tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21087591
Tiểu thuyết
30.03.2009
Hoài Anh
Vua Minh Mạng

Nghe lời khuyên của Phạm Quý Thích, từ đó Minh Mạng rất thận trọng trong việc sát hạch quan lại.


Lê Văn Liêm được Thự tiền quân Trần Văn Năng tiến cử làm Tri phủ Ninh Giang, bộ Lại đưa vào bệ kiến, vua xét hỏi. Liêm đáp là ít học. Vua nói:


- Tri phủ giữ chính lệnh trong một phủ, không học thì không rõ luật lệ, lỡ khi xử đoán sai lầm thì pháp luật khó dung, như thế là làm hại chứ không phải là yêu.


Rồi vua không cho Liêm được bổ dụng.


Kinh thành nhiều lần có nạn trộm. Việc đến tai Minh Mạng, nhà vua sắc rằng quân dân hễ ai bắt được trộm thì hậu thưởng. Sắc vừa mới ban ra, gặp ngay có người bắt được kẻ cắp. Vua bảo bầy tôi rằng: “Ăn cắp tuy là tội nhẹ, nhưng giữa ban ngày mà dám ăn cắp ở chốn Đại đô là rất khinh miệt pháp luật. Bọn vô lại khinh phạm hiến chương như thế, tha thì rút cục cũng không chừa, cũng vô ích”. Bèn sai chém để răn. Vua lại hạ lệnh cho Quảng Đức(1) từ nay về sau ở đâu có trộm cắp xảy ra, lân bang phải kịp đến cứu ứng, bắt giải lên quan, làm trái thì có tội.


Một trong những thú chơi mà Minh Mạng ghét nhất là hút thuốc phiện. Hồi thiếu thời ông đã chứng kiến cảnh người nghiện khi còn “phong lưu”, quanh chiếc đèn pha lê, chuyền nhau chiếc tẩu cán bằng ngà, câu chuyện nở như bắp rang, tán tụng cái say đi mây về gió của nàng là tiên câu. Chẳng bao lâu nghiện quá lậm, muốn rút ra không xong, mà tiền của cho đến ruộng trâu đều thi nhau chui vào xe lọ. Cơn nghiện lên, hút phải thêm sái vào, thêm ít rồi thêm nhiều mãi mãi. Nuốt sái cho đã nghiện, người càng ngày càng sút. Đến lúc phải uống chè xan ngâm sái thì người như không còn thịt cũng không còn hồn nữa, thế lế hết!


Truy nguyên ra, Minh Mạng biết thuốc phiện từ tàu Anh chở sang Hạ Môn rồi từ Hạ Môn do bọn buôn thuốc phiện lậu chở sang ta. Cứ cái đà này thì của nước ta mỗi ngày một cạn mà dân ta dần dần hóa thành dân bẹp tai hết, không có người đủ sức cầm gươm súng đương đầu với nạn ngoại xâm. Âm mưu của bọn thực dân phương Tây là muốn đầu độc cho giống nòi mình ngày càng suy nhược để chúng dễ bề lấn hiếp, cướp đoạt. Ông liền làm bài thơ miêu tả cuộc chiến đấu “oanh liệt” của một dân làng bẹp:


Không hút không ngon, hút biết ngon,


Hèn chi thiên hạ tiếng hẵng đon.


Ngoạn đèn oanh liệt cây đồng vắn,


Trận khói tưng bừng tiếng súng con.


Nệm chiếu ngửa nghiêng cùng bạn tác,


Mặt mày tỏ rõ với sông non.


Cõi Tây sớm mở đường qua lại,


Túi Nguyễn quên coi của hết còn.


Để cho thần dân tránh cờ bạc, hút xách, Minh Mạng dụ rằng: “Thuốc phiện là thứ thuốc độc tự nước ngoài đem lại, những phường du côn, lêu lổng mới hút cho là phong lưu, rồi chuyển thành thói quen, thường xuyên nghiện mà không thể bỏ được. Quan thì bỏ cả chức vụ, dân thì bỏ hết sản nghiệp, thậm chí gầy mòn thành tật, tổn thương cơ thể sinh mệnh, nên bàn để nghiêm cấm đi”.


