tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20229774
Tiểu thuyết
26.03.2009
Hoài Anh
Vua Minh Mạng

Nhưng Hàn Phi vẫn chưa hoàn toàn hài lòng với Thưởng Ưởng, bởi vì Thưởng Ưởng chỉ là làm ra pháp mà không dụng thuật. Hàn Phi nói: “Không có thuật để nhận biết kẻ gian, thì dù cho có phú cường cũng chỉ nuôi béo kẻ nhân thần mà thôi. Hiếu Công, Thương quân chết, Huệ Vương lên ngôi, mà phép nước Tần vẫn chưa bại. Nhưng Trương Nghi dùng Tần đánh Hàn, Ngụy. Huệ Vương chết Vũ Vương lên ngôi, Cam Mậu dùng Tần đánh Chu. Vũ Vương chết, Trang Tương Vương lên ngôi, Nhương hầu vượt Hàn, Ngụy mà đánh Tề ở phía đông, năm năm mà Tần không lợi một tấc đất nào, mà thành trở nên đất phong Đào ấp của Nhương hầu. Ứng hầu đánh Hàn tám năm, thành cái đất phong Nhữ nam của ông ta. Từ đó đến nay, những kẻ dùng Tần đánh các nước, đều là loại Ứng hầu, Nhương hầu. Cho nên chiến thắng thì đại thần thành tôn quý, được đất thì phong lập riêng, đó là do chúa không có thuật để biết kẻ gian vậy. Thương quân tuy hết sức hoàn thiện pháp của ông ta, nhân thần trái lại dùng làm của riêng, mấy chục năm mà Tần không tới được bậc đế vương. Pháp tuy chăm lập phải có quan sửa sang, chúa không có thuật là cái lo của bề trên. Bởi vậy Hàn Phi muốn sử dụng cái thuật của Thân Bất Hại. “Thuật là nhân nhiệm vụ mà trao chức uqan, dựa theo danh mà cung cấp cái thực, nắm cái quyền sát sinh, thi khảo tài năng của quần thần. Đó là điều bậc nhân chủ phải nắm”. Đó là nói, thuật là thủ đoạn, là thủ đoạn của nhân quân chế ngự nhân thần”.


Lời giảng của thầy khiến Đảm vụt sáng ra. Phụ hoàng ta tuy thánh trí, vẫn chưa đủ thuật để chế ngự những quyền thần như Lê Văn Duyệt, Lê Chất. Chinh chiến mấy chục năm, tiếng rằng có đất đai từ nam ra bắc, nhưng không có lợi cho triều đình, mà chỉ nuôi béo bọn quyền thần. Tổng trấn Bắc thành và Gia Định thành đều coi Bắc thành và Gia Định thành như đất phong riêng của họ chẳng khác gì bọn Ứng hầu, Nhương hầu đời Tần, Họ tự cắt đặt quan chức xong xuôi mới bẩm triều đình cho có lệ, công khố họ tự ý chi tiêu ban thưởng cho tay chân vây cánh của họ. Ở mỗi thành đều có quân đội riêng. Không được! Khi Đảm chính thức lên ngôi vua sẽ không thể duy trì tình trạng vô pháp vô quân đó được. Vừa phải đặt thêm pháp trị nhân thần, vừa phải có thuật chế ngự nhân thần. Làm điều này, Đảm hy vọng Trịnh Hoài Đức sẽ là cánh tay đắc lực của mình.


Đảm liền hỏi Trịnh Hoài Đức:


- Thưa thầy, lần trước thầy có giảng về thuyết chính danh của Khổng Phu Tử, xin thầy nói thêm cho rõ.


- Tử viết: “Danh bất chính tắc Ngôn bất thuận, Ngôn bất thuận tắc sự bất thành”. Đó tức là nói trong đời thường danh là để chỉ sự vật, sự thể có thật. Mỗi vật mỗi người đều có một tên mà người ta dành cho nó. Muốn chính danh thì cái tên phải tương ứng với sự thật. Một Danh không tương ứng với sự thật là một giả danh, là hư ngụy, bất chính. Phu Tử cũng nói: “Cô bất cô, cô tai cô tai!” Ly là phải vuông góc, góc không vuông thế này mà cũng vẫn gọi là ly ư? Thế là cái bất chính! Cái ly bất chính là tội ở người trên chứ không phải do cái bọn làm ly, làm cốc. Mục tiêu của Chính danh là lập ngôn thuyết để thực thi chính đạo. Danh chi, Ngôn chi, Hành chi. Phương án giáo dục của Phu Tử là: Hưng ư Thi, lập ư Lễ, thành ư Nhạc, khởi hứng bằng thi ca, dạy dỗ uốn nắn bằng lễ nghi, kỷ cương, để đạt tới sự hài hòa thanh cao ở nhạc.


