tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19003301
Tiểu thuyết
29.03.2009
Hoài Anh
Vua Minh Mạng

Vua lại nói với đình thần:


- Trẫm hàng ngày muôn việc, những điều đau khổ của quân và dân đâu dễ biết được hết. Vì thế, giao cho các ngươi gánh vác làm tai mắt cho trẫm. Không những phán đoán việc ở bộ, nha, mà mọi việc đã biết thì không gì là không nói, ngõ hầu tình trạng của người dưới mới đến được tai trẫm.


*


Sau khi Minh Mạng giao cho các quan tiến cử những thuộc viên dưới quyền mình lên giữ các chức vụ, nhận thấy công việc ởcác nha sở chẳng những không tiến triển mà nạn tham nhũng, lộng quyền làm trái pháp luật vẫn liên tục xảy ra, ông biết rằng các quan phần lớn tiến cử những người thân thích hoặc vây cánh của mình vào các chức vụ để tăng thêm thế lực của mình. Ngoài việc do các quan tiến cử, kẻ sĩ muốn tiến thân chỉ có thể do con đường khoa mục. Khi sai quan đi coi việc chấm thi, ông đã căn dặn cần phải rất công minh, không được thiên tư, cốt sao chọn được người hiền tài ra giúp việc nước.


Tuy vậy vẫn có khó khăn, khoa cử là để chọn người có tài văn học, nhưng người có văn học chưa chắc đã giỏi về chính sự, khi làm việc cai trị, kém cỏi vụng về, hoặc lười biếng trễ nải, như vậy dù có tài văn học cũng không dùng được. Nhưng nếu chọn người nhanh nhẹn, thạo việc, thì lại e người đó tham nhũng ăn hối lộ, hoặc sách nhiễu dân, như vậy dân vẫn không yên.


Minh Mạng nghĩ ra một cách thứ ba là ngoài việc các quan tiến cử thuộc viên dưới quyền mình, và lựa chọn người bằng khoa cử, còn cho phép tiến dẫn những người hiền tài còn ở nơi thôn dã ra giúp việc nước. Ông ban tờ chiếu, đại lược nói:


“Kẻ hiền tài là đồ dùng của quốc gia, khi chưa gặp thời, náu mình ẩn giấu tông tích, thì vua chúa làm sao mà biết được, cho nên ngoài việc khoa cử ra, còn cần có người đề cử. Trẫm từ khi mới lên ngôi, gắng sức mưu đồ cho nước thịnh trị, rất muốn trong triều có nhiều kẻ sĩ đức hạnh tốt, mà không bỏ sót kẻ hiền tài nào ởnơi thôn dã, để tô điểm sự nghiệp nhà vua dùng tiếng âm nhạc mà hóa dân trị nước. Nay hạ lệnh ở kinh đô thì quan văn từ Tham tri, võ từ Phó Đô thống chế trở nên, ở ngoài thì các quan địa phương đều phải đề cử những người mình biết, không kể nhà nghèo hay thế gia, cần được người có thực tài để lượng xét sao lục ra dùng”.


Tờ chiếu ban ra, vẫn không thấy các quan tiến cử được người hiền tài nào. Vua lại xuống tờ chiếu rằng: “Trong ấp có mười nhà, tất có một người đức trung tín,sao cả một nước rộng, mà lại không kẻ sĩ nào có tài đức; hoặc là chưa tận tâm đi dò hỏi, mà kẻ hiền tài trở ngại không thông lên người trên biết chẳng cũng phụ cái ý cầu hiền của trẫm ư?”.


Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, muốn tìm người hiền mọi nơi, lượng xét tài năng bổ chức, bèn nghĩ rằng kẻ sĩ tài năng chìm đắm ở chức dưới còn nhiều ví bằng không cho đặc cách hướng dẫn, thì sao thông đạt lên được. Vậy từ nay các chuyên quản nhân viên, phàm người có văn học, đã thông kinh sử, viết lách tính toán tinh thông, võ có thao lược đầy đủ, kỹ nghệ am luyện, quả là người hiểu biết thực, tuy chưa dự hạng triều đình đề cử, cũng được xét cử do hai bộ Lại bộ Binh tâu lên.


Thượng thư bộ Lễ vào tâu Sử cục đã lập xong, nhưng còn thiếu quan chép sử. Minh Mạng nghĩ việc chép sử phải nhờ đến người có tài như Phạm Quý Thích mới đảm đương nổi. Nguyên Phạm Quý Thích đậu Tiến sĩ đời Lê, trước vua Gia Long triệu cho làm Thị trung học sĩ, lãnh chức Đốc học Bắc thành nhưng chẳng bao lâu cáo bệnh xin về. Phạm Quý Thích nghỉ việc đã lâu, nay nhân có việc làm quốc sử, Minh Mạng sai đem 30 lạng bạc, 10 tấm lụa, trưng dụng ông vào kinh để lo việc chép sử.