Đình thần bèn tâu: “Không kể quan hay dân, ai dám hút thuốc phiện và cất giấu mà nấu nướng luôn bán, thì xử tội đồ(1). Ai bắt được mà tố cáo thì thưởng 20 lạng bạc. Cha anh không ngăn cấm con em, xóm giềng biết mà không to giác, đều bị xử trượng(2).


Lời nghị tâu lên, Minh Mạng sửa là quan chức có phạm thì phải cách chức còn các điều khác thì theo lời bàn mà thi hành.


Sau lại ra nghị định, phàm các thuyền công đi ngoại quốc nếu có đem thuốc phiện về, thì chuẩn cho quan địa phương lập tức bắt tâu lên, nếu ẩn giấu sẽ bị nghiêm phạt.


Người tố cáo bắt thuốc phiện, cứ theo tang vật bắt được nhiều ít làm mực mà thưởng tiền bạc. Mỗi khi tang vật của phạm nhân đưa đến làm án, thì quan địa phương phải lập tức xét cho minh bạch, mà cấp phát tiền thưởng ngay. Còn các viên giữ đồn cửa sông cửa biển, có bắt được tang vật của kẻ phạm, tuy là phận sự phải làm, nhưng cũng theo lệ thưởng cho nửa phần tiền. Nếu nhận tiền đút lót tha ra, truy cứu đủ nguyên do, thì cũng chịu tội như kẻ phạm.


*


Vừa mới lên ngôi, Minh Mạng đã xuống chiếu cho các địa phương năm ấy được giảm các khoản tiền thóc thuế đinh, thuế điền và thuế sản vật cùng các món thuế trước còn thiếu lại, những nơi ruộng công, trại công mà dân làm tá canh không được hưởng lệ xóa thuế, nhưng cũng giảm cho một nửa. Lại qui định từ nay mỗi năm cứ đến ngày đầu xuân đều có xuống chiếu ân giảm thuế má và dao dịch, để làm thường lệ.


Nơi kinh đô giá gạo đắt, vua khiến các quan doanh Quảng Đức, hỏi xem dân gian có ai xin cấp phát thì lấy gạo kho giảm giá mà chu cấp. Về sau các địa phương có báo cáo về giá gạo đắt, hoặc bị gió mưa, đại hạn, lụt lội, mọi tai ương, thì khiến viên chức phát muối, gạo, tiền, thóc ra cung cấp hoặc cho vay.


Thấy các cửa bể hay gặp tai biến, vua xuống chiếu:


“Nay đường biển gian nan, hiểm nghèo, sóng gió nổi lên không lường được. Gần đây các quan quân và dân chúng, hoặc đi công vụ, hoặc đi buôn bán mạo muội vào chỗ hiểm nghèo, nơi biển sâu, đều là sự bất đắc dĩ. Hoặc ngẫu nhiên gặp nạn có sóng gió, còn sống thì không nơi nương tựa, mà chết thì ai là người chôn cất. Trẫm rất lấy làm thương xót, nên truyền cho các địa phương giữ các cửa bể phải dự trữ tiền gạo phòng khi có người gặp nạn sóng gió, thì chiếu việc công việc tư phân hạng mà cấp phát”.


Khi có gió bão ở Định Tường, người và thuyền đi trên sông phần nhiều bị chìm đắm. Quan trấn đem việc ấy tâu lên. Vua khiến chiếu theo lệ cấp phát, cũng như nạn sóng gió ở bể khơi. Từ sau lấy đấy làm định lệ.


Minh Mạng giảm cho xã Nga My trấn Thanh Hóa những khoản thuế về điền thổ của những dân lưu tán. Lại đặt lệ từ nay ruộng đất của dân lưu tán mà bỏ hoang, thì viên chức sở tại xét tâu lên, đều được miễn thuế.


Nghe tin dân Quảng Trị phần nhiều bị cảnh điêu linh thiếu thốn, vua sai Thiêm sự Hoàng Quốc Bảo, Thị hàn Hoàng Sư Dĩnh đến tận nơi hỏi han, bọn ông Bảo đem tình trạng khổ cực của dân tâu lên. Vua truyền mở kho thóc, giảm giá cấp phát cho dân. Thóc một hộc trị giá 8 tiền, binh lính và dân được một hộc, những người góa bụa, cô độc được một nửa.


Vua lại chuẩn y đề nghị của đình thần, phàm các doanh hạt mà số người và nhà cửa phải lưu tán, được miễn thuế và sai dịch, để cho dân được thư thả lúc cấp bách.


