tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21085558
Tiểu thuyết
31.03.2009
Triệu Xuân
Trả giá

Ông Hòa có người bạn rất thân là Tư Phương vừa từ Đà Nẵng chuyển vào Sài Gòn, là phó tổng giám đốc Liên hiệp Chế biến Thủy sản Xuất khẩu. Tư Phương cùng với bạn của mình là Hai Trung đã giới thiệu cho ông Hòa năm người, trong đó có kỹ sư Trầm. Sự giới thiệu của bạn, ông Hòa coi là đảm bảo tin cậy nhất. Vì thế ông quyết định nhận Trầm. Quyết định này nảy sinh sau cuộc nói chuyện giữa ông với Trầm.


     - Ra giàn khoan lao động tạp dịch và nấu ăn. Cậu là kỹ sư, có chấp nhận những việc ấy không?


     - Thưa ông giám đốc, ông đã nhận tôi, tức là ông tin ở tôi. Con người, nếu được tin cậy thì việc gì cũng làm được. - Trầm nhìn thẳng vào mắt Hòa trả lời.


     - Ồ! Tuyệt lắm. Nhưng... thế này nhé. Bỏ lối xưng hô “Thưa ông giám đốc” đi. Mình là phó giám đốc, năm nay bốn mươi tám tuổi. Cậu ba chục phải không? Thế thì tại sao lại không xưng hô như là anh em nhỉ? Mình thích bạn bè, tình cảm, Trầm ạ.


     - Dạ. Cám ơn anh. - Trầm thoáng đỏ mặt khi nói từ “anh”.


     - Thế, được đấy. Bây giờ tôi hỏi thật cậu, cậu có thể làm được những gì, và cậu thích làm gì?


     - Thưa anh, tôi học cùng một lúc hai trường: khoa kinh tế của Đại học Luật và trường Đại học Kiến trúc. Năm 1973, tôi nhận hai bằng: kỹ sư kinh tế và kiến trúc sư. Nhưng... bằng cấp chỉ là cái giấy chứng nhận có nghề thôi, anh Hòa ạ. Nghề của tôi là thế, tùy anh, anh giao cho tôi việc gì tôi cũng làm được. Tôi thích lao động sáng tạo. Từ tháng năm năm 1975 đến nay, tôi rất khổ tâm vì mình như người thừa. Có tri thức mà không được ứng dụng thì vô bổ. Tôi có thể làm công tác quản lý cũng được, trực tiếp thi công cũng được. Tôi mê cả hai.


     - Cậu biết tiếng Anh từ năm nào?


     - Tôi rành cả hai tiếng Anh, Pháp từ khi học xong lớp mười hai. Tôi rất ham học, anh ạ. Ba tôi đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học. Còn tôi, tôi đã không lãng phí cơ hội ấy một phút nào.


     Mình có trong tay một cục vàng ròng rồi đây! Ông Hòa thầm cám ơn Tư Phương và Hai Trung. Ông nói với Trầm:


     - Thế này nhá! Liên hiệp Dịch vụ Biển đang có hai nhiệm vụ quan trọng phải tiến hành song song: Một là làm dịch vụ cho các công ty khoan tìm dầu; Hai là xây dựng gấp rút cơ sở vật chất để kinh doanh du lịch. Tôi sẽ đề nghị giám đốc giao cho cậu phụ trách phòng dịch vụ hoặc là phòng xây dựng cơ bản. Cậu thấy thế nào?


     Trầm thẳng thắn:


     - Tôi chỉ mong được làm việc với anh, vì anh nhận tôi vào, anh tin tôi. Tôi sẽ cố gắng để không phụ lòng anh. Hãy để tôi ra giàn khoan lao động một thời gian. Sau này, nếu cần, anh hãy rút tôi về đất liền.


     - Ra làm lao công, lãng phí năng lực của cậu.


