tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 23630674
Tiểu thuyết
05.08.2018
Phan Tứ
Mẫn và tôi


Chương 21


Bay khỏi thôn Nhơn Thọ một quãng, chiếc C.47 lừ lừ vòng lại.


Đít nó xì một luồng khói đen dài. Tôi nín thở, nhớ ngay mấy lần cứu độc ở vùng ven núi. Chú Dé vẫy vẫy, ném cho tôi cái bao nhựa trong lắp túi lọc không khí, treo bán nhiều ở các chợ vùng giải phóng. Địch muốn diệt ngay Tam Sa bằng hơi độc ư? Khó tin…Cái đuôi khói đứt rời, nở dần, loãng màu khói xám, hiện những chấm li ti như cặn bùn, rồi như hạt cát, càng xuống thấp càng trắng ra, hứng nắng nhấp nháy. À, truyền đơn. Bốn đám mây truyền đơn trùm lên các thôn Tứ Nhơn, Gió hây hẩy thổi, từng tí một vẫn lùa gần hết bấy nhiêu tấn giấy ra đồng. Lâu nay tụi nguỵ chỉ dùng L19., rải ban đêm “cho dân chúng dễ luợm”, sáng ra mặt ruộng phủ trắng những lá bèo chữ nhật lạ mắt, trẻ em ra mương ỉa khỏi phải bứt sẵn lá mua mang theo.


Thằng C.47 quần hình bầu dục, dòm. Rồi nó lấy đường nhựa làm cữ, bay thấp hơn, đùn ra bốn luồng khói khác. Hình như cố ý sao đó, ngọn gió nồm bỗng dứt hẳn. Bầy bướm chết cứ vậy lúc lắc rụng xuống mặt đường đen, biến nó thành tấm vải rằn dệt ô nhỏ. Gay hơn nữa là súng dưới đất bắt đầu nổ lốp bốp khi nó sà lần hai. Nó vẽ thêm một số 8 do dự trước khi quay về Chu Lai. Chúa đã theo Việt Cộng rồi ư?


Tôi đang cười thằng tâm lý chiến, chú Dé bỗng gọi nhỏ mé trên:


- Mỹ lên, anh Thiêm!


- Gì?


Dé đưa tay chỉ phía núi Sàm. Tôi rút súng ngắn, lách bụi đi tới lom khom. Dé trao cho tôi cái ống dòm:


- Mỹ chỗ trắng kia, bằng nhau nhiều con kiến.


Cứ tưởng tụi thám báo sục lên trái đồi chúng tôi đang núp!


Một cánh quân khá đông từ Chu Lai đang băng trảng cát keo đến ấp cô Tươi. Chừng sáu trăm lính bộ. Mười sáu xe M.113, có bốn chiếc phủ bạt đi cuối, chắc để chở đồ ăn uống và lượm tụi say nắng, chờ trực thăng đến bốc. Hành quân tuần tiễu sau lưng quân nguy thôi, mà Mỹ làm như cố chọc thủng vòng vây Việt An, dùng hat u mở đường, đội hình tản rộng, tiền vệ trắc vệ đủ hết. Có thể chúng lên tập trận, hay sẽ càn thẳng lên Nhị Lộc. Ấp cô Tươi có một tiểu đội du kích bí mật lâu nay ngứa ngáy vì bị khoanh vùng “chưa được đánh”', vừa rồi đã nhận lệnh sẵn sàng nổi dậy phá ấp. Chị S22, bác S24 và ngót hai chục cán bộ bí mật khác mạn Bắc Chu Lai đang nắm quân chìm, nao nức đợi giờ nổ lớn. Phía Bình Sơn cũng vậy. Căn cứ Chu Lai nằm lọt giữa một bãi mìn điện chôn rất kín, hai đầu dây nằm trong tay ta đang nhích dần tới khối pin.


