sau khi chia 11 chòi, chỉ còn 5 con bài cuối cùng, sẽ đưa về cho Ban Trị Sự.


Ống bài còn lại nguyên vẹn 5 con, không biết là con gì. Ban Trị Sự gióng trống, 11 chòi nhìn ra để xem xét tránh khỏi gian lận. Một người phục dịch chạy đến bỏ sấp 5 con bài kia ra giữa bàn rồi may rủi nắm cao lên một con. Anh ta đã biết là con gì, nhưng vẫn dấu kỹ làm vẻ bí mật rao lên một sự tích lịch sử hoặc một câu ca dao, một câu hò hát nhắc lại một câu chuyện xảy ra giữa xã hội dính líu với tên con bài. Đại loại rao: Nàng dâu để trở mụ gia, Bận quần lãnh tía lại tra lưng điều, anh ta mới nói to: đây là con Đỏ mỏ.


Lệ đánh bài, mỗi chòi chỉ đánh có 2 con thì còn lại 1 con là chờ. Ai được trúng con ấy là tới. Mỗi khi trúng thì trên chòi có để sẵn một chiếc mõ tre. Khi người chủ chòi gõ vào hai tiếng rời rạc, người đem con bài vừa rao đến cho người chòi ấy và đồng thời lấy một con bài mới của chủ chòi giao cho thì người rao phải rao to lên. Cứ thế tiếp tục cho đến khi trúng con bài chót là con thứ ba là tới. Khi tới, chủ chòi đánh một cách khác nghĩa là không phải hai tiếng rời rạc, mà là tiếng mõ liên thanh báo hiệu vui mừng. Người rao bài chạy đến lấy tất cả 5 con bài, rồi rao to lên: “Trúng con Tám tiền, rồi trúng con rún, sau trúng con Tám dậy là tới!”.


Ban Trị Sự đánh trống để hưởng ứng sự vui mừng của chủ chòi vừa được tới, và cũng báo hiệu cho người chạy bài biết để đến bàn lãnh khay tiền, cờ và một phong pháo để khi đến giao tiền và cờ thì đốt pháo chào mừng cho chủ. Chủ cũng lại nhã nhặn đãi ngộ bằng cách lì xì một vài tiền nhiều hơn tiền pháo để thưởng người rao.


Trong lúc sòng bài vui nhộn thì có người hầu vào báo có Diên Khánh công và quan Quận công Hậu quân họ Lê đến. Theo sau là một toán lính hầu và gia nhân. Quân công Hậu quân đội mũ võ, mặc áo màu hỏa hoàng rực rỡ, thắt lưng điều bỏ giọt, chân đi hia. Diên Khánh Công quấn khăn nhiễu tím, mặc áo gấm xanh lông két, chân đi hài thêu. Quan Khinh xa đô úy Võ Khánh, con bà Thái trưởng công chúa vội ra đón hai vị khách vào ngồi ở Lục Giác Đình.


Tấn vào bái kiến cô là bà Thái trưởng công chúa xong rồi ra sân, liếc xem các chòi.Chất khi mới theo quân Nguyễn đã làm việc dưới quyền Võ Tánh nên đã biết Võ Khánh từ hồi anh ta còn nhỏ, nên chuyện trò với Khánh rất thân mật. Sòng bài chòi hôm ấy trở nên hào hứng, nhộn nhip từ trên các chòi cũng như giữa sân, quân lính chạy đi chạy lại lính quýnh tay chân, nhưng Tấn và Chất vẫn vui vẻ dạo quanh sân. Ban Trị Sự sắp đặt cho người ta nhượng lại hai chòi đầu sân cho hai vị khách quý, hai người cũng nhận chơi nhưng chỉ ngồi ghế bên cạnh không lên chòi như mọi người.