Quan bộ Công tâu lên, xin việc đầu tiên là thu thuế rừng cây ở tỉnh Quảng Trị.


Vua dụ rằng: “Năm nay các sắc thuế về sản vật, trước đã được giảm xá. Nay mực viết tờ chiếu chưa khô, mà lại khiến trưng thu, lấy gì để giữ tín với dân chúng, nếu có sự thiếu thốn không đủ chi dụng thì lấy của công mà dùng”.


Sơn Nam, Kinh Bắc hai nơi, dân gian đói kém. Vua bèn khiến xuất thóc kho ba vạn hộc ra phát cho vay.


Vua giảm cho xã An Lãng thuộc Sơn Nam số thuế những ruộng đất bị lở, hoặc bị mưa khoét mà các quan địa phương tâu lên, đều được miễn thuế.


Tại Hà Tiên, Vĩnh Thanh và Định Tường chứng ôn dịch làm dữ. Vua dụ các quan sở tại: người bị bệnh thì cấp thuốc thang. Những người chết bất kể là trai, gái, già, trẻ đều cấp tiền tuất ba quan, vải một tấm. Nếu hài cốt bộc lộ thì trích của công chôn cất.


Vua dụ các quan địa phương nên thân hành đến nơi để cấp phát tiền, vải tử tuất, xét hỏi những người bị bệnh nặng, và người chết, số lượng bao nhiêu, phải năm ngày một lần tâu lên. Rồi từ Bình Thuận trở ra đến Bắc thành, nơi nào cũng tâu báo có dịch.


Vua khiến lấy bạch đậu khấu và các thứ thuốc trị bệnh dịch ở trong kho ra sai người ban cấp. Lại sắc cho các địa phương mỗi nơi, người bị bệnh thì cấp thuốc, người chết thì cấp tiền, vải, từng người một theo như chỉ dụ trước.


Lúc ấy quan doanh Quảng Nam tâu xin chia số dân bị dịch lệ làm ba hạng già, trẻ, con nít để cấp tiền tuất. Vua trách rằng: “Trên lãnh thổ đều là dân con, trong bốn bể đều là tiền của. Ngày nay trăm họ bị tật dịch, lòng trẫm xiết nỗi thương đau, há ngại việc cấp tiền nhiều, mà bàn nên giảm bớt hay sao?” bèn khiến theo lệ cấp đồng đều.


Vua nghe có lại dịch, phần nhiều bớt xén tiền tuất, bèn dụ rằng:


“Gần đây dịch lệ làm tai hại, nhân dân mắc hoạn nạn, trẫm hằng động lòng thương xót, suy nghĩ làm cách nào gìn giữ chu đáo cho phải đạo thương dân. Nên trẫm khiến các ty, nha cấp phát thuốc thang, tiền, vải để cho nhân dân kẻ khuất người còn đều được thấm nhuần ơn đức. Các quan to ở địa phương được sự ủy thác của trẫm, chăn dắt dân chúng, nên coi dân như con, các quan phải gia tâm yên ủi đừng sai khiến ty lại bên dưới để họ xà xẻo làm điều gian trá. Sao cho tránh được những mối tệ ấy mới làm đẹp lòng trẫm”.


Vua dụ quan Hiệp trấn Sơn Tây Trần Thiên Tải rằng: “Bên trên thì thể ý nhân đức của vua, bên dưới thì lo cứu nạn dân, đó là chức trách của người chăn dắt dân. Bằng như đem việc công khinh suất ủy thác cho ty lại để chúng tha hồ làm việc gian manh thì hại cho dân không thể nói xiết được vậy”.


Vua sai Trung sứ chia nhau đi về các ấp, các huyện Trung Kỳ (từ Thanh Hóa vào Bình Thuận) xét xem mùa màng về tâu lại. Vì từ Nghệ An ra Bắc lâu ngày không mưa, vua lại sai sứ đi các địa phương quan sát tình hình nghề nông.


Lúc ấy hai xã An Vân, Đốc Sơ thuộc dinh Quảng Đức tâu xin được miễn đi xâu trong hai tháng để sửa sang các sông ngòi đem nước vào ruộng. Vua y cho. Lại sắc các địa phương thường năm lúa chín phải xét trong hạt thu hoạch tỷ lệ phần số được bao nhiêu tâu lên vua biết.