Từ Tam Sa đổ xuống biển, hàng vạn người đang sốt ruột chung chung, chờ. Mới có ba người biết giờ đánh: Bí thư Tam Sa, cậu xê trưởng đặc công mới hăm mốt tuổi đang nằm trong xóm chị S22, và tôi. Sáng mai, trưa mai, tối mai, tin tối mật sẽ loang ra từng nấc, mười một giờ bốn mươi đêm mai sẽ bấm điện.


Cũng như ngọn đòn trả thù sau lụt, kế hoạch của tôi đưa lên bị vỡ vì quá chật. Nó phình lên thành một chiến dịch nhỏ. Đánh máy bay trong Chu Lai, đánh bến cảng, đánh sư bộ sư hai Nguỵ, cắt một loạt cầu trên đường Một, nhiều nữa. Riêng cái trận tốt lõi được giữ nguyên: C.125 sẽ diệt đại đội Mỹ đóng trên núi Sàm trong một cuộc đấu lê ban đêm.


Sau khi rà số quân địch quân ta như một tổ trọng tài khó tính, ban chỉ huy trung đoàn mới ghép cho xê mình ba mươi bảy chiến sĩ nữa để bù chỗ chênh lệch, nhưng không chịu thay những cậu đang sốt rét. “Bộ đội mình sức khoẻ vậy đó, súng ống vậy đó, không thêm bớt gì hết, dám một diệt một với Mỹ thì oánh! ”. Cả đại đội hoan hô rầm một góc rừng, lao ngay vào tập đánh đêm. Tiểu đội trưởng Thuỳ tung ra thuật đánh xẻng – cậu ta hết đạn, đã giết năm nguỵ ở Việt An bằng cái xẻng đào hầm mài bén ngọt – gây được phong trào rất mạnh. Tháo mìn định hướng, chống ra-đa, né pháo sáng, lấy M.79 bắn lại địch ngay … tất cả phải luyện xong trong một tuần.


Anh Ba Tơ nhường tôi chỉ huy. Tôi thú thật là không đương nổi, chỉ xin phép theo giúp anh thôi. Xa anh em ba tháng, cả đi đường và ở Tam Sa, tôi đã tụt hậu kha khá rồi, phải cay đắng mà nhận vậy. Trên bằng lòng. Xong trận này tôi sẽ về H68. dự tổng kết năm bảy ngày, rồi trở lại nắm xê mình.


Sau khi tiễn anh Năm Đông tới sông Rù Rì - anh đi thăm làng Cá suốt trưa đến tối, cậu Ri nảy ra sáng kiến dẫn anh xem địa đạo thật nhiều, nói chuyện với bà con đào hầm, tránh được loạt pháo chiều gần trăm trái – anh Điển đã kể thật với tôi:


-Nhiều nơi muốn rút cậu lắm. Quân báo, địch vận đòi căng nhứt, rồi tới ông tác huấn, ông Giải phóng xã, cả Hát sáu tám nữa. Ông Năm biểu đừng, cứ để cậu ở đơn vị lợi hơn, nhưng phải thúc cậu học nhiều và giao việc nặng. Ổng thấy cậu nhìn thằng Mỹ được chiều sâu mà thiếu chiều rộng, dân Mỹ chống chiến tranh rầm rầm, cậu lại cho lính Mỹ ít chịu ảnh hưởng, ví dụ vậy.


-Tôi chưa thấy nét nào…


-Tất cả chúng ta đều chưa hiểu rõ kẻ thù mới, đang mò mẫm tìm cách nào đánh Mỹ ít tốn xương máu nhứt, thắng gọn nhứt. Võ đoán là dại. Tuy vậy, những quy luật chung vẫn không thay đổi. Cậu cứ vẽ một cái bảng giống như bảng Men-đe-lê-ếp trong hoá học, điền vô những nét về Mỹ đã nắm được, để rồi coi, trong các ô trắng sẽ lần lần ghi thêm: chống lệnh, chạy trốn, binh biến, đầu hàng!