Tan buổi học, Đảm nói với Trịnh Hoài Đức, lần này là lời một Thái tử nói với một đại thần:


- Từ nay khanh hãy chú ý giúp Phạm Đăng Hưng định ra lễ nghi, kỷ cương của triều đình. Chẳng hạn như lễ an táng của hoàng đế, lễ đăng quang của tân quân, lễ triều yết của các quan, đều phải có lệ luật rõ ràng để mọi người cứ thế mà tân hành, làm khuôn phép cho triều đình và đất nước ta muôn ngàn đời về sau.


Trịnh Hoài Đức đi rồi, Đảm lai giở bộ Đường thi ra đọc để tiêu khiển. Nhưng lần này Đảm không chỉ thưởng thức lời thơ hay đẹp mà có để ý liên hệ lời thơ với chính sự của đất nước, đó là lần đầu tiên Đảm thực hiện phương châm “Hưng ư Thi, lập ư Lễ, thành ư Nhạc” của Phu Tử.


Vừa đọc, Đảm vừa nghĩ đến cách chính danh cho nước ta, nên gọi tên nước ta là gì? Đọc bài Đằng Vướng Các phú của Vương Bột, Đảm tán thưởng câu Lạc hà dữ cô vụ tề phi, Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc(1), nhưng không thích câu Thỉnh Chung Quân chi trường anh, ý Vương Bột muốn noi gương Chung Quân xin vua Hán cái dây để buộc vào cổ vua Nam Việt lôi về. Như vậy cái tên Nam Việt của Triệu Đà cũng không nên dùng, vì dù sao Triệu Đà cũng là người Tàu. Vương Bột có cha làm quan đô hộ ở Giao Chỉ, trên đường đi thăm cha đắm thuyền bị chết đuối! Đáng kiếp cho anh chàng ôm cái mộng bành trướng xâm lược! Đọc đến bài Tống sứ An Tây của Vương Duy với câu thơ bất hủ: Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu, Tây xuất Dương quan vô cố nhân.(1) Đảm thầm nghĩ An Tây tức An Tây đô hộ phủ đời Đường. An Tây đô hộ phủ là cơ quan để đô hộ các nước phía Tây Trung Quốc như Ô Tư, Sơ Lặc, Vu Chân, Yên Kỳ... An Đông đô hộ phủ là cơ quan để đô hộ nước Triều Tiên. An Nam đô hộ phủ là cơ quan để đô hộ nước ta. Từ trước đến nay, Trung Quốc vẫn phong cho vua đời Lý, Trần, Lê là An Nam quốc vương. Đến phụ hoàng ta, thấy dùng chữ An Nam là nhục cho quốc thể, sai sứ là bọn Lê Quang Định, Trịnh Hoài Đức sang cầu phong, xin đổi quốc hiệu là Nam Việt. Vua Thanh sợ rằng Nam Việt vốn là nước cũ của Triệu Đà, khi đó bao gồm cả đất Quảng Đông, Quảng Tây, nếu phong là Nam Việt quốc vương, e sau này ta sẽ kiếm cớ đòi lại Quảng Đông Quảng Tây, nên bắt đổi là Việt Nam, ý là Lạc Việt (một trong Bách Việt) ở phương Nam.


Tuy các triều Lý, Trần, Lê nhận phong An Nam quốc vương, nhưng ở trong nước vẫn tự xưng là Đại Việt. Nếu lấy tên Đại Việt thì e rằng khiến lòng người còn nhớ nhà Lê, chi bằng lấy tên Đại Nam ngụ ý nước lớn ở phương Nam mà Ai Lao, Chân Lạp đều phải thần phục. Khi nào đăng quang, ta sẽ ban chiếu đổi quốc hiệu là Đại Nam.