     - Không! Tôi cần chứng tỏ năng lực ở bất cứ nơi nào. Tôi biết, anh chưa tin tôi ngay đâu. Phải qua lao động, qua thử thách, người ta mới hiểu nhau, đúng không anh? Mặt khác, tôi cũng muốn ra giàn khoan. Tôi cần học hỏi ở đó. Công cuộc tìm dầu mới bắt đầu. Tôi nghĩ là, sau này, biết đâu chính tôi sẽ làm việc ấy.


     - Ồ! Hay quá.


     Thế là Trầm ra giàn khoan làm tạp dịch. Nhờ thông thạo tiếng Anh, tiếng Pháp, lại có trình độ vào loại xuất sắc, Trầm chiếm được cảm tình của giám đốc giàn khoan. Một công ty đề nghị Trầm làm việc cho họ với mức lương hai mươi ngàn đô la một tháng, nhưng anh thẳng thắn cự tuyệt.


     Ở Vũng Tàu, người ta không tin Trầm. Vấn đề lý lịch sẽ còn làm anh khổ nhiều.


*


*    *


     Ngày...


     Hai con Đước, Trầm yêu quí của ba!


     Ba để lại thư này cho hai con rồi ba phải ra đi! Ba không ngờ hòa bình rồi mà đất này lại không lành cho chim đậu. Cách nay hơn bốn chục năm, ba má đã một lần rời bỏ quê hương miền Trung đầy đau thương, ra đi tìm nơi sinh sống. Còn bây giờ, ba biết đi đâu?


     Ba không thể, không thể rời mảnh đất đã nuôi sống ba má, mảnh đất mà hai con đã lần lượt chào đời, mảnh đất mà má con đã vĩnh viễn nằm xuống từ năm năm chín đến nay...


     Ông Lê Văn Hải, tức Hai Mắm, tức “tên tư sản mại bản” như biên bản tịch biên toàn bộ tài sản trong hồ sơ cải tạo ghi rõ, gục xuống bàn, không viết tiếp được nữa. Nước mắt rơi lã chã trên trang thư viết dở dang. Trước mắt ông vụt hiện lên hình ảnh của Hường, người vợ tuyệt vời của ông đã bị kẻ thù sát hại. Hiện lên hình ảnh của Đước, đứa con trai đầu, cao to vạm vỡ y hệt ông thời trẻ. Lần ông ra Côn Đảo thăm con, con ông đã dùng tàu hải quân đưa ông đi một vòng quanh đảo. Ông đã góp ý với con trai: Nếu chỉ huy bộ đội làm kinh tế thì phải biến Côn Đảo thành cơ sở dịch vụ nghề biển. Ông nhớ đến Trầm, đứa con học giỏi, thông minh và rất hồn nhiên... Giờ này các con ông không có ở đây. Chỉ có một mình ông. Ông phải tự quyết định lấy; giống như trong suốt cuộc đời từ khi rời bỏ bờ biển miền Trung trên chiếc thuyền đánh cá có lá buồm to nhất lúc bấy giờ. Ông quyết định ra đi...


     Toàn thân ông run lên trong nỗi đau đớn, xót xa vì nhớ vợ con, lo lắng cho số phận hai đứa con; vì thất vọng trước hiện thực. Ông thấy mình đã ảo tưởng quá nhiều.


     Ông ngồi lặng đi hồi lâu, mắt nhìn như thôi miên vào bức sơn mài vẽ cảnh sông lạch Nam Bộ với chiếc ghe chài, y như chiếc ghe mà vợ chồng ông đã dọc ngang khắp miền rừng đước những năm đầu lập nghiệp. Đây là quà tặng của ông dành cho con trai út, khi con ông nhận cùng lúc hai bằng đại học. Ông Hải lau nước mắt, viết tiếp lá thư cho hai con. Ngày xưa, khi còn chiến tranh, ông tin sắt son vào ngày quê hương hòa bình. Sao ngày ấy ông giàu niềm tin thế? Còn bây giờ... Cách đây mấy tiếng đồng hồ, ông nhận được tin người bạn của ông, cũng là chủ một xưởng đông lạnh, đã treo cổ tự tử.


