tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20525920
Tiểu thuyết
27.03.2009
Hoài Anh
Vua Minh Mạng

Một viên nội thần tâu xin phép vua bắn chín tiếng đại bác chào mừng. Để kết thúc buổi lễ, một viên quan tâu “Lễ thành”. Vua lên xa giá trở về điện Cần Chánh.


Bá quan theo chầu, đứng cả trước sân điện để lạy mừng năm lạy. Lần này ngoài văn võ bá quan ra, còn thấy một số người trong hoàng tộc cùng các cậu con quan đã được tập ấm(1) ra sắp hàng lạy mừng năm lạy.


Sau khi buổi lễ chấm dứt, ngoài việc dán chiếu văn tại Phu Văn Lâu bộ Lại còn có nhiệm vụ gửi khắp các tỉnh để mọi người đều biết.


Mở đầu bài bố cáo nói đến sự quan trọng trong việc lựa chọn người kế vị để thờ phụng tôn miếu xã tắc. Tiếp đến ca tụng công đức của vua cha võ công hiển hách tạo lập cơ đồ, củng cố ngôi báu, ân huệ thấm nhuần trăm họ, tại vị 18 năm, ân cần lo lắng công đức sánh tầy trời đất. Không ngờ cõi hạc xa chơi để đau buồn cho cả non sông cây cỏ.


Sau đó, vua Minh Mạng bày tỏ nỗi lo âu tài hèn đức bạc mà phải gánh vác nhiệm vụ nặng nề.


Đó không phải là những lời khiêm tốn theo lối hành văn ước lệ dùng nhiều sáo ngữ như trước đây, mà quả thật vua Minh Mạng cảm thấy nhiệm vụ nặng quá sức mình.


Đầu tiên là việc đối xử với những “công thần trung hưng” như Lê Văn Duyệt.


Sau khi vua Gia Long lên ngôi hoàng đế, công việc kiến quốc còn ngổn ngang nên trong mấy năm đầu triều nghi còn giản dị. Nhưng sau khi quan Thượng thư bộ Lễ Trịnh Hoài Đức đi sứ bên Trung Hoa về thì các chi tiết về triều nghi đều phỏng theo kiểu của triều Thanh. Đi sứ về, Trịnh có mang về dâng lên vua một cái áo long bào may theo kiểu của Mãn Thanh.


Lần đầu tiên, Lê Văn Duyệt vào chầu và cũng lần đầu tiên vua Gia Long mặc áo long bào kiểu mới ngự trên ngai để các quan văn võ vào triều bái. Theo thứ tự các quan văn quan võ vào chầu mỗi vị lạy vua năm lạy trước sân chầu rồi phân ra đứng hai bên ngai vua trong điện Thái Hòa. Đến phiên Lê Văn Duyệt thì chẳng những ông không lạy năm lạy ngoài sân chầu mà còn đi thẳng vào diện Thái Hòa lại gần ngai vua dựa vào tay ngai mà nói chuyện thân mật với vua như trước đây vậy. Thấy thế Thượng thư bộ Lễ Trịnh Hoài Đức bèn rón rén đi nhón gót lìa hàng của mình lại gần sau lưng Duyệt kéo áo ông mà khẽ biểu ông ra sân chầu bái mạng.


Duyệt cả giận bèn lấy tay hất mạnh tay quan Thượng thư bộ Lễ mà nói lớn lên rằng: “Ngươi là đứa phùng nghinh. Ai có nịnh thì lạy. Ta không nịnh, ta không lạy”.


Sau đó Trịnh Hoài Đức tâu vua Gia Long nên viện cái lệ đối xử với các vị công thần khai quốc và trung hưng trước đây, ban cho Duyệt một ghế ngồi nhưng không ở sát gần ngai vua mà ở về bên tả điện. Được cái là Duyệt vào trấn ở Gia Định chỉ năm thì mười họa mới về chầu vua nên sự đặt ghế ấy cũng không lấy gì làm quan trọng cho lắm.


Thứ hai là việc đối xử với những người Pháp.