Nhưng nước Đại Nam nên theo chính thể gì? Đảm hỏi Trần Văn Học được biết là bên Phú Lang Sa cũng đã từng có Cách mệnh, phe Cộng hòa nổi lên giết vua, lập chính thể Dân chủ. Không, cái gì chứ Dân chủ là nhất định không hợp với tình hình nước ta. Hay là dân chủ lập hiến như nước Hồng mao(2)? Tuy vẫn có vua, nhưng lại có Thủ tướng điều hành quốc sự, vua và Thủ tướng đều phải tôn trọng hiến pháp. Thế thì vẫn như cái thời vua Lê chúa Trịnh ngày truớc, vua chỉ là hư vị. Đảm đang muốn chế ngự bọn quyền thần ở các địa phương, thâu tóm toàn bộ quyền lực vào tay trung ương, xây dựng nhà nước pháp trị trung ương tập quyền đầu tiên trên đất nước này, vói cái danh “kiến trúc sư của nước Đại Nam”.


*


Thấy vua Gia Long mạnh khỏe trở lại, Đảm cùng hoàng tộc và các quan đều lấy làm mừng. Nhưng chẳng bao lâu bệnh cũ lại phát, vua nằm liệt giường không trở dậy được.


Hoàng tử Đảm cùng các con em và quan đại thần thường thường túc trực ở trong cung cấm hầu thuốc thang, thăm hỏi lúc ăn uống thức ngủ. Lúc bấy giờ mưa lụt, Đảm xông pha lội nước vào cung cấm, ngày đêm khăn áo không dám cởi, quên ăn bỏ ngủ, mỏi quá thì dựa vào cột tạm ngủ. Một hôm, Đảm đang dựa vào cột ngủ thì Trung sứ đến nói có lệnh vua vời vào hầu. Đảm lật đật vào thì thấy Gia Long người chỉ còn da bọc xương, mặt vàng như sáp, vẫy Đảm đến bên giường ngự và phán:


- Nay ta biết bệnh không qua khỏi, trong giờ khắc hấp hối, ta trối lại với con hai điều:


Một là bảo đảm thường xuyên một đội lính gác 50 tên để chăm nom lăng mộ Đức cha Bi - nhu quận công.


Hai là không được khủng bố những người theo một trong ba đạo đang lưu hành trong nước: Nho, Phật và Gia Tô vì việc cấm đạo bao giờ cũng tạo cơ hội cho những cuộc biến động và gây thù oán trong dân gian lại thường khi làm sụp đổ ngôi vua.


Hoàng tử Đảm biết rằng sở dĩ Gia Long trối lại như thế vì biết trong số hoàng thân, đại thần hầu chung quanh có người thân Pháp, nhưng vẫn kínhcẩn nói:


- Con xin ghi lời phụ hoàng căn dặn.


Ngày mồng 6 tháng Chạp năm Kỷ Hợi (20.1.1820), bệnh tình của vua trở nên trầm trọng, liền cho mời hoàng tử Nguyễn Phúc Đảm, các hoàng thân, hoàng tử cùng các vị đại thần Lê Văn Duyệt, Phạm Đăng Hưng vào chầu, để đi chiếu lại cho hoàng tử Đảm nối ngôi, cầm quyền trị nước.


Ngày 19 tháng Chạp (3.2.1820) vua băng hà tại điện Trung Hòa.


Vào lúc đó, bộ luật lễ nghi do Trịnh Hoài Đức và Phạm Đăng Hưng thảo ra cũng đã hoàn thành. Hoàng tử Đảm liền bắt mọi người chiếu theo đó để lo việc khâm liệm và an táng phụ hoàng theo nghi thức trọng thể chưa từng có ở đất nước này. Khi Trịnh Hoài Đức sang sứ nhà Thanh đã tìm hiểu về nghi lễ an táng vua Càn Long để tham khảo, lại chiếu theo mục Lễ nghi chí trong bộ Lịch triều hiến chương loại chí mà Phan Huy Chú mới dâng lên, để nghĩ định, cố sao cho vượt xa phép của nhà Lê.