*


Mùi mực xạ ở chỗ mép con lý ngư tạc trên nghiên đá phun ra một mùi thơm quen quen mà xa xăm. Nhựa mực đã tràn lên mép ao đặc sánh lại và đen nhanh nhánh dưới mấy ngón tay người mài, những búp ngà vẽ những vòng đều và dịu. Người thiếp họ Nguyễn mài mực xong, Phạm Quý Thích với lấy quản bút giắt trong ống sứ Giang Tây, thứ bút “ngâm đáo mai hoa” ngòi mềm tay như lông đuôi bò dầm no mực rồi viết trên mặt giấy bản những nét xương kính như cành mai già:


Giai nhân bất thị đáo Tiền đường,


Bán thế yên hoa trái vị thường.


Ngọc diện khởi ưng mai thủy quốc,


Băng tâm tự khả đối Kim lang.


Đoạn trường mộng lý căn duyên liễu,


Bạc mệnh cầm chung oán hận trường(1).


Nên kết như thế nào đây? Ông lại vê vê đầu ngòi lông ở chỗ mép con lý ngư, ngẫm nghĩ. Mùi giấy bản và mực tàu quyến rũ làm ông ngây ngất. Ông phóng bút viết những nét xổ nét mác vừa tung hoành vừa tinh tế trên mặt giấy êm và mịn:


Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy,


Tân thanh đáo để vị thùy thương(2)


Năm 1813, ông Cần chánh điện học sĩ Nguyễn Du đi sứ Trung Quốc về, mua được bản in chính Kim Vân Kiều truyện của Thanh tâm tài nhân. Ông lợi dụng thời gian còn nán lại ở Bắc thành, dựa theo nguyên bản chỉnh lý, nhuận sắc lai bản Truyện Kiều mà ông đã khởi thảo từ khi đang làm Cai bạ ở Quảng bình căn cứ vào một bản chép tay KimVân Kiều truyện có trong nhà. Sửa xong, ông đặt cho nó một cái tên mới là Đoạn trường tân thanh, rồi sai lại phòng chép một bản đưa cho Phạm Quý Thích lúc bấy giờ đang dạy học ở Bắc thành đọc. Phạm Quý Thích hơn ông sáu tuổi và là bạn đồng liêu với anh ông là Nguyễn Khản và anh rể ông là Vũ Trinh, nên hai người đã có quen thân từ trước. Phạm Quý Thích đọc thấy hay, nên đã cho khắc ván in, bây giờ ông viết bài Đoạn trường tân thanh đề từ, đặt ở đầu sách.


Phạm Quý Thích tự Dữ Đạo, hiệu Lập Trai, biệt hiệu là Thảo Đường cư sĩ. Người xã Hoa đường, huyện Đường an, phủ Thượng hồng(1), sau đến ngụ ở phường Báo thiên, huyệnThọ xương, thành Thăng long(2). Đậu tiến sĩ năm 1779. Dưới thời Lê - Trịnh làm Thiêm sai tri công phiên. Khi Tây Sơn kéo quân ra Bắc, ông bỏ trốn, không cộng tác với nhà Tây Sơn. Năm đầu đời Gia Long, bị gọi ra yết kiến, vua ban cho quần áo, tiền bạc và chức Thị trung học sĩ, ông lấy cớ cáo bệnh xin về, nhưng vua Gia Long không nghe.


Năm 1804, được bổ Đốc học Bắc thành, ông cũng mượn cớ có bệnh cáo từ, phải xin đặt chức trợ giáo giúp việc cho ông. Năm 1809, ông xin từ chức, về ở thôn Chiêu hội tại Bắc thành.


Tháng 6 năm Tân Mùi (1811) vì việc làm quốc sử, lại vời ông đến kinh, đặc biệt được miễn vào chầu thường lệ, dần cùng Tổng tài bàn định không hợp ý, bèn cáo xin về dưỡng bệnh. Nhưng mỗi năm có khoa thi, còn sai ông coi vịêc thi cử, ông cân nhắc lại câu văn, thấy ai là người có thực học, dù có nhầm lỗi cũng lấy đỗ. Nhưng rất khắc nghiệt với kẻ chạy chọt, mánh khóe làm gian, trước sau coi việc thi cử ở trường Sơn Nam ba lần, lấy được nhiều danh sĩ, dư luận sĩ phu rất tin phục.


