tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20549106
Tiểu thuyết
26.03.2009
Triệu Xuân
Trả giá

Cho đến một hôm, người ta đẩy vào trại giam một em gái mười lăm tuổi. Ngay từ phút đầu vào trại, cô bé đã kêu thét đòi về với má. Cô hoảng hốt đến khờ dại khi thấy những bộ mặt gớm ghiếc đang hau háu nhìn mình. Nhà ngủ của tù nữ và tù nam chỉ cách nhau có một khoảng sân. Trong nhà ngủ nữ, cô bé không tìm được sự bảo vệ che chở của những kẻ đồng giới. Cô bé nhanh chóng tìm được người thực sự che chở, đó là Đước. Trong những giờ đi lao động - họ phải đào một con kênh lớn, dụng cụ chủ yếu là tay và cuốc xẻng - cô bé được Đước đỡ đần, và đặc biệt là được anh bảo vệ trước những con sói lúc nào cũng sẵn sàng vồ lấy cô.


     - Vì sao cháu bị bắt?


     Cô bé khóc nấc lên hồi lâu rồi mới đáp được rõ ràng:


     - Ba con đi lính ông Thiệu, chết trận hồi bảy lăm. Má con với con và hai đứa em, đứa nhỏ nhất mới sáu tuổi, ở trong căn nhà sát mặt lộ. Nhà đó, ba má con được nhà nước hồi đó cấp khi mới cưới nhau mà. Khu nhà có ba gia đình ở, mỗi hộ hai phòng. Nhà chú Tư Cụt kế nhà con bỏ đi vượt biên năm bảy chín, đến cuối năm thì có một ông cán bộ tới. Ổng tìm mọi cách để bốn má con con phải dồn vào ở một phòng, nhường lại căn phòng hai mươi mét vuông cho ổng. Nhà ổng đang ở cũng hai phòng như nhà con. Má con không chịu. Thế là vợ ổng bắt đầu gây chuyện. Má con đi làm ở nhà máy dệt, toàn làm ca ba. Làm ca ba để có nhiều tiền hơn. Đêm nào vợ ổng cũng cho người ném đá, hù dọa mấy chị em con. Chúng con sợ lắm, ngủ không được. Ban ngày con đi học, con bị ổng chặn đường đánh, giật cặp, xé sách tập. Rồi bả kêu mất đồ, kêu công an lại xét. Công an tìm thấy cái đồng hồ Seiko ở dưới giường của con. Con bị bắt giải lên huyện. Má con lên xin không được. Chú coi, từ nhỏ đến giờ, con có biết ăn cắp hồi nào. Nhà con nghèo nhưng con không bao giờ mắc chuyện đó. Sau khi phải lao động cải tạo ở huyện mười ngày, con lại bị nhà trường cho nghỉ học. Về nhà, một tháng sau lại xảy ra chuyện tương tự. Bà ấy kêu mất cắp. Công an xét, thấy chiếc dây chuyền của bả ở nóc tủ nhà con. Thế rồi con bị bắt đúng vào ba giờ sáng, giải thẳng lên đây. Con không biết đây là đâu. Má con đi làm về chắc là sẽ khóc hết hơi thôi. Tội nghiệp má. Má ơi! Con không ăn cắp của ai. Chỉ vì họ muốn cướp căn nhà con mà họ bày đặt. Chú ơi! Làm sao con nhắn cho má con biết con ở đây, hả chú?


     Trong hồ sơ của cô bé lại ghi: “Gái làm tiền, lừa đảo, trộm cướp... Yêu cầu cải tạo lao động dài hạn”. Trại trưởng gí sát vào mặt Đước tập hồ sơ ấy. Đước nhìn những hàng chữ viết bằng bút bic, nét chữ xiên xẹo. Trại trưởng cười hô hố và mỉa mai: “Ốc không mang nổi mình ốc còn đòi mang cọc cho rêu! Thôi đi cha nội, đừng giả đò cao đạo nữa! Có xài con bé thì xài, chứ làm bộ chú cháu con mẹ gì. Không xài thì trước sau bọn khốn nạn kia nó cũng đớp!”.


     Một lần nữa, Đước toan giáng cho trại trưởng một cú, nhưng anh kịp dừng tay lại. Đêm ấy, anh không ngủ được, tự rủa mình là quân hèn đốn đã không giáng cho thằng khốn nạn một cú gãy vụn xương mặt. Ai khốn nạn hơn ai, hả trại trưởng? Anh mới là kẻ khốn nạn khi anh nói những lời ấy. Tội nghiệp cô bé, ở môi trường này làm sao cô có thể trở nên người tốt được nếu thực sự cô có tội? Mà cô bé thì chắc chắn là vô tội rồi. Chỉ nhìn vào đôi mắt trẻ thơ của cô, chứng kiến gương mặt co rúm lại vì sợ hãi của cô là đủ rõ.