 


IV


Thành bát quái của Trấn thành Gia Định như hình hoa sen, mở ra 8 con đường ngang dọc, từ đông đến tây là 131 trượng 2 thước ta, từ nam đến bắc cũng như thế, bề cao 13 thước ta, chân dày 7 trượng 5 thước ta, đắp làm ba cấp. Trong thành, giữa làm sở hành tại, bên tả là kho chứa, bên hữu là Cục Chế tạo, chung quanh là các dãy nhà cho vệ quân ở.Trước sân dựng cây cột cờ ba tầng, cao 12 trượng 5 thước ta, trên có làm chòi canh vọng đẩu bát giác tòa, ở bên treo cái thang dây để thường xuyên lên xuống, trên ấy có quân ngồi canh giữ, có điều gì cần cảnh báo thì ban ngày treo cờ hiệu, ban đêm treo đèn hiệu canh gác, các quân cứ trông hiệu đó để tuân theo sự điều động. Hào rộng 10 trượng 5 thước, sâu 14 thước ta, có cầu treo thả ngang qua, bên ngoài đắp lũy đất, chu vi 794 trượng, vừa hiểm trở vừa kiên cố tráng lệ.


Trước sân trong thành có một tòa vọng cung, để những ngày Nguyên đán, Đoan ngọ và rằm, mùng một, quan Tổng trấn đem thuộc quan văn võ trong thành và trấn Phiên An đến, chiếu theo nghi thức mà làm lễ. Hai bên tả hữu có lầu chuông trống tám góc, giữa là Hành cung để phòng khi vua đi tuần thú. Phía sau là công thự Tổng trấn, phía phải là công thự Hiệp đốc trấn, phía trái là công thự Phó tổng trấn.


 Ở 3 cửa Càn Nguyên, Ly Minh và Tốn Thuận, có trại quân mái lợp ngói tô đỏ rất đẹp đẽ, lại có vách thành và vọng lâu ở 4 cửa Cấn, Ly, Chấn, Tốn, có cầu vồng bằng đá tổ ong bắc qua hào. Cầu vừa cao vừa rộng bền chắc, dưới có chừa khoảng trống cho nước chảy. Trước lũy ở cửa Ly Minh có dựng đình Thân Minh để làm chỗ niêm yết trên bảng những chiếu cáo dụ chỉ.


Từ xưởng voi ở phía ngoài lũy đất cửa Khảm Hiểm, một thớt voi được đưa tới trước cửa Phiên An môn nài gõ búa sắt bắt voi quỳ xuống đợi lệnh.


Ba tiếng súng hiệu nổ vang. Cửa Phiên An môn mở toang. Một đoàn binh sĩ kéo ra. Đi đầu là một viên chánh quản có nạt đường, và hai quân sĩ mặc áo dấu, cầm hai tấm biển gỗ sơn, có khắc chữ “Tĩnh túc” và “Hồi ty”(1). Dẫn kế là cờ tam tài, cờ tứ tỵ phương và cờ ngũ hành thêu mây, sóng, con giao, kỳ lân, long mã, thiên cẩu. Tiếp, là đoàn quân cầm đồ lỗ bộ gồm có hai thanh mác trường, hai trái chùy đồng, hai cây phủ việt. Đến cờ tiết mao, gắn đầu rồng, ngậm dây kim tuyến, đeo năm ngù lông đuôi trâu rừng, cán dài sơn son.


Quan Tổng trấn Lê Văn Duyệt mặc nhung phục, đội mũ võ, đi hia, ngồi trên bành voi. Voi dùng hàng lụa để trang sức, vấn ủ vòi, ở chân và quanh lưng, hai bên hông phủ nỉ xanh. Trên lưng voi có hai người nài, một ngồi ở cổ để điều khiển voi, còn người ngồi trên lưng thì cầm tàn hầu. Hai bên có lính tay cầm khiên giáo, và che gai lọng xanh, 16 bông bèo, chóp thiếc mạ bạc.


Đoàn võ quan đi đầu là phó vệ úy Lê Văn Khôi và phó quản cơ Đặng Vĩnh Ưng, sắc phục tùy theo phẩm trật và một số binh lính theo hầu.