Phạm Quý Thích vừa viết xong bài thơ, toan đi nghỉ, thì người nhà báo có dụ của vua đưa đến. Ông vội đội mũ mặc áo quỳ trước án để nghe dụ. Một viên quan tuyên đọc lời dụ của Minh Mạng:


“Thị trung học sĩ Phạm Lập Trai là bậc lão nho, vọng trọng tài cao hạnh tốt đã rõ rệt. Trẫm lên nối ngôi trị nước, trước hết đã thăm hỏi đến. Lại bộ đã tâu là có bệnh. Nay trẫm nghĩ, ngày tháng đã lâu, bệnh chưa chắc đã gần khỏi, vậy xuống đặc ân ban cho bạc 30 lạng, lụa 10 tấm, cũng nên gắng sức lên đường, hành trình do đường trạm, thong thả đến cửa khuyết(1), để Trẫm được hỏi ý kiến hay về đường lối trị nước. Nếu sau này đến kinh còn ốm yếu không đi lại được, sẽ có ân ban cho điều dưỡng. Phải vâng mệnh thi hành, để thỏa lòng Trẫm yêu quý người hiền”.


Sau khi nghe sắc mệnh, ông lập tức lên đường.


Khi tới kinh, Phạm Quý Thích vào bệ kiến, lại lấy cớ cáo bệnh xin về.


Minh Mạng biết không thể ép được, liền nói:


- Nếu tiên sinh có bệnh thì trẫm cũng không ép nhưng chỉ muốn được gặp tiên sinh để hỏi ý kiến hay về đường lối trị nước. Trước trẫm hạ lệnh cho trong triều ngoài quận, đều phải đề cử kẻ sĩ có văn học hiền tài đứng đắn, đời nào chẳng sản xuất người tài, mà sao lại vắng tăm hơi như thế. Vì biết người là sự khó, mà không dám khinh suất đề cử, hay là không để ý đến việc ấy chăng?


Phạm Quý Thích nói:


- Tâu bệ hạ, bệ hạ có cho phép thì thần mới dám nói thẳng, thần trộm nghĩ muốn có nhân tài, phải chú ý đến những người ở ngành học quan lo việc giáo dục nhân tài. Mà trong ngành học quan thì còn có nhiều người không xứng chức. Trước đây bệ hạ ra lệnh cho ở kinh thì do quan từ tứ phẩm trở lên cử, ở bên ngoài thì do các quan địa phương cử những người mình biết sung làm Giáo thụ, Huấn đạo. Nhưng thực tế những người được cử phần nhiều là người ít tuổi, thì ra các quan thường chỉ cử con em mình sung các chức ấy, còn các vị Hương cống đậu các khoa, hoặc kẻ sĩ ẩn dật học hành giỏi có tuổi, thì bị bỏ rơi. Do đó bệ hạ cũng cần đặt ra luật lệ rõ ràng và có kiểm tra chặt chẽ thì mới tránh được sự thiên tư.


Minh Mạng hiểu ra, liền giao cho bộ Lại bàn định, từ đây phàm bầu cử Hương cống, Sinh đồ làm, phải lấy đủ 40 tuổi làm hạn, kẻ sĩ ẩn dật phải lấy đủ 50 tuổi làm hạn, rồi do bộ Lễ cùng quan trong Quốc Tử Giám bàn bạc xem học hành có thể dạy được học trò, mới bổ dùng vào những nơi còn khuyết. Lại sai các quan địa phương xét các Huấn đạo ở các huyện, ai là kẻ có học hành được sĩ tử tin theo học, cùng là ai học thức nông cạn hẹp hòi, không thể làm người thầy khuôn mẫu được, đều phải xét tâu lên, để định kẻ nên dùng, người nên bỏ.


Minh Mạng trước đây đã được Trịnh Hoài Đức giảng cho nghe về thuyết Chính danh, nhân dịp này ông hỏi thêm Phạm Quý Thích:


- Theo ý tiên sinh nên phân biện danh với thực như thế nào?


Phạm Quý Thích nói:


- Tâu bệ hạ, thần trộm nghĩ: về đời Thượng cổ chỉ nghe thấy có cái học, mà chưa nghe thấy nói cái danh cái thực.


Kịp đến hậu thế, có người vụ thực người vụ danh, mà cái thuyết danh thực mới phân ra.