Anh Điển vẫn là ông thầy năm xưa, sẵn sàng viết thư dài tám trang trả lời câu hỏi của một cậu học trò đã rời trường nhiều năm. Anh nói kín đáo, cũng đủ cho tôi hiểu rằng anh muốn rút tôi, còn anh Năm khuyên nên để tôi chiến đấu và mạnh dạn đề bạt. Mấy tháng qua anh khen tôi rất ít, đòi hỏi nhiều, nhưng đằng sau những câu văn điện tín giao thêm việc, tôi đọc thấy một ý lặp đi lặp lại: “Mình tin cậu nên mới giao”. Anh thương tôi kiểu ông cha nghiêm, và tôi thích thứ tình cảm gân guốc ấy.


Sở chỉ huy của anh Điển không đặt ở làng Cá, hòn đảo này dễ bị vây kín. Anh cắm nó trong một thung lũng rậm cây, lút giữa rặng núi chia đôi hai tỉnh Nam Ngãi, cận đường liên lạc giữa hai vùng Bắc và Nam Chu Lai. Trước khi chia tay, anh lại búng vào tai Mẫn:


-Thoát nạn lính cùi chỏ, nhớ làm gà ăn mừng nghen. Nội bấy nhiêu súng ngắn, cô thích có một cây Pê băm tám thôi!


Mẫn không mắc cỡ như tôi tưởng, nói bướng:


-Súng nào bắn giặc nhiều, cháu thương!


…Một cây trọng liên trên núi Sàm bỗng xổ đạn thông thống xuống phía Nhơn Phước, tiếp mươi trái cối 106,7. Cô Cang vẫn gài du kích bắn tỉa phía đó, nay đã ngừng, có lẽ địch nã theo con cầy con cáo nào thôi…Không phải. Các cỡ súng Mỹ rộ lên một lát, rồi hai chiếc H.34 đến quần trên đồn.


Anh em trinh sát dồn cả lên chỗ quan sát, chuyền tay nhau cái ống dòm. Xem Mỹ tắm dưới trực thăng phun nước mấy lần rồi mà vẫn tò mò. Tôi phải buộc các cậu tản bớt vào các mương xói, phòng một trái M.79 rải bất tử. Tôi đã thấy cảnh ấy nhiều lần dưới Chu Lai, ghi thêm được một thời cơ nện cối vào Mỹ và hạ trực thăng treo đứng, kiểu tắm có vẻ sang đấy, thật ra rất chán, bởi trận mưa giả bị gió cánh quạt thổi xuống rất mạnh, ban đầu xốc bụi mù mịt, về cuối lại toé bùn lỏng, đứa nào tắm xong cũng vấy bùn tới đầu gối là ít. Cũng như cái nạn nhà lầu thiếu thang máy thôi: Mẹ Sáu tin rằng dân thành phố ở gác năm gác sáu là sướng nhất, ăn ngủ ỉa đái trên đầu người khác mà!


Chiếc trực thăng thứ hai hạ xuống thu quần áo đi giặt đã rời sân đồn. Đại đội Mỹ bên kia co hết vào chỗ mát, chỉ còn thấy những lô cốt loang lổ màu sẫm và những bao cát trên đen dưới xám sau mưa. Kẽm gai đọng nước nổi thành chuỗi đốm sáng li ti. Mấy cây sàm còn sót lại cũng sáng từng chùm lá. Một trái đồi to nằm ven đường Một, mé trên, được gọi nâng đỡ là núi. Những cây sàm mọc qua kẽ đá, thân vặn vẹo nhám nhúa, lá nhỏ và rất dày, bóng như nón mới quang dầu, đã bị xốc trụi hết. Trong mươi ngày, tụi Mỹ dựng xong trên núi Sàm một đồn khá to, bằng quân nguỵ bắt dân làm kỳ cạch ba tháng. Chúng sẽ bị diệt trong vòng nửa giờ.


Trưa đứng bóng rồi. Tôi luồn dưới bụi mua định ngủ một giấc, chú Dé lại xuống gọi:


- Anh Thiêm, du kích…


- Đâu?


- Du kích chị Mẫn đi đánh, chưa xong qua đường xe sắt.


