tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20537163
Lý luận phê bình văn học
13.03.2009
Tư liệu sưu tầm
Nền tảng tư tưởng xã hội học

Cũng như Nhân loại học, Xã hội hoc được đặt trên cơ sở công trình của các triết gia và các nhà khoa học thế kỷ XIX; và cả hai ngành khoa học này đều chia sẻ nhiều ý tưởng chung. Thực vậy, vo cuối thế kỷ XIX, Nhân loại học và Xã hội học chưa thực sự tách biệt nhau. Cc lý thuyết của các nhà tư tưởng Xã hội học thời kỳ đầu cần được khai thác vì chúng có ảnh hưởng sâu sắc đến Nhân loại học cho đến nay. Quả thực, tất cả các nhà lý luận được nói đến ở đây đều sử dụng tiếp cận liên văn hóa trong công trình của họ.


Người có vai trò trung tâm trong việc hình thành Xã hội học hiện đại là Émile Durkheim (1858-1917). Durkheim đảm trách việc xây dựng một số khái niệm cơ bản của môn học ny và đào tạo thế hệ các nhà Xã hội học Pháp đầu tiên vo đầu thế kỷ XX. Durkheim là một nhà thực chứng, cho rằng xã hội con người tuân theo các quy luật, tương tự như các quy luật tự nhiên của ngnh vật lý và sinh học, có thể nhận biết bằng quan sát thực nghiệm và thử nghiệm. Lý thuyết X hội học của ông  tập trung vào vấn đề liên kết xã hội (thuật ngữ ông dùng là đoàn kết xã hội) : ông muốn tìm ra cái gì giúp các xã hội liên kết lại với nhau. Ông kết luận rằng liên kết xã hội ngay từ đầu là kết quả của một lực lượng nảy sinh do tham gia vào một hệ thống các niềm tin và giá trị chung, và hệ thống này uốn nắn và kiểm soát hành vi cá nhân. Durkheim gọi đó là l’âme collective (tâm thần tập thể), thường được dịch sang tiếng Anh là the collective conscience (ý thức tập thể). Tuy nhiên, tiếng Pháp cũng còn có nghĩa là linh hồn, tinh thần, tình cảm hay tính khả cảm, và Durkheim đều nhấn mạnh đến tất cả các nghĩa này. Ông cho rằng ý thức tập thể bắt nguồn từ các mối tương tác cộng đồng và kinh nghiệm của các thành viên trong xã hội. Vì mọi người đều sinh ra và lớn lên trong bối cảnh ý thức tập thể này nên nó quy định các giá trị, niềm tin (mà ông gọi là các biểu tượng tập thể) và các hành vi của họ. Cuối cùng, nó làm cho đời sống trở nên có ý nghĩa và có thể chấp nhận được. Phần lớn, liên kết xã hội được duy trì vì mỗi người trong xã hội đều chia sẻ khuynh hướng biểu tượng tập thể của họ. Như ta thấy, ý thức tập thể của Durkheim đã tiên báo quan niệm hiện đại về văn hóa, mặc dù ông không mặn mà với thuật ngữ này và cũng không dùng nó trong công trình của mình.


Durkheim cho rằng ý thức tập thể là một thực thể tâm lý, cho dù nó được chuyển tải bởi các thành viên của xã hội, thay cho sự hiện hữu cá thể và không thể giải thích ở phương diện hành vi cá thể. Nói cách khác, ý thức tập thể cĩ sự tồn tại siêu hữu cơ. Nếu không phải là một thứ vật chất thì lm thế no ý thức tập thể có thể được nghiên cứu về mặt khoa học? Durkheim cho rằng các đơn vị phân tích thích hợp là các sự kiện xã hội, các quy tắc hnh vi và các quy tắc xã hội đã tồn tại trước khi một cá nhân được sinh ra trong xã hội cũng như các quy tắc mà người ta học hỏi và quan sát với tư cách là thành viên của xã hội. Sự kiện xã hội có thể được nhận biết bởi tính chất lan truyền của chúng trong xã hội ( chúng không có tính chất cá nhân ) và bởi chúng có tính chất cưỡng chế. Mọi người cảm thấy buộc phải tuân theo các ràng buộc của chúng. Durkheim cho rằng sự kiện xã hội có một logic nội tại riêng và có thể được nghiên cứu một cách độc lập về các hành động cá nhân.