Xét đời thượng cổ chỉ có thực mà không có danh; đời trung cổ có danh cũng có thực, còn hậu thế chỉ có danh không có thực, tại sao nói thế?


Đương đời Đường Ngu, có 8 vi Nguyên(1) và 8 vi Khải(2) la liệt ở trong Triều, và các ông Quỳ, ông Long, ông Ích, ông Tắc đều lấy đức nhượng ở trong triều; bấy giờ không ai cậy có trí năng, cậy có dũng công(3), không những không khoe cái danh mà không biết đến cái danh là gì nữa.


Đến đời Tam đại, các ông thánh vương nuôi kẻ sĩ có phương sách, đào luyện kẻ sĩ có phương sách, dùng kẻ sĩ có phép tắc. Phàm cái công tu tâm, thân, ý, trí và các việc quốc gia thiên hạ như việc binh, nông, lễ, nhạc đã có một cái việc thực tức là có một cái danh, chứ đâu có danh không xứng với thực, và thực không hợp với danh đâu!


Kịp đến đời Tam đại(4) trở xuống sinh ra cạnh tranh nhau về cái danh, như đời Tam quốc vụ cái danh “tung, hoành”(5), đời Tấn vụ cái danh về “Thanh đàm”(6), đời Đường vụ cái danh về “thi ca”, đời Tống vụ cái danh “văn từ”; ấy cái học hữu danh mà vô thực khởi lên từ đấy.


Kẻ trên đòi hỏi ở người dưới bằng cái danh, mà kẻ dưới đòi lại người trên cũng dùng bằng cái danh lúc đó được chú trọng ở đời, thậm chí coi cái học vấn là khí cụ cầu danh.


Lấy tiếng tăm khoe khoang với đời, trước còn khoe cái danh, sau lại cậy mình có cái danh, dần dà rồi tranh giành cái danh ở trong triều; xét ra cái danh chưa thành mà cái thực đã mất hết, xưa nay người anh hùng, hào kiệt nhầm ở trong cái danh, có phải là ít đâu?


Thánh hiền đời trước có nói, cái thực thắng thì đáng khen, mà cái danh thắng thì đáng thẹn, người quân tử chỉ cần cái thực thắng mà thôi.


Người ngày nay ít có liêm sỉ thậm chí cái danh cũng không đoái đến nữa, như vậy có thể ngang nhiên làm điều thô bỉ xấu xa mà không biết hổ thẹn. Bởi vậy bậc trí giả mới có lời khuyên “Thân có ắt danh âu phải có, Khuyên người nên trọng cái thân danh”, vì cái danh còn là danh dự của con người, phân biệt loài người với loài cầm thú. Chỉ cần danh phải phù hợp với thực là được.


Lời Phạm Quý Thích vừa đi vào chỗ tế vi, vừa giữ được đạo Trung dung, không cố chấp thiên lệch. “Trung” là c hính đạo, “Dung” là định lý chung cho mọi sự việc trên đời.


Lập luận của ông mới mẻ và sâu sắc hơn của Trịnh Hoài Đức. Minh Mạng chợt hiểu ra, khi sứ bộ của ta đi sứ Thanh, đến Quảng Tây xin đổi quốc hiệu, công văn bị trả đi trả lại đôi ba lần, rồi sau cũng phải sai Phạm Quý Thích thảo gấp mới xong công việc. Như vậy tài của kẻ sĩ Bắc hà này thật đáng khâm phục. Chợt nghĩ ra một điều gì, Minh Mạng hỏi Phạm Quý Thích:


- Tiên sinh có quen thân với các ông Nguyễn Du, Ngô Vị(1) phải không? Nhà nước dùng người tài phân biệt Nam Bắc, không hiểu sao hai ông ấy khi vào triều cứ rụt rè không dám nói, hay chê là trẫm kém tài bạc đức không đáng hiến lời đó chăng?


- Tâu bệ hạ, không phải thế, đó chẳng qua là các ông ấy nghĩ đến lễ, nghĩa, liêm, sỉ mà thôi.


Thầy Mạnh Tử nói rằng: “Một bát cơm, một chén canh, gọi một cách khinh bỉ mà cho, thì người đi đường dẫu đói cũng không nhận; nếu lấy chân vò đạp vào đem cho, thì người ăn mày cũng không thèm nhận”, như thế mới biết lễ, nghĩa, liêm, sỉ người dân tuy nhỏ mon cũng còn dùng, phương chi là kẻ sĩ mà bỏ mất thì còn mong bắt chước ông hiền, ông thánh và trời nữa sao?


