tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18518261
Tiểu thuyết
25.03.2009
Hoài Anh
Vua Minh Mạng

1


Vua Gia Long nằm thoi thóp trên giường bệnh, hơi thở đứt quãng. Hễ cứ thiêm thiếp ngủ là ông lại mơ thấy những cảnh bị quân Tây Sơn đuổi chạy xất bất xang bang trước đây. Những giấc mơ ấy thường lộn xộn không đầu không đuôi, như khi chạy đến gần cửa Cần Giờ bỗng thấy ba con cọp xuất hiện đang bám mấy cây gừa, cây kè trong gò nỗng, ông sợ quá kêu lên một tiếng lớn, tỉnh dậy, trán còn toát mồ hôi. Lại có khi thấy mình đang đi trên một chiếc thuyền lênh đênh mặt biển, bỗng một con cá sấu hoa cà da có nhiều đốm trắng đen lẫn lộn, há cái miệng lởm chởm những răng toan táp, cái đuôi quật lại toan đập ông ngã xuống sông để nuốt, ông sợ quá, tỉnh dậy, người vẫn còn run cầm cập. Nhưng giấc mơ cứ trở đi trở lại với ông là khi chạy đến Gia Định, hết cả lương thực, phải ăn trái bần chua với mắm sống, vợ ông là bà nhị phi họ Trần lại đang mang bầu, chạy đến thôn Hoạt Lệ thuộc Gia Định thì giở dạ đẻ, sinhra một đứa con trai là hoàng tử Đảm. Không có bà mụ, bà nhị phi phải kiếm một thanh nứa tự tay cắt rốn cho con xong rồi ngất đi. Giữa lúc đó thì có tin quân Tây Sơn đuổi tới, ông bồng lấy đứa trẻ, để bà nhị phi bám vào ông mà đi. Chạy tới mé rạch Bến Nghé, thủ hạ đi theo ông kiếm được một chiếc thuyền chạy ra biển, lênh đênh mấy ngày trên mặt biển, nước ngọt dự trữ trên thuyền đã hết, bà nhị phi ăn uống kham khổ quá không có sữa, đứa trẻ thiếu sữa lại khát nước, môi bỏng rộp cả lên, cất tiếng khóc như xé trời, khiến ông tỉnh dậy. Thật ra đó là một giấc mơ chắp vá, vì khi hoàng tử Đảm sinh ra, ông không còn phải chạy trốn quân Tây Sơn mà đã hoàn toàn làm chủ đất Gia Định được hơn ba năm, nơi hoàng tử Đảm sinh ra là đền Hiển Trung. Nhưng giấc mơ lộn xộn ấy lại làm ông thương bà nhị phi và hoàng tử Đảm hơn. Bà nhị phi là con gái Trần Hưng Đạt ở huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên. Năm 1778, ông chiếm lại Gia Định, năm 1781, bà mới 14 tuổi, được tuyển vào cung, được phong là Tả cung tần. Năm 1791, bà 24 tuổi, sinh ra hoàng tử Đảm. Thế nhưng bà chính phi họ Tống, mẹ của đông cung Cảnh, tính hay ghen, cứ hành hạ bà nhị phi đủ điều, lại hay tâu vua kể tội bà nhị phi, đòi vua phải trị tội. Bà nhị phi cũng không chịu, bắt bẻ bà chính phi và khi ông vào cung thì níu lấy áo ông, bù lu bù loa khóc, tóc xổ ra rũ rượi, mặt đầy vẻ giận dữ nói: “Muôn tâu bệ hạ, xin bệ hạ phân xử, bà ấy đã sỉ nhục thần thiếp, xin bệ hạ phân xử!”. Gia Long biết là bà chính phi sai, nhưng không dám trách cứ vì bà đang phải xa con là hoàng tử Cảnh theo giám mục Bi-nhu(1) sang Pháp cầu viện. Muốn lấy lòng bà chính phi, năm 1793, khi hoàng tử Đảm mới lên 3 tuổi, ông đã giao cho bà chính phi nuôi làm con mình. Bà chính phi đòi làm giấy khế khoán, ông bèn sai Lê Văn Duyệt viết giấy đưa cho. Bà chính phi giao cho cung tì là Nguyễn Thị Lê cất giữ tờ khế khoán ấy.