Trước đây vua Gia Long đã có lệ, cho bốn người Pháp: Philippe Vannier, tên Việt là Nguyễn Văn Chấn, chức Khâm sai chưởng cơ, tước Chấn oai hầu, Jean Baptiste Chaigneau, tên Việt là Nguyễn Văn Thắng, chức Chưởng cơ, tước Thắng toàn hầu, De Forçant, tên Việt là Lê Văn Lăng, chức Chưởng cơ, Victor Olivier de Puymanuel, tên Việt là Tín, chức Vệ úy Vệ ban trực hậu quân Thần Sách, chỉ những buổi đại triều mới phải có mặt, nhưng được đứng ở bên hữu điện chứ không phải lạy dưới sân chầu. Hiện nay, De Forçant và Olivier đã chết, Chaigneau xin về Pháp nghỉ, chỉ còn lại Vannier.


Trong buổi lễ đăng quang của Minh Mạng, khi thông tán xưởng “Cúc cung bái”, các quan đều lạy, khi xướng “Bá quan giai quỵ” các quan đều quỳ cả xuống.


Vannier theo lệ cũ, chỉ bỏ mũ ra giơ trong tay và cúi đầu chào vua. Minh Mạng thấy cảnh đó rất chướng mắt, thầm nghĩ, khi mình lên làm vua thì không thể để như thế được.


Minh Mạng lại nghĩ, phụ hoàng mình cũng là vị vua sáng nghiệp như Hán Cao tổ Lưu Bang. Lưu Bang khi khởi binh ở đất Bái, chỉ là một viên đình trưởng, đối với các tướng thân mật như anh em, mọi người gọi ông là Lưu Tam có nghĩa “Anh Ba Lưu”. Sau khi Lưu Bang thắng Hạng Võ, tế Trời lên ngôi vua, không cử hành lễ triều hạ, cho nên đám anh em cùng ông tạo phản đoạt thiên hạ, vẫn coi hoàng đế như đầu lĩnh “Lưu Tam đại ca”. Khi hoàng đế chủ trì triệu tập hội nghị quốc vụ, những quan được phong thượng thư, đại tướng, người nào người nấy uy phong lẫm lẫm, uống rượu, cãi nhau, kêu la ầm ỹ, mượn cớ say giả điên làm tàng, rút kiếm ra chém bể bàn ghế của phòng họp quốc vụ… Hiện tượng đó kéo dài hơn một năm, Lưu Bang cũng chán ghét. Do đó có người ở Sơn Đông tên Thúc Tôn Thông tự nguyện đến, biên soạn một bộ nghi thức triều hạ hoàng đế, trước tiên do ông ta chiêu mộ học sinh đến diễn tập thành thục, lại mở lớp dạy, để tất cả các quan chức đều tiếp thụ bồi dưỡng huấn luyện.


Cuối cùng cuộc tập huấn nghi thức triều hạ được chính thức cử hành ở cung Trường lạc mới lạc thành. Hôm đó trời còn chưa sáng, bá quan từ sớm đã đến tập hợp trước cửa cung đều theo trật tự xếp hàng nghiêm chỉnh, do lễ quan dẫn vào đại sảnh, đứng ở phía đông, mặt chầu về phía tây, bên cạnh đều có vệ sĩ toàn thân vũ trang đứng kèm thúc không cho nói năng cử động bừa bãi. Trong khi mọi người im bặt, xa xa truyền đến tiếng thét hoàng đế ngự giá tới, tiếng này tiếp tiếng khác, từ xa đến gần. Đợi đến khi hoàng đế ngồi lên ngai vàng, mọi người cùng hành lễ quỳ lạy, rồi dựa theo đẳng cấp cao thấp, luân phiên nâng chén kính chúc hoàng thượng trường thọ. Lễ quan truyền: “Bãi tửu” thì không ai dám uống một giọt: nếu ai có động tác phạm vào quy củ, lập tức bị viên giám sát bắt giải đi. Toàn thể nghi thức trong quá trình cử hành, mọi người nghiêm túc cung kính, không nghe một tiếng ồn ào, không thấy có một chút thất thố. Lưu Bang cao hứng nói: “Ta đến hôm nay mới biết làm hoàng đế là tôn quý! Lập tức cử Thúc Tôn Thông làm Thái thường coi việc điển lễ Hoàng gia, ban cho 500 cân vàng.