*


Khi các ngự y đều tuyệt vọng, các viên quan dự sự mang long sàng ra đặt giữa chính diện, quay đầu về hướng đông để người chết hưởng sinh khí. Lễ này gọi là “Thiên chính tẩm” (dời chỗ nằm chính thức).


Mặc dù trước đó, vua đã gọi các viên đại thần vào chầu, để di chiếu và di chúc cho Hoàng tử Đảm nối ngôi và đã dặn dò mọi việc, nhưng trong giờ phút này âm dương cách biệt, các hoàng thân, đại thần chiếu theo nghi lễ, vẫn hỏi xem có trối trăng điều gì để chép lại. Vì quá nhọc mệt nên vua chỉ lắc đầu chứ không nói gì cả, hơi thở yếu dần. Những kẻ hầu cận mang quần áo mới đến thay cho vua rồi đặt bông lên mũi để biết rõ lúc nào ngừng thở hẳn. Một đôi đũa ngọc được đặt ngang miệng giữa hàm răng của người chết khiến hàm xai không thể ngậm chặt lại, gây khó khăn cho việc làm Lễ Phạn hàm tức là lễ bỏ những viên ngọc vào miệng vua.


Lúc bấy giờ tuy vua đã ngừng thở nhưng hơi ấm vẫn còn. Các quan mới rước xuống nằm giữa nền nhà trên chiếu kế vàng với hy vọng nhờ hơi đất có thể hồi sinh được.


Đó chỉ là một hành động theo lễ chứ không một ai nghĩ rằng vua có thể sống lại. Những người có nhiệm vụ trông coi việc khâm liệm áp lên ngực vua một tấm lụa trắng dài bảy thước gấp lại thành những khổ ngắn để lúc hồn thoát khỏi xác thì nhập vào. Lụa thắt thành thần bạch tức là hình nhân có đầu và hai tay hai chân. Trong lúc chưa có thần chủ, hồn nương tựa vào thần bạch.


Người ta dùng nước ngũ vị hương để tắm gội cho vua, xong mặc vào một bộ áo đại triều: mũ cửu long, áo hoàng bào, đai ngọc, chân đi hia, tay cầm ngọc trấn khuê như lúc dự những buổi thiết triều quan trọng.


Qua này hôm sau, vào giờ Thìn thì cử hành lễ tiểu liệm. Một chiếc giường đặt tại hướng tây của ngự tẩm trên đó trải chiếu hoa và lót nệm. Thi thể vua được mang sang chiếc giường này. Trên giường đã trải sẵn một dung lụa dài mười bốn thước, ba đoạn lụa khác, mỗi đoạn dài sáu thước, nằm vắt lên trên. Các đầu lụa đều xé làm ba để tiện việc buộc lại sau khi đã bó chặt xác chết. Tiếp theo lễ tiểu liệm là lễ đại liệm. Một chiếc giường đặt tại hướng đông ngự tẩm, cũng trải nệm và chiếu hoa, trên ấy cũng có những dung lụa như tiểu liệm. Chỉ khác một điều là năm khổ lụa trải ngang chứ không phải như ở tiểu liệm.


Ngoài những dung lụa của tiểu liệm, còn có chăn liệm, chữ gọi là “khâm” bó ra ngoài: lại còn tạ quan, tức thứ hàng lụa bọc ra ngoài trước khi bỏ thi hài vào tử cung.


Trong lúc cử hành lễ tiểu liệm và đại liệm, trên bàn thờ ngoài hương đèn trầm trà, còn có heo xôi để cúng người chết.


Khi thi thể của vua được đặt vào tử cung rồi, giờ mùi, thái giám hướng dẫn các quan văn võ trong triều từ nhị phẩm trở lên vào dự lễ. Hoàng tử Đảm khóc lạy hai lạy. Sau lưng ông có các hoàng thân, hoàng tử, đại thần, tôn tước, theo phẩm trật đến lạy trước tử cung. Các bà nội cung lần đầu tiên rời khỏi nơi cung cấm ra một nơi đông đảo để khóc lạy vua đã mất.


Kể từ ngày 21, nghĩa là sau hai hôm, ngày nào cũng có lễ triêu điện,tịch điện mỗi lần hai mâm hào soạn.