     Đêm nào Đước cũng là người thức khuya nhất và dậy sớm nhất. Anh thức để canh chừng bảo vệ cô bé. Nhưng anh đã thất bại. Bọn khốn nạn đã tàn phá tiết trinh của cô bé. Chúng đã rắp tâm từ lâu rồi và tính toán rất kỹ. Vào đúng lúc Đước sơ hở nhất: Sau giờ ăn trưa, giữa ban ngày - là lúc Đước không ngờ. Anh vừa thiu thiu ngủ thì bọn chúng chụp thuốc mê cho anh lịm đi. Một đứa qua dãy nhà tù nữ kêu cô bé: “Chú Đước bệnh, sốt mê man...”. Cô bé cả tin chạy ù sang. Và... chúng sập cửa phòng lại, nhét khăn mặt vào miệng cô. Những người mặc sắc phục không biết hoặc là không can thiệp...


     Bọn chúng thay nhau hãm hiếp cô bé cho đến khi cô ngất xỉu mới chịu dừng lại, cũng là lúc kẻng báo giờ làm việc buổi chiều. Đước tỉnh thuốc mê, bàng hoàng nhìn cô bé thân thể lõa lồ bầm dập. Cô bé thoi thóp thở. Đước bung cửa nhào ra sân gào lên. Nhưng bốn bề vắng lặng. Âm thanh tuyệt vọng, căm uất của anh dội trở lại tai anh. Mắt anh đỏ ngầu. Anh nhìn lên dãy nhà có phòng làm việc của trại trưởng. Đúng lúc đó, trại trưởng xuất hiện: “Ê, trốn hả mày! Đi làm đi chớ, ở đó gào thét cái chi?”.


     Đước gầm lên: “Vô đây mà coi! Thằng khốn nạn!”. Chưa dứt lời, cú đấm khủng khiếp của Đước làm cho bản mặt trại trưởng xẹp lép như quả cà nén. Máu từ mặt hắn văng tứ tung. Hắn rống lên yếu ớt rồi đổ sụp xuống. Đước lấy khăn mặt của mình, nhúng nước lau mặt, lau người cho cô bé. Anh bật khóc. Lâu lắm rồi, đây là lần đầu tiên anh khóc. Lần anh khóc trước đó là năm 1959, khi má anh bị giặc bắn chết trong rừng đước. Hai mươi hai năm sau, anh lại khóc nấc lên trước cảnh đau lòng này. Nước mắt anh rơi lã chã trên gương mặt thanh tú của cô bé. Cô từ từ mở mắt, cũng lúc đó, hai người mặc sắc phục mang súng lao vào. Họ còng tay Đước lôi anh đi...


*


*    *


     Sức chịu đựng của con người dẻo dai được đến độ nào là thuộc vào ý chí của người đó. Đối với Đước, đã một năm ba tháng rồi, anh chưa liên lạc được với Trầm, em ruột của mình; chưa liên lạc được với ông Ba Tràm và Út Thơm, những người mà anh coi là thân thiết nhất; chưa liên lạc được với những người hiểu anh, thương anh tại Mỏ Tôm. Bị cách ly với những người thân yêu nhất, anh càng tin vào nhận định: Kẻ chủ mưu bắt anh, hãm hại anh dứt khoát không phải là Đảng, không phải là Nhà nước. Nó chỉ đội lốt, giả danh, mượn áo mão. Gan ruột nó là chó sói. Vì thế, anh quyết chí sống và chịu đựng thử thách đến cùng. Anh tin rằng chân lý, công lý sẽ chiến thắng. Niềm tin ấy là ý chí mãnh liệt tăng sức chịu đựng không ngừng cho Đước. Ngày trước, khi Má bị giặc bắn chết, anh bỏ nhà đi Giải phóng vì anh tin là anh sẽ trả thù được cho Má, cho bà con, cho xóm ấp. Trải qua hàng trăm trận chiến đấu không cân sức với kẻ thù, anh đã chiến đấu và chỉ huy đồng đội của mình luôn chiến thắng là nhờ niềm tin của anh vào chính nghĩa của dân tộc. Trong khi cả huyện, cả tỉnh rần rần rộ rộ làm cải tạo theo kiểu cưỡng bức ngư dân để lấy thành tích; trong khi cấp dưới cùng cấp trên thi nhau nói dối, thi nhau nói theo chiều lãnh đạo, không ai dám nghĩ khác, nói khác, làm khác thì anh dám nói khác đi, làm khác đi, là vì anh tin ở điều mình nói, mình đề xuất mới là vì dân, hợp lòng dân, là có lợi cho dân cho nước. Bị bắt, bị đầy ải bằng cách giam chung với bọn tội phạm, anh đã vươn lên, tỏa sáng nhân cách của mình, chịu ăn đòn của bọn tội phạm để kiên nhẫn thuyết phục chúng. Nhưng anh cũng sẵn sàng đối chọi trừ khử những con sói khát máu nhất để tự bảo vệ mình. Cô độc giữa bầy tội phạm, anh vẫn tồn tại được và cảm hóa được khá nhiều người - ấy là nhờ ý chí tuyệt vời của anh. Ý chí ấy được rèn đúc từ tình yêu. Đước yêu con người, yêu cuộc đời này, yêu rừng đước rừng tràm, yêu biển, yêu dòng nước bạc đầy cá tôm với những lời ca… Vì những cái đó mà Đước trụ bám đến cùng.