Việc Trịnh Hoài Đức định ra nghi thức điển lễ để phân biệt tôn ti trật tự triều đình chẳng khác gì việc của Thúc Tôn Thông ngày trước. Khi Trịnh Hoài Đức đi sứ nhà Thanh về, Minh Mạng hỏi chuyện được biết khi sứ thần Anh cát lợi vào triều, không chịu làm lễ khấu đầu quỳ lạy, vua Gia Khánh không chịu tiếp. Minh Mạng lại hỏi Trần Văn Học được biết Nã phá luân đệ nhất đã bình luận chuyện găng trì về lễ khấu đầu này như sau: “Hoàng đế Trung Quốc có quyền được người khấu đầu, Anh quốc nên ra lệnh cho sứ thần của mình phục tùng thỉnh cầu khấu đầu đồng thời yêu cầu đại sứ Trung Quốc khi đến Luân Đôn cũng tuân hành nghi lễ nước Anh. Vào nước lạ hỏi điều cấm đoán, là lẽ đương nhiên. Hành lễ trước vua nước khác, theo tục của họ, cũng không tổn hại đến tôn dung”. Đến đại đế nước Phú Lang Sa còn nói như vậy, huống hồ mấy người Phú sang đây ngày trước không phải sứ thần mà chỉ là thần hạ nước ta, lại không chịu khấu đầu trước hoàng đế nước Đại Nam hay sao?


Minh Mạng có ý định báo cho Vannier biết, từ nay miễn cho ông ta việc vào dự đại triều, nếu ông ta thấy mình đối xử lạnh nhạt, chán nản bỏ về Pháp thì càng hay, đỡ lo sinh hậu hoạn.


Buổi lễ xong, Trịnh Hoài Đức hỏi Thượng thư bộ Lễ Phạm Đăng Hưng:


- Ngài thấy buổi lễ hôm nay như thế nào?


Phạm Đăng Hưng nói:


- Bẩm quan huynh, cũng nhờ trước đây quan huynh ngồi bộ Lễ đã định ra lễ nghi chỉnh tề, nay lại bổ sung cho đầy đủ, chúng tôi cứ theo đó mà làm nên lễ mới thành công viên mãn như vậy.


- Cũng vì trước đây quan Tả quân trách tôi, nên tôi mới tên vua để cho ông ấy được ngồi ghế mà không phải lạy. Nhưng tôi để ý trong buổi lễ hôm nay, khi thấy quan Tả quân và ông Chấn - chỉ cúi đầu chào, nét mặt nhà vua lộ ra vẻ không hài lòng. Sau khi Nguyễn Văn Thành chết thì Tả quân tâu xin tiên đế cho mình vào làm Tổng trấn Gia Định thành. Biết nếu xử không khéo có thể xảy ra đổ vỡ nguy hiểm, nên tiên đế buộc lòng phải cho Tả quân vào trấn đất Gia Định, nhưng lại sợ vạn nhứt Người thăng hà, Tả quân đang cầm trọng binh ở ngoài cõi, sẽ có chuyện không hay cho tân quân, nên nhân khi Tả quân vào triều, Người đã vời Tả quân và quan huynh vào nội điện, giao di chiếu và ân cần dạy Tả quân phò tân quân, lại giao cho Tả quân kiêm lĩnh cả năm dinh quân Thần Sách để tỏ lòng tin cậy. Trong tình thế này quan huynh cũng nên khuyên nhà vua, nếu không bằng lòng Tả quân cũng cố chịu đựng, đừng để xảy ra chuyện bạo loạn trong khi nhà vua mới lên ngôi.


Phạm Đăng Hưng cho là phải liền vào điện tâu với vua Minh Mạng.


Vua Minh Mạng thấy mình phải bỏ biềm riêng, lấy vịêc nước làm trọng, nên chuẩn y lời tâu của Phạm Đăng Hưng.


Đứng phía sau huyệt mộ nhìn thẳng ra trước và hơi xa một chút, vua thấy núi Thiên Thọ hình dẹp trên chóp và triền núi thông mọc thưa thớt. Hai trụ biểu xây bằng vôi gạch dựng hai bên như dùng để định rõ giới hạn giữa cảnh lăng tẩm uy nghiêm trầm mặc với khoảng trời đất bao la.