Tôi chồm dậy, bươn nhanh lên lùm gai bờm rậm sau lưng Dé, đón ống dòm.


Một múi gò bên trái che mất làng Cá. Chỉ thấy hai bóng người cắm lá rậm đang men các bụi cây đi xuống. Cặp tàu rà vẫn xoay như đèn kéo quân, gác trên ấp cô Tươi, vòng quần mở rộng gần tới Lộc Chánh. Chiếc thứ nhất vừa quay đuôi, hai bóng kia phóng ngay qua đường nhựa, chạy khom giữa các vồng khoai đắp rất to cao của vùng cát, lại thụp vào một cụm lá tránh chiếc thứ hai sà tới. Đằng sau họ vài chục thước, có hai người nữa. Rồi hai nữa. A, đội du kích Tam Sa chiếm Lộc Chánh! Tôi hiểu. Bọn biệt kích ở đấy đã rút đi dẫn Mỹ, trong buổi sáng bỏ trống quãng đường Một và cái ấp chiến lược đang rào lại nham nhở. Tin lên làng Cá, du kích ập xuống ngay. Chiều nay, cánh quân Mỹ sẽ thình lình bốc trúng than lửa. Vào đất Tam Sa phải toé máu phòi ruột cho coi. Đánh giữa vùng cát phẳng, địch vây bốn mặt, thiếu hầm hố, chọn được buổi chiều là hay nhất.


Chộp ngay thời cơ như thế, dám tấn công vừa liều vừa khôn như thế, tôi biết chỉ có Mẫn nghĩ ra trước. Năm Ri chưa tới cỡ đó.


Tôi bò thằn lằn thật chậm đến một bụi sim đằng trước, thẳng hướng lỗ châu mai bên núi Sàm ngó qua. Chúng bắn có lúc chứ.


Thấy rõ làng Cá rồi. Từ ngõ nhà cũ chị Biền nay bỏ trống, du kích từng đôi chạy đến gần đường sắt, núp, vọt qua cái ta-luy đắp cao, núp, đi men bờ bụi tới sát đường ô tô, núp, xẹt ngang dải nhựa đen và các bãi khoai, núp, tuồn vào ấp Lộc Chánh. Hai người đứng nép chỗ góc vườn nhà chị Biền dưới cây mít bị pháo chặt ngọn, chỉ trỏ. Bóng cây giữa trưa đen đặc lại, khó nhận ra ai. Một người nhô ra nắng, cái báng cong trên súng loé tia nắng. Mẫn đi à? Mẫn cũng đeo vòng nguỵ trang rậm lá không xăn quần đến gối như mọi khi – giấu vết thương chưa lành – chạy theo một cặp gần cuối. Người thứ hai tập tễnh đi vào làng Cá. Anh Luân ở nhà.


Ngõ xóm đã vắng.


Các vườn cau trong làng Cá thưa hẳn sau những trận pháo từ trăm quả trở lên, đất đỏ pha vàng hiện lỗ chỗ. Mỗi ngôi nhà biến đi để lại trên nền cây xốp ấy một cái giếng sâu, thành giếng sém nâu và đáy đọng tro đen nếu là nhà cháy, thành xanh đáy vàng khi chủ nhà tự tay dỡ nó, lấy gỗ lát địa đạo và tre lá dựng cái lều nhỏ trong bụi rậm. Làng gần hết sạch mái nhà. Ống dòm của tôi soi chéo xuống hòn đảo dài, chỉ gặp mảng ngói đen điểm trắng của mái đình cong võng, nhô lên đấy như người làm chứng già đứng kể tội giặc. Đường hầm dưới mười thước sâu đã thông hẳn. Bà con đang hối hả lắp cửa chống hơi độc, moi hố chống thả thuốc nổ, khuân xuống những chum vò chứa nước, gạo, than, mắm, dầu, cả sữa hộp và chõng buộc sào tre làm cáng cho người bị thương. Những người đào đất ngày đêm và chi chút lo cho cuộc sống trong lòng đất ấy, khi địch tràn vào sẽ ở lại bên trên giữ kín các miệng hầm, níu kéo không cho giặc phá làng. Cán bộ và du kích Tam Sa đã có thêm nhiều cây số rễ ngầm để bám chắc vành đai. Rễ chính có, rễ phụ còn mọc thêm mới, sẽ nối liền vùng Tứ Nhơn, vùng gò, xuyên qua đường Một…