Tin chắc sau này hoàng tử Đảm có lên nối ngôi chăng nữa, bà vẫn là đích mẫu của vua và làm thái hậu, nên bà mới bớt hành hạ bà nhị phi. Từ đấy hoàng tử Đảm thường vào chầu ở Đại Nội, làm con của bà chính phi (lúc đó đã được phong làm hoàng hậu) và gọi bà là mẹ. Đến khi hoàng tử Cảnh, hoàng hai là Hy, hoàng ba là Tuấn con hoàng hậu nối nhau mất, hoàng tử Đảm lấy thứ bậc được coi là lớn nhất. Nhưng do đời trước phái trưởng của các chúa Nguyễn phần nhiều khó nuôi, nên không muốn gọi là trưởng mà vẫn gọi là hoàng tử. Năm Gia Long thứ 13 (1814) tháng hai, hoàng hậu Tống thị qua đời, thọ 54 tuổi.


Gia Long đã quyết định cho hoàng tử Đảm đứng làm chủ tế thay vì hoàng tôn Đán, con của hoàng tử Cảnh.


Thế nhưng khi Gia Long phong hoàng tử Đảm là hoàng thái tử, thì Tổng trấn Bắc thành Nguyễn Văn Thành lại viện cái thuyết “Đích tôn thừa trọng”(1) xin lập con trai của Đông cung Cảnh là hoàng tôn Đán làm hoàng thái tử để sau này nối ngôi. Gia Long giận dữ thầm nghĩ: “Hắn muốn dựng vua nhỏ để dễ khống chế, ngày sau có thể chẹt họng vỗ lưng chăng? Ta há tối tăm lầm lẫn, không biết đắn đo nên chăng vội nghe lời hắn, mà không vì xã tắc chọn người sao?”. Tuy nghĩ vậy nhưng Gia Long lại làm ra vẻ khoan thai phán: “Nước nhà mới yên, phải chọn người lớn tuổi cầm quyền, chẳng nên dùng kẻ ấu thơ”. Khi Tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt từ trong Nam ra, vào triều kiến, Gia Long hỏi ý Duyệt về việc lập hoàng thái tử, Duyệt vịn vào câu “lập tự duy đích” và tâu rằng: “Đông cung tuy mất sớm, nhưng công lao trong sự nghiệp trung hưng không phải là nhỏ, vậy con Đông cung phải được hưởng công lao lớn của cha”.


 Gia Long bèn vịn vào một điều trong bộ luật Gia Long,do chính Nguyễn Văn Thành và Vũ Trinh soạn ra, mà phán rằng: “Quốc pháp là: Phụ trái, tử hoàn: cha nợ thì con phải trả, chứ không bao giờ đến cháu phải gánh. Mà con đã trả nợ cha thì lẽ tự nhiên là được quyền thừa hưởng sự nghiệp của cha. Vậy ý trẫm chọn hoàng tử Đảm cũng không có gì là trái với quốc pháp cả”.


Món nợ mà Gia Long nói đây là món nợ đối với người Pháp và các giáo sĩ. Năm 1784, Gia Long buộc lòng phải giao hoàng tử Cảnh mới lên bốn tuổi cho giám mục Bi-nhu đưa sang Pháp “làm tin” để mượn quân. Ngày 28.8.1789 chiếc tàu Pháp La Méduse chở Cảnh và Bi-nhu về tới Vũng Tàu, ở đó Tôn Thất Hội đã mang binh thuyền đón sẵn đưa hai người về Bến Nghé. Cái “sứ bộ nhỏ bé” thất bại trong việc biến Hiệp ước Versailles thành hiện thực này không đem về được gì ngoài 2.000 cân thuốc súng mà hầu tước De Rosilly Mérose thuyền trưởng tàu Méduse ái ngại biếu “để cậu hoàng tử không có cái dáng vẻ trở về với hai bàn tay trắng”, song lại đưa tới Gia Long và triều đình Gia Định một sự bất ngờ làm hởi dạ Bi-nhu. Trong buổi lễ trình diện trước bàn thờ tổ tiên, hoàng tử Cảnh nhất định không chịu lạy, và trước sự chứng kiến của đông đủ triều thần, cứ nhất quyết cho rằng trên đó chỉ là “những con quỷ sứ”, bất chấp mấy cái bạt tai của mẫu hậu Tống thị để cho cuối cùng Gia Long phải nén giận mà lạy thay con! Với tâm nguyện “Tôi muốn sống và chết như một tín đồ Thiên Chúa giáo”, Cảnh hứa sẽ chỉ lấy một vợ theo đúng giáo luật của đạo Thiên Chúa về hôn nhân, và với sự xui giục gián tiếp “đừng quên Chúa” của Bi-nhu, còn lén đọc kinh lầm rầm lúc đi ngủ. Cảnh còn tiếp tục tiến xa hơn trên con đường bày tỏ đức tin Thiên Chúa: Cảnh vạch hai dấu thập tự lên tượng phật của mẹ rồi kế đó, lại bày cho bà này lấy phân bò bôi lên tượng Thích Ca! Hơn thế nữa, cậu hoàng tử 9 tuổi này còn hiên ngang tuyên bố: “Tôi không muốn làm vua và nếu không định làm cho cả dân tôi theo đạo thì tôi đã trở lại Pháp ngay rồi”.