Nài ở trên cổ voi ra lệnh cho voi hướng về phía Chợ Vải(1) nghĩa là hướng Tây, quẹo lên đường Cửa Hữu(2) tiến về phía Mô Súng(3) ở cách phía tây nam thành 10 dặm, nơi đây đất bằng phẳng rộn rãi độ 50 dặm. Binh sĩ cơ nào đội ấy tề tựu đông đủ. Binh lính đầu đội cái nón nhỏ hình khối, chóp bằng trúc sơn quang dầu (màu cánh dán), áo giáp cộc tay, ngắn vạt, ngoài bọc da đỏ hay vải đỏ rất dày gọi là áo chiến. Hai chân quấn hai chiếc xà cạp màu xanh quấn chặt lấy cổ chân xuống mắt cá. Tay cầm gươm giáo hay mã tấu, tay trái cầm khiên, giống cái nón lớn đan bằng mây. Có người cầm cuốc bằng gỗ hình bầu dục như chiếc thuyền nhỏ, người thì cầm súng điểu thương, bắn bằng đá lửa, đeo cái bao đựng thuốc súng ở dây lưng.


Quan Tổng trấn cho làm lễ Tế Kỳ Đạo. Trên bàn hương án bày ba bài vị: Kỳ đầu Đại tướng (Viên tướng đi đầu cờ), Lục đạo Đại tướng (các viên tướng của sáu cờ đạo), Ngũ phương kỳ thần (những vị thần cờ của năm phương). Ngoài ra còn có các hương án phụ thờ các vị thần bảo hộ các chiến thuyền, các thần trông coi về xập xõa, trống, còi, súng điểu thương, súng đại bác và các loại khí giới khác. Mọi người hướng về lá cờ tiết mao dựng ở trung quân vái lay. Chấm dứt buổi lễ tiếng súng thần công nổ vang.


Người ta tin rằng tiếng súng thần công bắn vào dịp Tế Kỳ Đạo có hiệu quả đuổi tà ma. Cho nên những ngôi nhà quanh đó mọi người đều dự bị sẵn sàng trống, mõ, thùng sắt, roi dâu... Cứ hễ nghe tiếng súng nổ là nhà nào nhà ấy đều trở dậy đánh trống, đánh mõ vang lừng, lấy roi dâu vụt tả vụt hữu đập mạnh vào cửa, xuống sàn nhà, phản ngựa và đốt pháo mục đích gây được cảnh huyên náo chừng nào hay chừng ấy. Họ cho đó là một phương pháp để xua đuổi ma quỷ.


Tiếp đó đến cuộc thao diễn. Từng chặp lính pháo thủ bắn đại bác, quân sĩ chia hai mặt đánh nhau.


Tượng binh cũng tập dượt, tiến lui có chiến pháp, day trở có phương lược.


Sau đó quan Tổng trấn đi vòng quanh theo hào thành xuống xem xét Thủy xưởng(1) và chứng kiến một cuộc tập thủy chiến. Trên sông có một số chiến thuyền có chiếc bọc đồng, mỗi chiến thuyền có một đại bác và 200 thủy thủ mang súng điểu thương, chia làm hai phe, giao chiến với nhau. Bên nào áp sát nhảy lên được mạn thuyền địch được coi là bên đó thắng, được giải thưởng của quan Tổng trấn.


Rồi ông đến trường ná xem bắn ná và đường trường gà(2) xem chọi gà.


Mãn cuộc, quan Tổng trấn theo cửa Cấn Chỉ vô thành.


(còn tiếp)


Nguồn: Vua Minh Mạng. Tuyển tập truyện lịch sử của Hoài Anh. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


 


 







(1) Thừa Thiên hiện nay.




(1) Tội đồ: Bắt làm nô lệ.




(2) Tội trượng: Trượng là roi mây to, kẻ bị xử trượng, chịu đánh từ 60 đến 100 roi.




(1) Tĩnh túc: im lặng, cung kính. Hồi ty: tránh đi.




(1) Ở khu vực Chợ Cũ hiện nay.




(2) Nay là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa.




(3) Còn gọi là Đồng Tập Trận hay Đồng Phú Thạnh, ở chỗ có đình Phú Thạnh hiện nay. Sau vụ khởi nghĩa của Lê Văn Khôi, có tên là Đồng Mả Mồ.




(1) Có l ch Xưởng Ban Son hin nay.




(2) Đều khong t Tòa án thành ph đến Dinh Thng Nht và trường Lê Quý Đôn hin nay.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
xem thêm »