*


*    *


     Con sông Cái chảy tới đây thì hòa vào ngã năm tạo nên một vùng sông nước mênh mông, cuộn sóng, quanh năm đậm đặc phù sa. Một trong những con sông nhỏ bắt nguồn từ ngã năm này đi sâu vào rừng đước phía Tây Nam. Trong cuộc hành trình từ đây ra đại dương, nó lại thâu vào lòng hàng trăm, hàng ngàn sông, lạch, xẻo, rộc... chi chít như mạng nhện. Còn cách biển chừng nửa giờ nếu đi bằng ghe chèo tay, sông đột ngột uốn cong mình như đuôi tôm, hướng dòng chảy về phía tay phải. Ở đoạn cong đuôi tôm ấy có một nhánh sông xuyên qua rừng đước, đi qua một khóm dân cư, rồi nhập vào một dòng sông nhỏ ở phía bên kia.


     Khóm dân cư ấy là ấp Xẻo Đước có năm chục nóc nhà làm bằng cây đước. Thuở mới ra đời, ấp Xẻo Đước chỉ có độc một gia đình ông Hải. Gọi là gia đình vì có chồng và vợ. Lê Văn Hải năm ấy hai lăm tuổi, vợ mười sáu. Họ thương nhau rồi ở với nhau chứ Hải lúc đó nghèo lắm, tiền đâu mà cưới hỏi. Hai anh chị cùng một cảnh ngộ: mồ côi cả cha lẫn mẹ. Cha của Hải và cha của Hường là bạn từ nhỏ, là hai tay lái kiệt xuất, đi biển giỏi nhất vùng; đặc biệt là tài săn cá mập. Nhưng làm được bao nhiêu, họ bị địa chủ biển vơ vét hết. Gia đình họ đã mấy đời ở đợ, làm mướn, ngoài sức và tài ra, không có một cắc làm vốn. Khắp miền biển Qui Nhơn hồi đó, ai nghe đến tên lão chủ biển Tài Phú cũng phải khiếp sợ và căm thù. Lão càng giàu, càng tham lam, độc ác và dâm dục. Những chàng trai đi biển, có vợ trẻ ở nhà thường bị lão lẻn đến cưỡng hiếp.


     Năm ấy, tự nhiên có nhiều cá mập tụ về biển Đông. Tất cả dân chài làm thuê cho Tài Phú phải bám biển suốt ngày đêm. Câu cá mập là công việc nguy hiểm nhất trong nghề biển. Cá mập thường ở vùng biển rất sâu, rất xa bờ, đáy biển thường cuộn lên những vực xoáy, những cơn bão cấp kỳ. Thuyền của cha Hường bị một con cá mập cực lớn mắc câu, cuốn đi như tên bắn. Ông bình tĩnh lái thuyền theo hướng lao của con cá, tránh những đợt sóng trái chiều. Con cá mập cứ tha chiếc thuyền phóng ra khơi. Sáu người trên thuyền chóng mặt, trừ thuyền trưởng là cha của Hường. Lúc đó Hường chưa ra đời. Vừa lái thuyền, ông vừa nghĩ đến người vợ trẻ bụng mang dạ chửa, sắp tới ngày sinh, phải kiếm được chút tiền cho vợ nuôi con chứ! Thấy thuyền của bạn có nguy cơ bị cá lôi xuống đáy biển, Sơn là cha của Hải - lao thuyền đến tiếp cứu. Ông gào lớn: “Chặt đứt dây câu ngay! Chặt đứt dây câu ngay!”. Bỏ dây câu, là bỏ cá để cứu thuyền và người. Tiếng kêu gào ấy không tới được tai bạn. Con mập mang trên mình nó ba mũi lao; sau gần hai giờ vùng vẫy đã đột ngột phóng thẳng lên trời, cách mặt nước tới hai mét, rồi cắm đầu lao xuống đáy biển, cuốn theo chiếc thuyền bé nhỏ và bảy chàng trai dũng cảm.