Chất lấy 5 con gà, trò, xơ, trường ba, ông ầm, rồi ngồi chờ tiếng rao đi chợ của người chạy hiệu. Phát xong các quân bài, anh hiệu đằng hắng một tiếng rồi hô: “Hai bên lẳng lặng mà nghe con bài đi chợ: con xơ... ơ...”. Ủa, hình như mình đang cầm con xơ trên tay, Chất nhìn lại những quân bài của mình rồi hô lên: “Xơ đây... y... y” và rút thêm con trò để đi tiếp. Anh hiệu chạy lại phía Chất, đón hai quân bài từ trên tay Chất bỏ vào ống tra xóc xóc rồi rao:


Đi mô ôm tráp đi hoài,


Cử nhân chẳng thấy, tú tài cũng không... là học trò.


“Trò đây, trò đây…” giọng một mệ già khàn khàn lên tiếng từ chòi phía sau. Anh hiệu lại hấp tấp bước về phía đó trong tiếng trống bập bùng, tiếng đờn cò réo rắt, rồi lại rao:


Rủ nhau đi đánh bài chòi,


Để cho con khóc mà lòi rún ra... là con rún.


Lần này trúng con bài của Tấn. Tấn đánh mõ bảo chưa chịu là hay, bắt phải rao lại. Người rao lè lưỡi vì chưa bao giờ anh ta bị bắt bẻ như hôm nay, mọi lần khi rao câu ấy thì cả sân đều cười như nắc nẻ. Người rao buộc lòng phải rao tiếp:


Gái quốc sắc khiến cho anh hùng phải lụy,


Lâm trận đồ hà úy tử sinh.


Phận hồng nhan như hoa nở trên cành,


Màu son sắc bao nhiêu người phải lụy,


Khiến cho anh hùng táng lý đào ba.


 Mối tình duyên đằm thắmđậm đà,


Duyên của bạn đã bao người nghe thấu,


Vì chân tình em bậu mến thương.


Anh biết em đây nhưng tâm bạn chưa tường,


Rõ ra mới biết để thương bạn tề.


Bạn là cô gái đồng quê,


Lời ra “Năm rún” dễ bề yêu thương... là con Năm


rún.


Tấn đánh mõ cho là tạm được, và khuyên nên đặt lại câu rao cho được văn hoa thêm để làm vui sòng bài. Anh hiệu lại xóc xóc con bài rồi rao:


Mình vàng bận áo mã tiên,


Ngày ba bốn vợ tối nằm riêng một mình... là con


ba gà.


Lại trúng con bài của Chất. Nghe tiếng hô của Chất, người chạy hiệu vội chạy về phía Chất nhận hai con bài ông đưa cho rồi rao tiếp câurao về con ầm ông vừa đưa.Cuộc chơi cứ tiếp tục. Chất cầm cao bài “chực” trên tay để chờ “tới”. Đang mải mê suy nghĩ chợt ông nghe:


Vợ lớn đánh vợ nhỏ


Vợ nhỏ chạy ra ngoài cửa ngõ, ngẩng cổ kêu trời


Ới anh ơi nhất phu lưỡng phụ ở đời đặng đâu... là


con trường ba.


“Tới rồi...!” tới... r... rồ... i!” Chất mừng rỡ kêu lên, tay cầm con bài vẫy vẫy quên cả việc gõ mõ để báo tin. Người chạy hiệu lật đật bưng khay tiền và một lá cờ đuôi nheo đến cho ông, không đợi ông cầm dùi gõ mõ báo tin. Chất nhận cờ giắt lên mái chòi cho nó bay phần phật trong làn gió xuân ấm áp. Người chạy hiệu đốt pháo mừng ông, trong khi có anh hiệu cầm 5 con bài của ông hô lên: “Đi một lá con trò, một lá ba gà, tới con trường... ơ ba!”. Hai người phụ việc đi tới từng chòi thu bài, trộn lẫn với nhau, rồi lại phát bài cho các chòi, Anh hiệu hô lên con bài đi chợ để bắt đầu một ván mới.


(còn tiếp)


Nguồn: Vua Minh Mạng. Tuyển tập truyện lịch sử của Hoài Anh. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 27.05.2017
Evghenhi Ônheghin - ALEKSANDR Sergeyevich Pushkin 15.05.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 11.05.2017
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 08.05.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 05.05.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
Hà Nội xưa và nay - Bạch Diện Nguyễn Văn Cư 04.04.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
xem thêm »