Cũng giống như các lý thuyết gia cùng thời, Durkheim giả định một cách máy móc rằng người nguyên thủy là những hình mẫu trong giai đoạn đầu của sự phát triển văn hóa. Ông nghiên cứu các hồ sơ về xã hội nguyên thủy, đặc biệt là xã hội các thổ dân Australia, cố gắng xác định hình thức và bản chất của ý thức tập thể ở các xã hội này. Trong nghiên cứu, ông vận dụng các khái niệm đoàn kết hữu cơ và đoàn kết máy móc mà ông đã phát triển trong công trình nghin cứu đầu tin của mình “The division of Labor in Society” (Phân công lao động trong xã hội), xuất bản năm 1893. Các xã hội nguyên thủy được gắn kết với nhau bởi cái mà Durkheim gọi là sự liên kết máy móc. Ông cho rằng trong các xã hội đó không hề có cá nhân theo cách hiểu như ngày nay. Đúng hơn, ý thức tập thể bao trùm toàn bộ ý thức [cá nhân] và xảy ra đồng thời với nó ở mọi thời điểm” (1933:43). Chính vì điều này mà các xã hội đó không có sự phân hóa bên trong; các bộ phận của chúng có thể thay thế cho nhau. Do đó, các mảng có thể tách rời mà không phá vỡ sự vận hành của toàn xã hội. Trong các xã hội này, quan hệ họ hàng hình thành cc hình thi liên hệ đầu tiên giữa mọi người.


Mặt khác, các xã hội công nghiệp lại gắn kết với nhau bởi sự liên kết hữu cơ. Trong các xã hội này, ý thức tập thể tối thiểu cũng cĩ phần khác với ý thức cá nhân. Một kết quả là sự chuyên môn hóa lao động – người này cần đến người khác để thực hiện. Trong kiểu xã hội này, quan hệ đầu tiên giữa các cá nhân xuất phát từ sự phụ thuộc về kinh tế và nghề nghiệp và sự hợp tác hơn là thuộc quan hệ họ hàng. Durkheim cho rằng tự do cá nhân và hạnh phúc cuối cng thơng qua liên kết hữu cơ mà được đạt đến cực điểm của chúng.


Ảnh hưởng của tư tưởng tiến hóa thế kỷ XIX sẽ đựơc thấy rõ hơn trong nghiên cứu của Durkheim về các xã hội nguyên thủy. Ông cho rằng các xã hội phát triển từ liên kết máy móc đến liên kết hữu cơ, tức là từ các nhóm giản đơn không bị phân hóa đến các xã hội phân hóa cao hơn. Về mặt này, công trình của ông đã phát triển một số hàm ý trong phép loại suy hữu cơ của Herbert Spencer ( xem Tiểu luận 2 ). Khác với Spencer, Darwin và Marx, những người viết về khía cạnh đấu tranh sinh tồn của con người, Durkheim  tập trung vào sự liên kết trong xã hội. Mặc dù ông không hề coi các xã hội phát triển đã thoát khỏi tình trạng xung đột (vài phần trong công trình nổi tiếng nhất của ông bàn về vấn đề tự tử), Durkheim cho rằng sự phân hóa xã hội và sự chuyên môn hóa khiến cho sự cố kết xã hội ngày càng gia tăng. Xung đột trong xã hội hiện đại bắt nguồn từ việc xây dựng không hoàn chỉnh mối liên kết hữu cơ hiện thời, và kết cục sẽ dẫn đến sự suy thoái trầm trọng.


Durkheim giả định rằng tất cả mọi người đều nhận thức thế giới thông qua các hệ thống phân loại được tạo ra về mặt x hội. Tin rằng cc hệ thống ny về cơ bản mang bản chất nhị nguyên, trong công trình  The Elementary Form of the Religious Life (1965, orig. 1912)  Durkheim viết rằng con người đ tch thế giới của họ thnh cc lĩnh vực “ thing ” v  “ phm ”. Sự ch trọng của ơng về cc hệ thống phn loại v sự đối lập nhị phân hẳn có tác dụng  rất lớn đến các lý thuyết sau ny, nhất l thuyết Cấu trc Pháp, khoa học tộc người và Nhân loại học nhận thức.


Durkheim thừa nhận điều mà trong những thập niên sau này các nhà nhân loại học gọi là  cách tiếp cận “ chức năng ” về phân tích x hội.  Phn tích của ơng về cc thiết chế v niềm tin ấy vo việc thc đẩy v duy trì tình đoàn kết x hội. Khía cạnh ny trong cơng trình của ơng l quan trọng đối với sự nghiệp ủa nhiều sinh viên của Durkheim và tạo thành cơ sở cho các trường phái chức năng và cấu trúc chức năng Anh trong tư tưởng Nhân loại học đ được Bronislaw Malnowski v A. R. Radeliffe-Brown (xem Tiểu luận 13 v Tiểu luận 14) minh họa.