     Không tìm được xác một người nào.


     Thuyền trưởng Sơn đau xót cho thuyền trở về. Trên thuyền có hai mươi bốn con cá mập, nhưng mặt người nào cũng hằn sâu nỗi tiếc thương và khủng khiếp. Nghe tin chồng chết, Trúc ngất xỉu đi. Khi tỉnh dậy, cô trở dạ sinh được bé gái tên Hường, rồi bị băng huyết. Mười ngày sau cô cũng theo chồng.


     Cả tuần liền, họ căng mắt tìm xác người xấu số, nhưng vô vọng... Rồi đến lượt họ. Từ năm Sơn mười ba tuổi theo cha đi ra khơi, chưa khi nào câu được nhiều cá mập như chuyến này. Thuyền của Sơn đầy ắp cá mập, hơn bốn chục con, căng buồm về đất liền. Đột ngột, họ đến vùng biển lặng như mặt gương. Mặt Sơn biến sắc. Anh chưa kịp nói gì với mọi người thì một cột nước khổng lồ xoáy từ đáy biển lên và bất thần chụp xuống thuyền của họ...


     Hai người theo sóng dạt vào bờ, một người đã chết, người kia còn thoi thóp, đó là Sơn. Hải lúc ấy mới chín tuổi, ôm lấy cha, răng cắn chặt vào môi, ứa máu, mắt ráo hoảnh. Sơn thều thào với con:


     - Mẹ con chết khi đang mang bệnh nặng mà đói cơm, không thuốc. Lúc ấy con mới lên ba. Nay ba không sống được mà nuôi con, con phải ở đợ cho nhà Tài Phú, ba lo cho con lắm. Ráng một vài năm con cứng cáp rồi tìm nơi khác mà sinh sống. Dắt cả bé Hường đi. Đất này... không... sống... nổi… đâu...


     Nói đến đấy, máu từ mũi và mắt trào ra, Sơn tắt thở.


     Đó là năm khủng khiếp nhất ở vùng biển này. Bé Hường sống được nhờ sữa của những người dân chài nghèo khổ. Cô bé sống vất vưởng bên bãi biển, trong sự chăm sóc của xóm chài, của Hải. Khi Hường bước vào tuổi mười lăm thì cô đã là một thiếu nữ xinh đẹp nhất vùng. Năm đó Hải hai mươi tư. Anh thừa kế ở cha lòng dũng cảm và tài nghệ trên biển. Anh được lão Tài Phú giao chiếc thuyền mới, có cánh buồm lớn nhất vùng. Một hôm, từ ngoài khơi về đã mười giờ đêm, Hải nghe tiếng la thất thanh của Hường:


     - Bớ bà con! Cứu tôi với! Cứu tôi...


     Thì ra lão Tài Phú mò đến túp lều của Hường toan cưỡng bức cô. Cô chạy thoát ra ngoài đúng vào lúc Hải về tới. Lòng căm uất tên địa chủ dồn nén bấy lâu, nay bùng dậy, Hải trói chặt chân tay hắn vào gốc cây dương sát mép biển, tống giẻ vào họng hắn. Ý định trốn đi đã nảy nở trong đầu anh ngay từ khi anh nhận chiếc thuyền mới. Anh rút dao định kết liễu đời tên chủ bạo tàn. Hường ngăn lại:


     - Đừng, anh! Người nhà nó sẽ truy tìm mình, khó bề thoát, anh à.


     Hải nghe lời Hường. Anh nắm tóc lão Tài Phú, dõng dạc:


     - Nghe đây, tao tha mày lần này. Từ nay bỏ thói tàn ác, dâm dục đi. Nếu không, tao sẽ về hỏi tội mày!