Tôi bò trở về lùm gai bờm, lật mũ tai bèo ra lau mồ hôi mặt đầm đìa. Mồ hôi vã nhiều khi tôi xem Mẫn vọt qua Ta-luy đường sắt. Mẫn với tôi năn nỉ nhau đừng liều, cũng chẳng đi tới đâu. Mẫn sẽ đáp gọn lỏn rằng bí thư cần có mặt trong trận chống Mỹ đầu tiên của Tam Sa, rằng ném sáng kiến ra cho người khác làm thì khác nào mồm miệng đỡ chân tay, rằng “anh như em, anh còn xách súng chạy lên trước nữa chớ!”. Hoà cả làng. Ngủ thôi.


Ba giờ chiều, anh em lay tôi dậy. Cánh quân Mỹ ra khỏi ấp cô Tươi, lên Lộc Chánh. Đại đội biệt kích áo quần đen dẫn đầu. Rất tiếc, anh em đang khao khát bắn lính Mỹ kia.


Tới cách bờ đai ấp một cây số, tụi nguỵ tách sang con đường đất bên cạnh, tuôn lên nằm dọc đường Một như mọi ngày, xem kiểu đi đủ biết chúng mù tịt về ta. Quân Mỹ tản rộng, theo sau lũ M.113 vào ấp. Sướng rồi.


Chiếc xe đầu sùng sục băng cát, xốc hai luồng bụi trắng như rẽ bọt hai bên xích, hệt tàu đít vuông vào bờ. Tôi chăm chú xem nó, một mình nó. Nó chồm chồm trèo qua các luống khoai, nghiến hai vệt đen trên bãi mè rộng. Tránh đường. Cách cổng vào ấp chừng trăm thước, nó dừng lại, dòm. Vào ấp do nguỵ giữ, nếu húc bừa hàng rào thì bọn “da màu” sẽ cười Mỹ nhát, và có thể cãi bay nếu Mỹ dẫm mìn, tụi ac-vin(1) là chúa đểu. Hẳn nó nghĩ vậy hoặc thằng chỉ huy đằng sau nhắc vậy, nên nó leo lên mặt đường, xịt một hơi khói đen cạnh sườn, tỏ ý chẳng sợ, rồi cho cặp xích loang loáng ngoạm đất. Bầy xe ghép hình dẻ quạt, tiến theo. Lưng tôi lạnh dần. Cặp tàu rà xuống sát ngọn tre, nghiêng cánh xoay tròn. Mười bốn chiếc xe đầy lính tung bụi ùa tới, chĩa súng chơm chởm. Du kích không có súng chống tăng…Mìn? Mìn lớn đâu có đủ để chôn khắp các hướng. Anh Biền chuyên cưa bom đúc thủ pháo đã bị giết. Nếu có tôi trong cuộc, tôi sẽ…