Biết Bi-nhu đã lập tâm dẫn dắt hoàng tử Cảnh đi theo con đường của Thiên Chúa giáo, ngay từ khi đó, Gia Long đã giao cho những văn thần tinh thông Nho học như Ngô Tùng Châu, Trịnh Hoài Đức thay nhau dạy dỗ, kèm cặp hoàng tử Cảnh. Lúc đó Gia Long còn cần đến sự giúp đỡ của người Pháp và các giáo sĩ, tuy biết Cảnh khi làm con nuôi Bi-nhu đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của đạo Thiên Chúa, nhưng buộc lòng phải lập Cảnh làm Đông cung. Nay Cảnh đã mất, con Cảnh là hoàng tôn Đán còn nhỏ tuổi, lên nối ngôi sẽ bị người Pháp và các giáo sĩ dụ dỗ, lung lạc, kết quả đất nước sẽ rơi vào tay Pháp. Theo Gia Long chỉ còn một cách, nhân cơ hội này cự tuyệt với Pháp, và sau khi Gia Long qua đời nếu kẻ nào xác định phương hướng hành động như vậy thì kẻ đó được nối ngôi.


Lý do Gia Long chọn hoàng tử Đảm là ở chỗ đó chứ không phải vì Gia Long muốn chọn con hơn chọn cháu để phó thác việc trả món nợ của mình. Hay nói cho đúng hơn, Gia Long quyết định chọn hoàng tử Đảm vì thấy Đảm đã 27 tuổi, có thể có đủ bản lĩnh để vỗ tuột món nợ mà Gia Long đã trót vay của người Pháp và giáo sĩ.


Nghĩ như vậy, Gia Long cho vời Thượng thư bộ Lại Trịnh Hoài Đức vào hỏi ý kiến.


Muốn biết tại sao Gia Long lại đặc biệt coi trọng ý kiến của Trịnh Hoài Đức, phải hiểu lý lịch của vị quan văn này.


Trịnh Hoài Đức quê gốc ở Phước Kiến, Trung Hoa, vì chống đối không chịu thần phục nhà Mãn Thanh, nên ông nội Trịnh là Hội sang xin tỵ nạn ở nước ta. Lúc đầu gia quyến Hội được chấp cho tạm ở Phú Xuân, sau dời về thôn Bình Trước thuộc dinh Trấn Biên. Nhờ có căn bản văn hay chữ tốt, cha của Trịnh là Khánh được chúa Nguyễn Phước Khoát thâu dụng, cử làm cai thủ An Dương. Sau Khánh thuyên chuyển ra trại Bả Canh ở Qui Hóa, Qui Nhơn, giữ chức Chấp canh tam trường cai đội.


Khánh mất năm 1775 trong lúc Trịnh Hoài Đức chỉ mới được mười tuổi. Mẹ của Trịnh lại dời gia đình đến trấn Phiên An. Bà cho Trịnh theo học với xử sĩ Võ Trường Toản, năm 1780, tại huyện Bình Dương.


Năm 1788, sau khi chúa Nguyễn Phúc Ánh (Gia Long) thu phục thành Gia Định, Trịnh Hoài Đức thi đỗ và được sung vào làm Hàn lâm viện chế cáo.


Năm 1791, được bổ Tri huyện phủ Tân Bình, kiêm Điền tuấn sứ, cùng với Ngô Tùng Châu, Huỳnh Minh Khánh trông coi việc khai đất khuyến nông ở Phiêntrấn, kế đó vào tòng sự tại bộ Hình.