 Khoảng năm 1900, công trình của Durkheim thu hút một nhóm các học giả rất có ảnh hưởng, vài người trong số đó là họ hàng của ông. Từ năm 1898 đến năm 1912, họ cùng xuất bản tờ L’Année Sociologique. Kết quả là họ đồng loạt được biết đến như là trường phái L’Année Sociologique. Nhưng không may, Chiến tranh Thế giới I đ gy tổn thất nặng cho Durkheim và cc môn đệ. Hầu hết các môn đệ, và cả con trai của ông, đều bị chết trong các chiến hào ở Mặt trận Miền Tây, và bản thân Durkheim cũng chết trước khi chiến tranh kết thúc.


Marcel Mauss (1872-1950), cháu của Durkheim là một trong số ít các thành viên của L’Année Sociologique còn sống sót sau chiến tranh, và ông được coi là một trong các nhà tư tưởng hàng đầu của trường phái này. Sau tai họa giáng xuống bạn bè và đồng nghiệp, ông tạm gác công trình riêng của mình để tập trung cho việc xuất bản công trình của người thầy uyên bác Durkheim, và các đồng nghiệp đã quá cố của mình. Tuy nhiên, ông cũng đã cho xuất bản một tác phẩm của ring mình vào năm 1925, tc phẩm The Gift, m chúng tôi trích in một phần tác phẩm ấy. Trong tiểu luận ny, Mauss chứng minh rằng quà tặng trong các xã hội nguyên thủy thường là một phần trong cc nghĩa vụ chính trị xã hội và nó phản ánh hay thể hiện cấu trúc nền tảng của xã hội. Ông cũng đề xuất một dạng đặc thù của sự kiện xã hội được gọi là hiện tượng xã hội tổng thể và minh họa quan điểm này trong thảo luận của ơng về hiện tượng  potlatch.


Người đóng góp cuối cùng cho chương mục này là nhà xã hội học người Đức Max Weber (1864-1920). Mặc dù được biết đến nhiều qua công trình của ơng viết về Xã hội học nhưng Max Weber lại được đào tạo về Luật và Lịch sử và đã giữ nhiều chức vụ hàn lâm trong Kinh tế học. Khác với Durkheim, Weber quan tâm đến hành động của các cá nhân cũng như của các nhóm xã hội. Theo Weber, cơ sở cuối cùng của hành động xã hội là hành vi cá nhân của người đó trong quan hệ với người khác. Hành vi ấy được xét đoán đúng nhất ở chỗ hành động là hợp lý hay không hợp lý. Mặc dù không mấy thông thạo về Dân tộc học các xã hội “ nguyên thủy ”, nhưng Weber lại rất quan tâm đến châu Á và viết rất nhiều về tôn giáo ở Trung Hoa và Ấn Độ.


Nhiều công trình của Weber chịu ảnh hưởng của Marx, và ông cố gắng phát triển các tư tưởng của Marx về giai cấp xã hội. Giống như Marx, ông cho rằng giai cấp xã hội gắn liền với quyền sở hữu tư nhân và sự kiểm soát các tư liệu sản xuất. Nhưng khác với Marx, ông cho rằng các giai cấp tự bản thân và thuộc về bản thân mình không thể hành động, mà địa vị xã hội (hay danh dự) và đảng phái cũng cĩ thể cắt đứt các ranh giới giai cấp. Trong tiểu luận “ Class, Status, Party Weber phát triển lý thuyết này về phân tầng giai cấp, địa vị xã hội và các đảng phái chính trị (cac nhóm theo đuổi quyền lực) và vai trò của cá nhân trong xã hội.


Một đặc điểm căn bản phân biệt với Marx l công trình của Weber coi hệ tư tưởng và hành động cá nhân có vai trò nổi bật. Cả Marx và Weber coi chúng là nền tảng cuối cùng của các hệ thống sản xuất, nhưng trong công trình của Weber, cá nhân và hệ tư tưởng có khả năng trong việc tác động và làm thay đổi văn hóa, mà điều này thì mờ nhạt ở Marx.


 Một trong những giải thích danh tiếng nhất của Weber về vai trò của hệ tư tưởng là tác phẩm  The Protestant Ethic and the Spirit of Capitalism (1930). Giống như Marx, Weber phân tích sự hình thành của chủ nghĩa tư bản, và cũng như Marx, ông thấy được gốc rễ của chủ nghĩa tư bản trong những thay đổi căn bản trong cc quan hệ sản xuất. Tuy nhiên, khác với Marx, ông thấy các nguyên nhân vật chất này không đủ để giải thích sự xuất hiện và thành công của chủ nghĩa tư bản. Hơn nữa, ông cho rằng cần phải kết hợp với đạo đức chủ nghĩa Calvin mới, nhấn mạnh việc giải trình đạo đức và kỷ luật tự giác, mới có thể giải thích sự xuất hiện của chủ nghĩa tư bản. Điểm then chốt trong luận điểm này của Weber là chủ nghĩa Calvin không nảy sinh từ chủ nghĩa tư bản. Nhắm vo việc đảm bảo sự cứu rỗi cá nhân chứ không phải mang lại lợi ích. Tuy nhiên, việc trùng khớp với những thay đổi trong những quan hệ sản xuất, nó nhiệt tình ủng hộ sự hình thành một tầng lớp tư sản đầy quyền lực tư bản chủ nghĩa.