Trái mìn nổ, không phì khói tròn mà phụt thẳng đứng, dựng cái lọng rất cao. Mìn lõm của Mỹ! Chiếc xe chồm như ngựa chứng, đổ nghiêng, bụi trùm kín nó. Chung quanh mấy chiếc đi gần bật lên những đốm lửa tung toé. Đòn phủ đầu khá lắm. Lựu đạn ném sai nhiều quá đấy Mẫn ơi! Súng trên xe bắn dữ. Hình như du kích thụp xuống hào tránh đạn. Đừng tránh Ri ơi, xe nó xóc mạnh, lính đang hoảng hồn thụp đầu, chồm lên mà đánh! Ri, kìa thằng Ri, coi đạn quạt vào lưng chừng cây tre đó, trúng trật gì, xốc tới mau! Tôi gầm nhỏ trong họng, rướn mãi tới. Cậu Lập nắm vai tôi kéo lại: “coi chừng nó thấy”. Nó nào nhỉ…Mày bỏ lỡ phút này, chết đó Ri…A, hay lắm! một bựng lửa khá to bùng giữa một khoang xe, cả khối sắt bốc cháy tức khắc, như khói đen biếc của dầu nhờn. Cát bay mù trời trước cổng ấp. Màn khói bụi vẫn đầy những tia lửa lằng nhằng. Của địch cả. Tôi suýt reo khi thấy chớp lửa to màu da cam của thủ pháo. Anh em luồn trong đám mây đặc ấy, nện tiếp. Rất khá, đừng xài đạn, để dành lát nữa, chỉ trái nổ thôi nghen Mẫn…


Làng Lộc Chánh đã ngập một nửa trong khói. Cối và phóng lựu M.79 của quân bộ ngoài trảng phóng vào như mưa đá. Nhiều đám cháy. Bốn chiếc trực thăng phản lực bay tới, quần do dự trên cao, chắc sợ trúng đạn cả đôi bên. Tôi xem mãi đến hoa mắt, phải trao ống dòm cho anh em, chợt thấy tim đập dữ và ngực đau, có lẽ tôi quên thở quá lâu. Các tiếng nổ nhập cục lại thành sấm đất, bây giờ tôi mới nghe. Tai còn vo vo bung bung. Người xem đá bóng lắm khi mệt hơn cầu thủ.


Cậu Lập thay tôi theo dõi trận đánh, hết ứ trong mũi lại ái đằng mồm. Tôi muốn gắt cho cậu ta im, sau chỉ hỏi:


-Tới đâu rồi?


-Nó phóng một loạt trái mù. Rút … Rút thiệt rồi.


-Mi-tăng(2)  thôi, hay là…


-Xe quay đầu. Quân bộ cũng lui... Gut-bai Vi-xi(3). Đường về Chu Lai còn xa lắm, co-ca-cô-lâ đã cạn từ lâu...


Tôi phì cười. Gần năm giờ, tụi Mỹ chuồn thôi. Pháo Chu Lai nổi gầm từng loạt. Giai đoạn thù vặt bắt đầu.


-Chắc đồng bào hỏi miết đâu rồi bộ đội.


Câu nói lơ lửng của chú Dé làm tôi nhói ruột. Thôi chết, lúc thường mang súng dài súng ngắn dạo khắp xóm, Mỹ lên đốt đuốc tìm không ra ông nào, tránh sao khỏi…Ai đó sẽ lên tiếng: “Cái tay Thiêm ăn cá uống bia lâu nay đó, đâu rồi ta”?. Ai khác cười mũi: “Hì, một tấc đến trời!”. Mẫn đỏ hai tai, nâng các-bin lên ngắm để khỏi nhìn quanh. Chẳng lẽ Mẫn kêu toáng: “Anh Thiêm đang theo dõi cái núi Sàm để tối mai khiêng chống chầu(4) về diệt, đừng nói bá láp!”'. Ừ mà cho đến nay tôi vẫn là phái viên của H.68 về bám Tam Sa, có gì khác trước đâu. Tam Sa đánh Mỹ lần đầu, cũng là trận chống Mỹ đầu tiên của khu vực Bắc Chu Lai, tôi đã để bao nhiêu kinh nghiệm vàng ngọc tuột khỏi tay! Rủi, rất chi là rủi, đành vớt vát thôi.


Trung đội trưởng Lập lãnh bộ phận này, nhưng vì tôi có mặt nên cậu cứ quên vai trò chỉ huy, nay xin trả lại cậu. Tôi chỉ mượn cây AK với hai trăm đạn, cây súng này làm tôi mừng sửng sốt khi bắn thử. Chú Dé đòi theo, tôi không chịu, chú xịu mặt ngay. Tiểu đội phó mà trẻ con vậy đó.