Trên đường trở về, vua đi qua một khu rừng trồng thông, mít, chè mới trồng thì đến một khu rừng rậm. Bất đồ một con hổ cái từ trong rừng xông ra, gầm thét dữ tợn. Thái hậu thấy hổ thì mặt mày xanh xám, run bắn người lên vì sợ hãi. Minh Mạng bình tĩnh, giật lấy súng từ một quan hầu, nhằm bắn chết con hổ cái, và sai quân vào bắt hổ con mang về nuôi. Khẩu súng ấy mệnh danh là “sát hổ”. Vì trước đó Minh Mạng đã một lần dùng khẩu này để bắn chết một con hổ dữ, từng làm nhiều dân làng bị chết và bị thương.


Hôm sau, vua sai quân lính vây quanh cả vùng núi Thiên Thọ để bắt thú dữ. Kết quả 2 con hổ và 5 con nai bị sa lưới.


Minh Mạng lại lấy lòng Duyệt, vời Duyệt vào an ủi và cử Duyệt làm Tổng bộ sứ trong coi toàn bộ lễ tang vua Gia Long, theo nghi thức đã định, Phụ tá cho Lê Văn Duyệt có Lê Chất, Nguyễn Văn Nhơn và Nguyễn Đức Xuyên. Tôn Thất Bình sung chức Phù luyện có Tôn Thất Định phụ tá. Tống Phúc Lương giữ chức Sơn lăng sứ có Nguyễn Xuân Phục phụ tá. Trương Tấn Bửu, Nguyễn Văn Vận, Nguyễn Văn Trí và Mai Văn Tánh chỉ huy hai đạo quân tả hữu theo hầu đám tang.


Lê Văn Duyệt mặc nhung phục đầu bịt khăn trắng cùng các võ quan điều khiển tang lễ. Dư quân(1) gánh đại thăng dư(2) vào đặt tại chính giữa lô điện(3) xây về hướng nam, đoạn đứng hầu chờ mệnh lệnh.


Một viên quan bộ Lễ lạy trước tử cung xin phép khiêng ra đặt vào bàn đại thăng dư. Các hoàng thân đã được phong tước cầm minh tinh, thần bạch, thần chủ thành vị và linh toạ. Nội giám bưng các tráp kim sách, thụy sách và các vật của vua Gia Long thường dùng hàng ngày.


Dư quân vào trước sân điện lạy bốn lạy chia thành hai toán tả hữu bước lên thềm trong khi ấy những người dự sự cất hết những tấm màn vàng bao phủ chung quanh tử cung. Dư quân gánh tử cung đầu quay về hướng nam đem ra đặt lên đại thăng dư. Lúc bấy giờ người ta phủ lên tử cung một tấm màng điểm hoa. Linh tọa của vua Gia Long gánh ra đặt trước đại thăng dư và cũng quay về hướng nam. Thần bạch đặt ở giữa, phía sau thần chủ thánh vị, hai bên kim sách, minh tinh cùng các thứ ngự dụng.


Giờ Mão ngày 13 tháng tư (24-5-1828), một vị đại thần bộ Lễ lạy trước tử cung xin long giá(1) khởi hành.


Đám tang theo thứ tự đã hoạch định sẵn từ từ lên đường. Dư quân miệng ngậm thẻ, từ cửa Hoàng Nhơn đưa ra khỏi hoàng thành rồi do cửa Thể Nhơn ra ngoài kinh thành. Minh Mạng mặc tang phục xổ trôn đi chân không theo hầu đại thăng dư, một số hoàng thân và bá quan hộ tùng.


Đám tang ra khỏi kinh thành thì một lá cờ trắng kéo lên kỳ đài, lệnh phát chín tiếng. Hoàng mẫu hậu, các công chúa, vợ các hoàng thân hoàng điệt, các bà mạng phụ trong màn vải, do một con đường khác ít đông đúc, đến trước chực sẵn ở bến đò.


Tại đây đã dựng sẵn lô điện. Đám tang lúc đến tạm đặt ngay giữa lô điện để nghỉ ngơi trong chốc lát. Một viên quan bộ Lễ quỳ tâu rước long giá xuống thuyền. Một quan khác quỳ tâu để rước thần bạch. Thế rồi các quan lần lượt chuyển vận tất cả xuống thuyền sắp đặt tề chỉnh.