Phải có lễ thì trật tự theo lý tự nhiên của trời mới rõ rệt; có nghĩa thì trong lòng mới quyết đoán được việc đáng làm hay không đáng làm, việc đáng thích hay không đáng thích, có liêm thì nghĩ đến cái nghĩa nên hay chăng trong khi có lợi; có sỉ thì nguy hiểm mới có tiết tháo con người.


Vậy cho nên hễ giữ được lễ nghĩa là kẻ sĩ, giữ được thanh liêm là kẻ sĩ, làm có biết xấu hổ là kẻ sĩ, đã được cái tiếng có lễ, nghĩa, tức là kẻ sĩ có cái thực ở bên trong vậy.


Chính vì kẻ sĩ có lễ nghĩa liêm sỉ nên không chịu để vua dùng làm gia thần, mà đòi phải dùng lễ khách khanh để đối đãi. Ông Chu Công là bậc đại hiền, mà còn nhả cơm vấn tóc để ra tiếp kẻ sỉ. Tề Tuyên Vương gọi: Nhan Súc lai đây! Súc cũng nói: Vua lai đây! Nếu vua gọi mà Súc đến ngay, thì Súc mang tiếng là người xu phụ quyền thế, nếu Súc gọi mà vua đến thì vua được cái tiếng là biết kính hiền hạ sỉ. Xin bệ hạ xét cho!


Minh Mạng nghe, im lặng một hồi rồi nói:


- Ba quân có thể đoạt được suý, đến kẻ thất phu cũng không thể đoạt được cái chí của họ. Ở đời có ba loại: lập đức, lập công, lập ngôn. Trẫm không đòi hỏi tiên sinh phải lập công với triều đình, chỉ cần tiên sinh lập ngôn để giáo hóa cho người đời, lập đức để làm tiêu biểu cho sĩ phu trong cả nước là đủ rồi.


Sau khi được vua cho về Bắc, Phạm Quý Thích đến thăm Nguyễn Du, trao cho Nguyễn Du cuốn Đoạn trường tân thanh mới khắc in. Đọc bài đề từ, Nguyễn Du nói:


- Tiên sinh viết như vậy quả là hiểu thấu tận gan ruột tôi. Xưa Tư Mã Thiên bị cung hình(1), vẫn ẩn nhẫn sống vì chưa viết xong bộ Sử ký. Nay cái thân hàng thần lơ láo còn mặt dạn mày dày sống thừa ngày nào, là bởi cuốn sách này chưa được khác in. Nay tiên sinh đã thành toàn cho tôi điều tâm nguyện ấy, từ nay tôi có chết cũng mát mặt rồi! Của tin còn một chút này… Ông cảm động quỳ xuống toan lạy, Phạm Quý Thích vội vàng ngăn ông lại.


(còn tiếp)


Nguồn: Vua Minh Mạng. Tuyển tập truyện lịch sử của Hoài Anh. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


 


 







(1) Dịch: Giai nhân chẳng đến sông Tiền,


            Yên hoa nửa kiếp nợ đền sao xong?


            Há vùi mặt ngọc thủy cung,


            Lòng băng tuyết đủ xứng cùng Kim lang.


            Hết căn duyên mộng đoạn trường,


Dứt cung bạc mệnh oán thương vẫn dài.




(2)         Tài tình để lụy ngàn đời


            Tựu trung “Khúc mới” vì ai đau lòng?




(1) Nay thuộc huyện Bình Giang, tỉnh Hải Hưng.




(2) Đời Gia Long, vẫn còn tên Thăng Long, nhưng không viết chữ Long là rồng mà viết chữ Long là long thịnh.




(1) Cửa nhà vua.




(1) Bát Nguyên, 8 người có thiên tài.




(2) Bát Khải, 8 người cơ đức hòa dịu.




(3) Có quân công.




(4) Tạm đai: ba đời Hạ, Thương, Chu.




(5) Ý nói cái danh ca thuyết khách, như Tô Tn khuyên sáu nước liên kết vi nhau chng Tn gi là Tung, Trương Nghi khuyên sáu nước cùng th nước Tn, gi là Hoành.




(6) Bàn xuống về lý huyền vi.




(1) Tức Ngô Thì Hương, con Ngô Thì Sĩ, em Ngô Thì Nhậm.




(1) Bị thiến.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 26.04.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 16.04.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
Hà Nội xưa và nay - Bạch Diện Nguyễn Văn Cư 04.04.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 30.03.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
Hòn đất - Anh Đức 14.03.2017
Một chuyện chép ở bệnh viện - Anh Đức 14.03.2017
xem thêm »