Tháng 11 năm Quý Sửu (1793), sung chức Đông cung thị giảng, theo dạy Đông cung Cảnh ra trấn thành Diên Khánh. Sau đó Trịnh có dự vào bộ tham mưu để bàn việc cơ mật, khi Đông cung tiến binh ra lấy thành Phú Yên. Năm Tân Dậu (1801), Nguyễn Vương thu phục thành Phú Xuân, hai tướng Tống Viết Phước và Lê Văn Duyệt cử binh vào giải vây thành Bình Định cho Võ Tánh và Ngô Tùng Châu, thì chính Trịnh ở lại Quảng Nam và Quãng Ngãi lo việc thâu gặt, để tiếp vận quân lương.


Tháng 5 năm 1802, Trịnh được thăng Thượng thư bộ Hộ, và làm Chánh sứ sang nhà Thanh cầu phong cho vua Gia Long. Lo xong việc ngoại giao, sứ hộ Trịnh Hoài Đức cùng trở về với Án Sát Quảng Tây Tể Bố Sum mang sắc sang phong cho vua Gia Long, Trịnh trở về nhiệm chức cũ ở bộ Hộ.


Năm 1805 được bổ vào lĩnh chức Hiệp tổng trấn thành Gia Định. Năm 1812 về Phú Xuân được thăng Thượng thư bộ Lễ kiêm quản tòa Khâm thiên giám. Năm 1813 đổi sang bộ Lại.


Gia Long thấy Trịnh Hoài Đức đã từng dạy Đông cung Cảnh học và cộng sự với Lê Văn Duyệt, ý kiến ông chắc sẽ rất bổ ích.


Nhưng Trịnh Hoài Đức là người rất khôn ngoan, không tội gì mà đi gây hiềm khích với người khác, nên khi được Gia Long hỏi, chỉ trả lời:


- Biết con không ai bằng cha, việc trong nhà sao lại đi hỏi người ngoài, việc ấy là việc bệ hạ, xin bệ hạ liệu lấy.


Nghe nói vậy, Gia Long bèn quyết định, ngày hôm sau gượng bệnh ra thiết triều ở điện Cần Chánh và dụ rằng: “Trẫm nay làm việc mệt mỏi, rất lo đến kế lớn của xã tắc. Thái tử là người sẽ nối ngôi của nước”. Rồi triệu Thượng thư bộ Lại Trịnh Hoài Đức đến trước giường ngự sai viết: “Lập hoàng tử Hiệu(1) làm thái tử” để đưa cho bầy tôi xem. Gia Long nói: “Ai đồng ý thì ký tên vào”. Khi đó Nguyễn Văn Thành vì bài thơ của con trai là Nguyễn Văn Thuyên bị nghi ngờ là âm mưu phản loạn, sợ tội đã uống thuốc độc chết. Chỉ còn có Lê Văn Duyệt, nhưng trước đó Gia Long đã khôn khéo thừa dịp trong một lần Duyệt về kinh triều bái, cho mời Duyệt vào một phòng riêng trong đó đã có mặt nhà vua và hoàng tử Đảm. Trước mặt nhà vua, nhà vua dạy hoàng tử Đảm phải lạy Duyệt hai lạy mà kêu là cha nuôi. Đồng thời nhà vua gửi gắm hoàng tử Đảm lại cho Duyệt sau này và giữ Duyệt ở lại kinh phù tá. Do đó Duyệt cũng nể tình không tiện phản đối. Thấy Duyệt không nói gì, triều thần như rắn không đầu, đều nói: “Ý thánh định trước thực là phúc không cùng của xã tắc. Bọn thần xin noi theo mệnh lệnh”.


Lập xong hoàng thái tử, Gia Long yên tâm, thấy người mạnh mẽ hơn, bệnh cũng dần bình phục.


*


Sau khi lên ngôi Thái tử, Đảm vẫn không trễ nải việc học hành. Tuy đã có hai quan Tả thị giảng và Hữu thị giảng lo việc dạy thái tử học, nhưng Đảm vẫn thường xuyên vời người thầy cũ của anh mình và mình hồi nhỏ là Trịnh Hoài Đức vào giảng sách, vì ngoài những sách kinh điển Nho gia, như Tứ thư, Ngũ kinh, còn có những sách của Bách gia chư tử đời Tiên Tần mà chỉ Trịnh Hoài Đức mới đủ trình độ giảng.