     Trại cải tạo “Ba lẻ tư” có hàng trăm tội phạm. Công việc của tội nhân ở đây là: Một tuần học tập một ngày, còn lại là khai thác gỗ, xẻ gỗ thành ván sàn xuất khẩu. Cứ một tháng lại có xe đến chở gỗ đi. Lương thực, thực phẩm cho người được cải tạo do họ tự lo lấy. Còn quần áo, vải vóc, thuốc men... ai có thân nhân gửi tới thì xài. Ai không có thì lừa gạt, ăn cắp, ăn cướp của nhau. Vẫn là nghề nghiệp cũ.


     Trại trưởng “Ba lẻ tư” mãi mãi vẫn là người khó hiểu đối với Đước, mặc dù càng ngày trại trưởng càng tỏ ra hiểu Đước hơn. Ấn tượng về một con người cao nhã ngay từ hôm đầu gặp gỡ tỏ ra ngày một vững chắc. Khác hẳn với ba trại trưởng trước mà Đước đã giáng cho cú đấm gãy nát xương quai hàm, trại trưởng “Ba lẻ tư” không phải là cái máy thi hành mệnh lệnh. Anh ta là con người chứ không phải người máy. Anh ta đọc hồ sơ phạm nhân rồi luôn tìm mọi cách tìm hiểu xem những điều ghi trong đó là đúng hay sai, đúng một chút hay sai hoàn toàn. Anh ta thẳng thắn một cách chua chát khi thốt lên với Đước rằng, trong đời làm công an, anh ta đã từng gặp không ít hồ sơ giả, hồ sơ được dựng lên. Và anh luôn luôn đòi làm sáng tỏ những trường hợp ấy. Đó là lý do cắt nghĩa tại sao các bạn cùng tốt nghiệp Đại học Công an với anh đã lên tới cấp tá, giữ những trọng trách ở các thành phố lớn; còn anh, vẫn chỉ là trưởng trại tù giữa rừng.


     Hầu như ngày nào trại trưởng cũng dành một hai giờ tiếp xúc với phạm nhân. Một điều khiến Đước rất chú ý là với bất cứ ai, trại trưởng cũng nói chuyện với tư cách con người nói với con người. Đước ở trại “Ba lẻ tư” đã bốn tháng rồi mà chưa hề thấy một trường hợp nào trốn trại. Nhân viên và trại trưởng cùng lao động với tù nhân. Thỉnh thoảng vẫn xảy ra những vụ đánh chửi, thanh toán nhau trong đám tù thường phạm, nhưng bao giờ trại trưởng hoặc các đồng sự của anh cũng can thiệp kịp thời.


     Nạn sốt rét hoành hành dữ dội. Thuốc thiếu. Sức lực tù nhân bị kiệt. Trại trưởng nhường tiêu chuẩn thuốc của mình cho Đước, Đước từ chối. Khi Đước sốt cao, mê man bất tỉnh, trại trưởng tự tay chích thuốc cho Đước. Sau khi cắt sốt, Đước phải tập đi. Trại trưởng dìu anh đi theo con suối ngược lên rừng. Đước co ro trong chiếc áo lính đã rách, anh cố giấu sự mệt mỏi nhưng không được. Đước nói mà hai hàm răng thấy quá nặng nề, không há nổi miệng:


     - Khí hậu độc quá! Anh có thấy là nước suối này lúc nào cũng lạnh ngắt như nước đá không?


     Trại trưởng cởi áo khoác của mình choàng cho Đước:


     - Tôi đã nhiều lần kiến nghị với cấp trên, nhưng không được trả lời. Tôi biết lắm chứ. Chúng ta đang ở sâu trong rừng nguyên thủy. Nơi đây chưa hề có vết chân người. Hồi mới đến, đêm nào cũng có hổ vào trại.