Ngày 14 từ sáng sớm, quan Tổng bộ sứ lại ra lệnh khởi hành, chiếu theo một đồ bản đã vạch sẵn. Các đình chùa, miếu vũ các nơi quang đãng, của các làng xã nằm dọc theo bờ sông, đều đặt hương án, hai bên che lọng đen thắp nến, đốt hương trầm, lúc thuyền đám chèo ngang qua, các nhà sư tụng kinh gõ mõ, các hương chức quỳ xuống lạy bốn lạy để tiễn đưa.


Chiều ngày 15, đám tang đến bên lăng Thiên Thọ. Suốt cả đêm, đèn đuốc sáng rực cả một vùng.


Giờ Mão ngày 16, quan Khâm thiên tuyên bố giờ lành. Quan đại thần bộ Lễ quỳ tâu rước long giá lên bộ. Quan Tổng bộ sứ điều khiển mấy người dự sự và dư quân, theo trật tự đã ghi trong đồ bản mà khởi hành. Đường lên núi mỗi lúc một khó khăn, nhưng dư quân đã dày công luyện tập nên tử cung vẫn thăng bằng không mảy may dao động.


Minh Mạng đi trên một cỗ xe kéo cùng với các hoàng thân, các đại thần hộ tùng theo hầu sau bàn đại thăng dư. Đại thăng dư gánh đến trước điện Minh Thành lên tam cấp, đem đặt vào giữa lô điện, đầu xây về hướng nam. Một viên quan bộ Lễ quỳ tâu với thần bạch xin rước lên điện Minh Thành. Chiếc xe kéo thần bạch đến tam cấp điện thờ thì ngừng lại. Viên quan bộ Lễ lại quỳ, xin rước thần bạch xuống xe để đem đặt lên thần tọa. Việc bưng thần bạch từ xa lên thần tọa, do một hoàng thân, em vua Gia Long phụ trách. Người ta đặt thần chủ nằm ngay sau lưng thần bạch. Những tráp kim sách, kim bửu và các ngự dụng đều đem sắp cả ở hai bên. Các bàn hương án, minh khị, bàn đựng hào soạn theo thứ tự để trước lăng.


Giờ Dậu, quan đại thần bộ Lễ quỳ tâu: “Hôm nay chọn được giờ lành, xin đem tử cung đặt vào huyền cung”.


Quan Tổng bộ sứ ra lệnh cho những người dự sự và dư quân mang tử cung đặt xuống huyệt, đoạn rẽ ra hai bên đứng hầu.


Minh Mạng thôi không khóc nữa, bình tĩnh đến trước huyệt, nhìn xem thử các quan đặt tử cung có ngay thẳng và đúng phương pháp không. Trễn tử cung phủ tấm màn và trên nữa trải tấm minh tinh.


Bên trái của lăng đã đào sẵn một cái hố sâu làm nơi chôn minh khí(1). Trước huyền cung đã dựng sẵn một ngôi nhà tạm. Ngay giữ ngôi nhà này, có kê một cái hương án, trước hương án là bàn dùng đặt tráp đựng những tấm lụa để cúng người chết, tráp đựng thể sách, phía ngoài trải sẵn một chiếc chiếu để vua Minh Mạng đứng hành lễ.


Khi tử cung đã nằm yên trong huyền cung rồi, vua Minh Mạng cùng các hoàng thân, đình thần, làm lễ tấn tặng. Sau khi dâng tuần rượu, Minh Mạng quỳ xuống trước bàn thờ. Quan bộ Lễ xướng “Tấu tấn tặng tệ”, viên chấp sự quỳ dâng giấy vàng bạc, hương đèn, trầm trà, cau trầu, rượu và mấy cây lụa. Minh Mạng cầm mấy cây lụa đặt lên ngang trán, ngụ ý dâng tặng tệ lên vua cha, đoạn giao lại cho viên chấp sự đặt lên án.


Tiếp theo, viên quan bộ Lễ tâu: “Tấu tấn minh khí sách”, quan chấp sự quỳ dâng tráp đựng minh khí. Công việc giống hệt lúc làm lễ tấn tặng tệ.


Lễ chấm dứt thì một quan chấp sự đem tặng tệ đến huyền cung trải lên minh tinh, còn những quan khác mang tráp đựng minh khí sách, tráp đựng thể sách, những vật ngự dụng hàng ngày, bàn đại thăng dư... đến bên sườn núi đốt cháy thành tro, rồi chôn trong cái hố đã đào sẵn.