     Nói rồi, anh nhổ vào mặt hắn, phủi tay ra đi. Được mấy bước, anh nghĩ: “Trong lưng không có một đồng bạc, lấy gì sống?”. Hải quay lại, giật mấy chiếc nhẫn đeo ở hai bàn tay lão Tài Phú:


     - Đồ này của dân nghèo chúng tao làm nên. Đâu phải của mày!


     Hải nói thế, nhưng anh lưỡng lự. Anh nhìn mấy chỉ vàng trong lòng tay, rồi quả quyết quăng xuống chân tên địa chủ. Anh nhổ nước miếng vào nó rồi đi! Trong óc anh vang lên lời trăn trối của cha: “Đất này... không sống... nổi... đâu... Dắt cả bé Hường đi...”.


     Hai người mau chóng thu dọn mấy chiếc áo rách, cái nồi đồng duy nhất trong nhà và con dao của Sơn để lại. Gà gáy canh ba, họ ra bến. Hải ẵm Hường lên thuyền, lặng lẽ rời bến. Anh nhìn lại dải bờ biển đầy cay đắng, cực khổ và căm hờn. Thuyền Hải căng buồm tiến về hướng Nam. Đó là lá buồm lớn nhất ở vùng này thời bấy giờ.


     Họ đi mất nửa tháng trời thì tới mũi đất cuối cùng của Tổ quốc. Đúng là nơi cuối đất cùng trời. Vừa đi, họ vừa đánh cá; dùng cá tôm đổi nước ngọt, lương thực và thực phẩm. Có đủ lương ăn, không phải mua dự trữ nữa thì họ bán lấy tiền. Tuần đầu tiên trên biển, họ vẫn là họ. Nhưng đến ngày thứ tám, Hường bị sốt cao, mê man hai ngày liền. Cô chưa đi biển xa bao giờ. Đây là chuyến đi biển dài nhất, sức cô chịu chưa thấu. Hải lấy bong bóng cá đường nấu cháo cho Hường ăn. Ngày thứ mười trên biển, Hường bình phục.


     Đêm hôm ấy, họ tới một hòn đảo nhỏ và neo thuyền tại nơi khuất gió. Ăn uống xong, mỗi người lại nằm một góc, quấn quanh mình tấm bao tời đã rách nát. Nhưng không ai ngủ được. Cả hai cùng đang nghĩ về nhau. Bấy lâu nay họ sống với nhau như anh em. Hường không biết mặt cả cha lẫn mẹ. Hải còn nhớ như in gương mặt của cha mình và cha mẹ của Hường. Đã bao lần Hường bắt anh kể về cha mẹ, về bác Sơn, về tuổi thơ côi cút của mình. Hải thay cha lẫn mẹ chăm nuôi Hường từ tấm bé. Từ năm mười tuổi, Hải đã biết vừa ẵm em vừa làm đủ mọi việc trong nhà Tài Phú. Đêm về, hai anh em chui vào ngủ trong túp lều sát mí biển. Túp lều nằm giữa cồn cát trắng mênh mông. Năm tháng trôi đi cùng bao nhiêu tủi cực, Hải đã nuôi nấng bé gái mồ côi thành thiếu nữ. Nhưng quả tình, anh chưa hề có mảy may một ý tưởng nào khác. Tự nhiên như máu thịt, Hường, cô gái mà anh rất thương, anh tự ý thức được mình là trụ cột để Hường tựa. Nhất là sau cái đêm Hường thoát khỏi tay tên Tài Phú và hai người trốn đi.



(còn tiếp)


Nguồn: Trả giá. Tiểu thuyết của Triệu Xuân. NXB Văn Nghệ TP Hồ Chí Minh in lần đầu và lần thứ hai năm 1988. Các NXB Văn học, NXB Hội Nhà văn tái bản nhiều lần. Bản điện tử này theo bản in lần thứ 8 của NXB Văn học, năm 2007.


www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
xem thêm »