Ngày 22 tháng Chạp, Hoàng tử Đảm phái hoàng tử Kiến An, con thứ năm của Gia Long vào điện Hoàng Nhơn cáo bà Thừa Thiên Cao hoàng hậu (Tống thị) biết, xin phép dời linh vị của bà qua gian nhà phía bên hữu để đến ngày 24 tiện việc đưa tử cung của Gia Long vào gian giữa điện này.


Ngày 25 làm lễ thành phục, ngày 26. Hoàng tử Đảm vào điện Hoàng Nhơn khóc lạy và nhận di chiếu. Đình thần chọn ngày mồng một tháng giêng năm Canh Thìn (14.2.1820) làm lễ đăng quang tại điện Thái Hòa, đặt niên hiệu Minh Mạng, ban ân chiếu trong nước. Ngoài ra lại phái người cáo tri cho các nước lân bang.


 


II


Điện Thái Hòa xây theo kiểu “trùng thiềm điệp ốc”, nhà trước và nhà sau nằm trên cùng một mặt nền và nối lại với nhau bằng một hệ thống vì kèo thứ ba, nho nhỏ xinh xinh, đỡ một hệ thống trần được uốn cong lên như hình mai cua, gọi là trần vỏ cua. Bên trên trần này không có mái mà chỉ có một cái máng xối rất lớn bằng đồng dùng để hứng nước mưa từ mái sau nhà trước và mái trước nhà sau đổ xuống, gọi là trần nhà thừa lưu. Cái máng xối nhận nước, dẫn ra đầu máng rồi cho chảy xuống mái hạ hai miệng rồng đắp nổi như đang phun nước.


Hệ thống vì kèo nóc nhà sau tương đối đơn giản, chỉ làm theo kiểu “chồng rường - giá chiêng”, nhưng hệ thống vì kèo nóc nhà trước thì thuộc loại vì kèo “chồng rường - giá thủ” được cấu trúc tinh xảo. Toàn bộ các hệ thống vì kèo, rường cột, xuyên trên đầu liên kết với nhau một cách chặt chẽ bằng hệ thống mộng mẹo chắc chắn. Mái điện lợp ngói hoàng lưu ly chia ra làm ba tầng chồng mí lên nhau theo thứ tự từ cao xuống thấp, gọi là mái “chồng diêm” hoặc “trùng thiềm”. Dải cổ diêm được phân khoảng ra thành từng ô hộc để trang trí hình vẽ và thơ văn trên những miếng đồng tráng men nhiều màu gọi là “pháp lam” theo lối “nhất thi nhất họa”. Nóc điện, bờ mái đều chắp hình rồng theo kiểu lưỡng long triều nguyệt và hồi long. Giữa nóc tiền điện có trang trí bầu rượu bằng pháp lam. Những hàng cột hiên đắp bằng gạch và vôi vữa với đường kính thu nhỏ được cắm chân xuống mặt sân.


Ngôi nhà chính ở phần sau là chính điện có năm gian hai chái, ngôi nhà phụ ở trước gọi là tiền điện có bảy gian hai chái. Ở giữa tiền điện gần trên mái có treo tấm biển sơn son thếp vàng để ba chữ “Thái Hòa Điện” rất lớn, bên cạnh có ghi hàng chữ nhỏ nói đến năm xây dựng đầu tiên. Trần vỏ cua hạ thấp xuống như một giới hạn ngăn cách phần ngoài và phần trong của nội thất, tạo ra vẻ thâm nghiêm của chính diện, tại đó có thiết trí ngai vàng đặt trên ba tầng bệ. Phía trên ngai treo bửu tán bằng pháp lam trang trí hình cửu long, chung quanh còn rủ các lớp diềm bằng gỗ chạm lộng hình chín con rồng thếp vàng chói lọi. Phía trước ngai vua có đặt một cái bàn khảm cẩn xà cừ và ở phía sau có treo một bức trướng lớn thêu hình viên long. Trên trần gỗ ở mỗi lòng căn đều có treo lồng đèn gương lục giác hay bát giác.