Các hoàng thân, các quan vội vàng rút lui để nhường chỗ lại cho các bà. Trước đó, lúc đám tang từ giã bến đò để lên lăng thì các bà Hoàng mẫu hậu, Thái trưởng công chúa, nội cung, phủ thiếp (vợ các hoàng tử), mạng phụ đã lên trước chực sẵn ở điện Minh Thành và đợi khi cử hành lễ tấn tặng xong, các quan rút lui hết, các bà mới đến trước huyền cung làm lễ. Và lễ xong, trở vào tạm trú tại một ngôi nhà sau điện Minh Thành.


Người ta chụp lên trên tử cung một cái quách, rưới lên một lớp nhựa thông rồi đến lớp đá cuội.


Minh Mạng và các người tùy tùng vào điện Minh Thành làm lễ tịch điện.


Ngày 17, các quan dự sự sửa soạn lễ Sơ ngu gồm có tam sinh và hào soạn. Tấm lụa đã dùng để thắt thần bạch đem chôn trước điện Minh Thành. Minh Mạng thân hành bưng thần chủ được quan Khâm mạng đề trước đó đặt lên chiếc xe vua Gia Long thường dùng, còn thái giám mang kim sách và thể sách đặt hai bên thần chủ, xe kéo đến bến và rước lên thuyền. Lúc trở về kinh thành, cũng chính Minh Mạng tự tay bưng thần chủ đặt vào giữa điện Hoàng Nhơn và làm lễ an vị. Lễ an vị cử hành xong thì trên kỳ đài kéo lên lá cờ vàng và lệnh phát năm tiếng súng.


Sau khi tang lễ hoàn tất, Minh Mạng cử Duyệt làm chức tổng trấn Gia Định thành, tất cả các việc thăng giáng quan lại, dấy lợi trừ hại, công việc trong thành, mưu kế ngoài biên, đều được tiện nghi làm việc. Duyệt tâu rằng: “Trước kia tôi đi kinh lược Thanh Nghệ, có các nhân phạm Thanh Nghệ và Bắc Thành ra thú được miễn tội cho làm tiêu thuộc. Nay xin đem đi để sai phái”.


Mới nghe, Minh Mạng trong lòng ngờ vực, nhưng chợt nghĩ đến lời dạy của Trịnh Hoài Đức, phải biết dùng thuật chế ngự nhân thần. Mà cái thuật đó thì không ai bằng Hán Cao Tổ biết cách “điên đảo anh hùng”. Khi muốn lấy lòng Hàn Tín thì không ngần ngại phong cho Tín làm Sở vương, nhưng sau đó lại giả đi chơi Vân mộng, khi Tín ra đón tiếp thì bắt trói Tin để ở sau xe. Kế đó lại làm ơn tha Tín, nhưng giáng xuống làm Hoài Âm hầu, không cho giữ binh quyền. Khi dùng ân, khi lại dùng uy, có thế mớm nén được cái khí của nhân thần không để cho khinh nhờn lất át được mình. Minh Mạng cứ ưng cho lời yêu cầu của Duyệt, nhưng tự dặn mình phải hết sức đề phòng, nếu Duyệt có đem lòng kia khác sẽ kịp thời đối phó. Minh Mạng nhớ lại phụ hoàng mình cũng đã dùng thuật đó để chế ngự Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường. Ngay cả với Binh bộ thượng thư Lê Quang Định, khi biết Định cấp cho Lưu thủ Quảng Đức Nguyễn Công Hòa 20 tên lính để theo về thăm nhà, phụ hoàng mình cũng ra lệnh bắt trói Định, giao đình thần xét hỏi rồi mới tha cho, huống hồ đối với người khác.


(còn tiếp)


Nguồn: Vua Minh Mạng. Tuyển tập truyện lịch sử của Hoài Anh. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


 







(1) Tập ấm: các quan chức tước lớn, con cháu được hàm phẩm của nhà nước ban cấp.




(1) Dư quân: lính gánh đám tang.




(2) Đại thăng dư: tức bàn đại dư.




(3) Lô điện: ngôi nhà tạm dựng lên để bàn đám.




(1) Long giá: dùng để nói bàn đám của vua.




(1) Minh khí: những thứ dùng để đốt cho người chết.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
xem thêm »