Bữa nay, Đảm học đến sách Hàn Phi Tử. Trịnh Hoài Đức áo lương, khăn lượt, ngồi ở ghế bên cạnh sập vàng của thái tử, bắt đầu giảng:


- Hàn Phi là một trong rất nhiều công tử nước Hàn, sinh khoảng năm thứ 14 đời Hàn Tương Vương(1). Ông đọc rất nhiều sách, lai từng từ kinh đô nước Hàn ngàn dặm xa xôi đến Lan Lăng nước Sở, theo học Tuân Khanh. Hàn Phi nói lắp, nói năng rất khó khăn, nhưng lại rất biết viết văn.


Nhà Chu ban đầu có đến 800 nước chư hầu, bởi vì từ đời Xuân Thu, kiêm tính lẫn nhau, đến cuối thời kỳ Chiến Quốc chỉ còn lại bảy nước Triệu, Hàn, Ngụy, Yên, Sở, Tề và Tần, tức Thất hùng. Trong Thất hùng, nước Tần mạnh nhất, dòm ngó Sơn Đông, có cái thế gồm nuốt Lục quốc. Lục quốc muốn sống còn mà không bị diệt vong, ngoài phú quốc cường binh và đối kháng với Tần ra, không có biện pháp gì khác. Mà, giữa lục quốc cũng xâm phạm lẫn nhau, các nước muốn bảo tồn đất đai không bị họa “tằm ăn lá dâu”, cũng phải có binh lực lớn mạnh và quốc khố dồi dào. Hàn Phi thấy nước mình ngày càng suy yếu, do đó ông tìm cái đạo làm nước giàu binh mạnh, khiến nước mình phú cường lên. Đối với học thuyết các nhà các phái từ Xuân Thu đến nay và thành bại của họ về trị nước đều đi sâu nghiên cứu. Ông rất tôn sùng Thưởng Ưởng, thuyết pháp trị của ông, về đại thể là noi theo Thưởng Ưởng.


Pháp trị là đem “hiến lệnh áp dụng ở quan nha”, mọi người dựa theo hiến lệnh làm việc, người lập công được thưởng, kẻ phạm lệnh bị phạt. “Hữu công giả tất thưởng, thưởng giả bất đức quân, lự chi sở chí dã; Hữu tội giả tất tru, tru giả bất oán thượng, tội chi sở sinh dã. Dân tri tru thưởng chi giai khởi vu thân dã. Cố tật công lợi tri nghiệp nhi bất thụ tứ vu quân” là “Người có công ắt thưởng, người được thưởng không phải nhờ vào đức của vua, mà do sức mình dẫn tới. Kẻ có tội ắt bị giết, kẻ bị giết không oán bề trên, mà do tội của mình gây nên. Dân biết giết hay thưởng đều khởi tự thân mình, cho nên cố sức lập công lợi cho sự nghiệp, mà không chịu ân tứ ở vua”. Như vậy người cầm quyền không cần động não để thưởng phạt người nào, cũng không cần ứng phó với những người không có công mà xin thưởng, có tội mà cầu tha. Thần dân vừa không dám lừa dối trên làm điều trái, cũng không phải xin thưởng cầu tha. Như thế gọi là “thượng hạ vô vi” (trên dưới không phải làm gì cả).


(còn tiếp)


Nguồn: Vua Minh Mạng. Tập 10. Tuyển tập truyện lịch sử của Hoài Anh. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


 







(1) Bi-nhu: phiên âm từ Pigneau de Béhaine, tên của Bá-đa-lộc.




(1) “Đích tôn thừa trọng” và “Lập tự duy đích”. Đều có nghĩa con trưởng mới được thừa kế sản nghiệp của cha, nếu con trưởng chết thì cháu trưởng thay.




(1) Hoàng tử Đảm còn có tên chính thức là Hiệu.




(1) Năm 298 trước công nguyên.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hà Nội xưa và nay - Bạch Diện Nguyễn Văn Cư 28.03.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 26.03.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
Hòn đất - Anh Đức 14.03.2017
Một chuyện chép ở bệnh viện - Anh Đức 14.03.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 09.03.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 09.03.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.03.2017
xem thêm »