Những dãy đố bản dựng lên ở sau lưng ngai vàng và ở phần tiếp giáp hai chái, tạo ra một hệ thống hành lang chạy quanh cả ba mặt của ngôi điện. Bên trên các dãy đố bản ấy cũng như khắp các mặt của hệ thống liên ba đều trang trí thơ văn và hình ảnh cách điệu theo lối “nhất thi nhất họa”. Tám mươi cột gỗ lim khá lớn ở nội thất được vẽ hình rồng đoanh, vờn cùng mây cụm trên sóng nước, gọi là “long vân thủy ba” vàng son rực rỡ.


Trước điện có sân chầu gọi là bái đình, chia làm 3 tầng, 2 tầng trên lát đá Thanh, tầng dưới lát gạch. Ở tầng trên có thiết trí một hàng chậu sành trồng cây cảnh đặt trên những chiếc đôn bằng đá chạm. Ở hai bên tầng dưới có 2 con nghê bằng đồng đứng quay đầu vào điện.


Chung quanh và trước mặt điện Thái Hòa, ra tận ngoài cầu Kim Thủy, hữu ty thiết đại triều nghi.


Quân quân y phục tề chỉnh, cờ xí đủ các loại, tàn lọng, binh khí, phủ việt, mao tiết, đề lô(1), phất trần, ngoài ta còn có một đội lính nhạc.


Trong điện thì sắp sẵn những cái bàn phủ lụa vàng gọi là “hoàng án” trên đó để những cái tráp đụng di chiếu, đựng ấn truyền quốc bửu tỷ và hộp son, tráp đựng kim sách, đạo cáo, chiếu văn, tráp đựng cổn miện ngự phục.


Đầu canh năm, sau khi ba hồi trống báo nghiêm chấm dứt, trên kỳ đài kéo lên một lá cờ vàng rất lớn.


Các hoàng tử, hoàng thân, tôn nhơn, văn võ đình thần mặc lễ phục theo phẩm trật lớn nhỏ sắp hàng tề chỉnh. Các hoàng thân đứng ở trên điện, còn bá quan đứng dưới điện trước sân chầu.


Vua Minh Mạng đội mũ cửu long, mặc hoàng bào, mang đai ngọc, chân đi hia, ngồi trên ngai điện Cần Chánh. Hữu ty sửa soạn xa giá và rước lên kiệu. Trước sau đều có nội thần, quân lính theo hộ tống. Ra đến điện Thái Hòa mới xuống kiệu. Hai nhà ở tả hữu của Đại cung môn chuông trống nổi lên. Từ điện Càn Nguyên phát ra chín tiếng lệnh, vua bước lên chín bậc của tầng bậc dưới và năm cấp của tầng bệ trên thềm điện tượng trưng cho ngôi “cửu ngũ” rồi ngồi lên ngai đặt chính giữa điện. Nội giám đốt hương trầm, các quan lạy năm lạy kim sách và hạ biểu (biểu mừng của bá quan). Kim sách và hạ biểu đều do một viên quan đọc lên và các quan quỳ để nghe. Đọc xong đều bỏ vào tráp đặt lại trên hoàng án. Kế đến một viên quan khác ra quỳ trước ngai vàng, tâu xin vua lần đầu tiên sử dụng ấn ngọc truyền quốc, tượng trưng cho quân quyền. Một vị quan khác lại tâu xin vua truyền chiếu chỉ. Chiếu chỉ này được một viên quan đọc lên. Sau đó công bố để thần dân trong nước biết về lễ đăng quang.


Bản chiếu văn do quan bộ Lễ bỏ vào tráp, rồi tàn lọng che, quân lính cầm gươm theo hầu, từ Đại Nội ra cửa Quảng Đức đến Phu Văn Lâu niêm yết.


(còn tiếp)


Nguồn: Vua Minh Mạng. Tập 10. Tuyển tập truyện lịch sử của Hoài Anh. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


 







(1) Cánh cò bay lẫn ráng sa, sông thu liền với trời xa một màu.




(1) Khuyên anh uống cạn chén mời, Dương quan ra khỏi ai người cố nhân.




(2) Thời bấy giờ ta gọi nước Anh là Hồng mao.




(1) Phủ việt: rìu, búa cầm theo hầu đạo ngự. Mao tiết: vật dùng để tượng trưng cho quân quyền, gồm có một cái cán, đầu cán có một sợi dây dài kết những chùm lông. Đề lô: lò hương và những sợi dây đồng buộc vào một cái cán.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 22.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 11.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
xem thêm »