Weber tin rằng cá nhân có thể tác động sâu sắc tới xã hội. Các nhà tiên tri sẽ xuất hiện, họ là những người có thể làm thay đổi cách suy nghĩ của con người. Ông gọi năng lực của một cá nhân có ảnh hưởng đến những người khác là “charisma” (quyền năng) và đã phát triển khái niệm này trong tác phẩm Xã hội học Tôn giáo (1920). Trong tác phẩm này, ông định nghĩa charisma là một thứ “quyền năng siêu việt”, một dạng năng lực tinh thần có trong mỗi cá nhân. Weber không giải thích nguồn gốc của “charisma”. Ông nói rằng nó chỉ đơn giản tồn tại một cách tự nhiên ở một số người. Còn ở những người khác, nó là một hạt giống phải được đánh thức. Sức mạnh của “charisma ” cho phép các cá nhân nào đó lãnh đạo xã hội và làm thay đổi tư tưởng của những người xung quanh. Khái niệm “charisma” giúp cho cá nhân có một vị trí trong công trình của Weber, mà không hề  có trong lý thuyết của Marx.


Ảnh hưởng của Weber đối với các công trình nhân chủng học sau này tuy khó nhận thấy nhưng quan trọng. Điều nhấn mạnh của ơng về hành động cá nhân, cĩ lý trí và mang tính xã hội được b nguyn vào lý thuyết Chức năng tâm lý của Bronislaw Malinowski. Công trình về các hình thức quyền hnh của ông có ảnh hưởng đến nhiều nhà tư tưởng Nhân loại học ( xem Morton, Tiểu luận 22 ) v phân tích của ông về đạo đức Tin lành và chủ nghĩa tư bản (xem Julian Steward, Tiểu luận 9, và Clifforrd Geertz, Tiểu luận 40). Công trình nghiên cứu về tôn giáo của Weber đã ảnh hưởng đến Roy Rappaport (Rappaport 1994:167) cũng như Anthony F. C. Wallace, Peter Worsley, Jean và John Comaroff (Erickson 1998:112). Đặc biệt quan trọng đối với các nhà Nhân loại học đương đại là khái niệm verstehen, thường được dịch là “thông hiểu”. Weber sử dụng thuật ngữ này với nghĩa hòa nhập xúc cảm vào những gì ta quan sát để hiểu được động cơ và ý nghĩa hành vi của chúng tốt hơn. Đây là một trong những khái niệm căn bản của trường phái nhân loại học tượng trưng. Đặc biệt, Clifford Geetz và Renato Rosaldo (Tiểu luận 40 và Tiểu luận 41) cho thấy các nhà nhân loại học đã sử dụng nguyên lý này như thế nào.


R. Jon Mcgee - Richard L. Warms


Southeast Texas State University


Đinh Hồng Phúc dịch


Dịch giả gửi www.trieuxuan.info


 


 


 


 


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sức sống vĩnh cửu của kiệt tác Búp bê - Nguyễn Chí Thuật 20.09.2017
Thanh Tùng – Xanh mãi Thời hoa đỏ - Trần Mạnh Hảo 18.09.2017
Tiểu thuyết Thủy Hử theo quan điểm một học giả phương Tây - Bill Jenner 18.09.2017
Lời cảnh cáo các nhà học phiệt - Đoàn Lê Giang 08.09.2017
Dấu ấn Chủ nghĩa nhân văn của Erasmus trong tiểu thuyết Don Quixote - Linh Lan 08.09.2017
Về Nho giáo và khoa học (tiếp và hết) - Nguyễn Thọ Đức 01.09.2017
Về Nho giáo và khoa học (1) - Nguyễn Thọ Đức 01.09.2017
Lại bàn về Nguyễn Khắc Viện và sách “Việt Nam một thiên lịch sử” - Nguyễn Khắc Phê 31.08.2017
Thế giới phi lý trong tiểu thuyết đô thị miền nam 1954-1975 - Nguyễn Thị Việt Nga 27.08.2017
Thơ Phùng Cung – Lời cuối của quê - Thu Tứ 27.08.2017
xem thêm »