     Đước im lặng. Trại trưởng tiếp:


     - Lao động suốt ngày, ăn uống kham khổ nên anh em bị sốt rét quật ngã hết lượt. Tôi đã viết quá nhiều báo cáo gửi đi rồi... Khổ nỗi, tôi đã cấm anh em không được uống nước suối, phải uống nước nấu sôi, nhưng không ai nghe... Cả trại chỉ có một y sĩ, đồng chí ấy chỉ là y tá, học hàm thụ chưa hết chương trình.


     Đột ngột Đước nhìn thẳng trại trưởng:


     - Vì sao anh không giúp tôi liên lạc với em trai tôi?


     - Người ta cấm tôi. Lệnh cấm nói rằng anh là tội phạm rất nguy hiểm và...


     - Và phải biệt giam chớ gì? Nhưng anh đã trái lệnh cấm, cho tôi được đi lại...


     - Riêng khoản liên lạc với gia đình, trường hợp của anh, tôi không được phép. Chỉ cần người ngoài biết anh đang bị giam ở đây là tôi bị kỷ luật ngay.


     Đước ngồi xuống vì mệt quá. Anh không đi nổi nữa. Trời ngả về chiều. Rừng già âm âm u u lạnh lẽo. Trại trưởng nhắc Đước quay về kẻo tối. Đước vẫn ngồi, đăm chiêu nhìn dòng suối. Nước suối gần như tù đọng, không lưu thông. Lá rừng thối rữa xông lên mùi khó chịu. Màu của nước vàng rộn như màu da tù nhân bị sốt rét và xơ gan.


     - Anh hiểu cho tôi... - Trại trưởng nói.


     Đước ngắt lời:


     - Đừng nói gì nữa! Thế mà tôi đã tưởng... nhưng anh cũng chỉ là cái máy chỉ biết thi hành lệnh. Chẳng qua... anh còn ráng giữ lại một chút người chưa để hóa máy móc trọn vẹn...


     - Có lẽ vì thế mà mấy tháng rồi nhỉ, ờ… sáu tháng rồi kể từ ngày anh đến trại, anh vẫn không đáp ứng đề nghị của tôi: Kể cho tôi nghe toàn bộ sự thật về đời anh.


     - Làm chi, vô ích. Không lẽ tôi đi kể cho một cái máy nghe à?


     - Anh phải biết nể nang chứ. - Trại trưởng tự ái nhưng kìm được - Tôi là kẻ biết suy nghĩ kia mà!


     - Không. Chẳng có gì khác nhau. Có khi còn nguy hiểm hơn, trại trưởng ạ. Kẻ thì dùng đánh đập để lấy cung. Kẻ thì dùng miệng lưỡi ngọt ngào...


     - Anh nỡ nghĩ về tôi như vậy sao, anh Đước? Tôi chỉ muốn làm sáng tỏ về anh, tôi biết anh bị oan. Chỉ riêng việc chưa thành án mà anh bị bí mật giam ở đây đã đủ nói lên có sự mờ ám rồi.


     - Đừng dụ dỗ vô ích. Tôi không là con nít. Tôi không nói đâu. Coi chừng, tôi có cú đấm ghê hồn đó.


     Trại trưởng cười thật độ lượng, mắt nhìn vào mắt Đước:


     - Tôi biết chắc là anh sẽ không bao giờ sử dụng cú đấm ấy với tôi.


     “... Tại sao hắn tỏ ra rất thương mình, tôn trọng mình, mà điều duy nhất có ý nghĩa, hắn có thể giúp mình là nhắn tin cho Trầm, hắn lại không làm?”. Đước bị dày vò rất nhiều, đau khổ rất nhiều về chuyện không làm sao tự giải oan được. “Mọi người có tin là mình bị bắt về tội tổ chức vượt biên không? Còn Trầm, em sống và làm việc sao được với dư luận: “Ba vượt biên; anh ruột tổ chức vượt biên, bị bắt giam biệt xứ!”?... Chắc chắn là em sẽ khổ nhiều; xã hội, cơ quan sẽ nghi kị. Riêng em, anh nghĩ là không bao giờ em tin lời bịa đặt ấy... Biết đâu giờ này em đã tìm thấy ba rồi. Cầu mong cho em tìm thấy ba. Còn nếu chưa tìm được ba thì cầu mong cho em hãy giữ vững ý chí”.


     Đước ăn hết hai tô cháo hành nóng lột lưỡi. Mồ hôi anh túa ra. Anh biết mình đã qua cơn sốt hiểm nghèo.



(còn tiếp)


Nguồn: Trả giá. Tiểu thuyết của Triệu Xuân. NXB Văn Nghệ TP Hồ Chí Minh in lần đầu và lần thứ hai năm 1988. Các NXB Văn học, NXB Hội Nhà văn tái bản nhiều lần. Bản điện tử này theo bản in lần thứ 8 của NXB Văn học, năm 2007.


www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
xem thêm »