Tôi gặp Dé năm ngoái khi về chuẩn bị đánh đồn ở Trà Bồng. Chú dẫn tôi đi, đón tôi về. Tôi chưa thấy một ai có mắt, tai, mũi lạ lùng như Dé, tinh nhạy đến phát sợ, thua người chỉ cái miệng. Chú mến tôi, rồi mến xê mình, cứ nhất định “nhập ngũ anh Thiêm” thôi. Bao nhiêu lần chúng tôi đã trầm trồ với nhau: “Thằng nhỏ, đúng là trời sanh ra làm trinh sát!”. Cái đồi núi Sàm kia, chú đã vào ngoay ngoáy tới tận ruột nó tới bốn lần. Tôi hay chọc Dé là “khôn chợ dại nhà”, chọi với địch một ngàn mánh khoé mà ở với ta chỉ biết tít mắt cười hề hề. Cái cười ấy, cùng với bộ mặt bấm ra sữa và giọng Kinh chưa sõi đã giúp cho Dé được các mẹ cưng nhất trong xê mình.


Tôi về đến làng Cá lúc gần tối.


Đường làng đầy ngập những nhóm vừa đổi phiên địa đạo, lấm lem từ đầu đến chân. Hai người phủ bột đỏ, vác cuốc. Năm cô sàn sàn nhuộm bùn lỏng màu xám lợt. Một tốp nữa toàn đất sét vàng, trên khô dưới ướt. Giống nhau chỉ có bộ mặt vằn vèo muội đèn và bộ râu Hít-le đen kịt dưới lỗ mũi, tuy đã thắp dầu phụng cho đỡ khói. Bà con chỉ bàn thì thào – cách mạng miền Nam ai làm nấy biết, quen nếp rồi – mà cái khoái cứ xì qua giọng nói:


- Pim pim! Tránh xe ủi đất nghen!


- Chỗ đó rút tấm ván cầu, thằng nào nhảy xuống … éééo!


-Tò te là tum cốc...


- Nó tàu bay, mình tàu lặn, thử coi ai ăn ai!


Đội du kích chưa về. Nhiều cặp hát u th đèn dù và bắn như xay lúa dọc đường Một. Tụi nguỵ áo đen suốt buổi chiều dạt về mạn bắc, nằm giữa trảng cát cho máy bay dễ nhận, không dám đến gần ông bạn Mỹ vụng như gấu mà rất đa nghi. Bây giờ pháo đang nện gắt vào chỗ trảng ấy. Tụi ác-vin chết mặc kệ, miễn là chặn được đường lui của Vi-xi, chắc tên chỉ huy Mỹ nghĩ vậy.


Tôi bám anh Luân đi xem suốt lòng địa đạo, soát lại các cửa đã nguỵ trang rất khéo, xong còn ăn cơm nhà mẹ Sáu và tắm một chầu, đội du kích mới về. Anh em vòng hình chữ U vào phía Nam tránh pháo và trực thăng. Tuy đã thắng được những cơn sốt dồn dập, lúc này tôi vẫn đâm bổ ra đón. Một khiêng lúc lắc, võng buộc vào cây tre. Một cái đầu băng trắng. Cậu Diêu, Mười Diêu ở Nhơn Lộc hi sinh. Đã cho khiêng thẳng về làng. Địch hả? Mấy người đếm, ít nhất mười bảy, nhiều nhất hăm lăm xác, số nhào trong xe chưa biết được. Từng khuôn mặt lấm, cười loé răng, diễu qua cái luồng sáng đèn dù xen kẽ với bóng cây lá, ném cho tôi một câu hối hả. Các cô được tản đi tắm giặt trước, cánh con trai khiêng thưng và lo việc linh tinh. Phụ nữ làm bí thư có khác. Mẫn đi gần cuối, ấn luôn vào tay tôi một cái xắc cốt rộng và dẹt, nói như đang dở câu chuyện:


-Thầy Thiêm coi dùm đi. Nó rớt ra, cát lấp, bà con bới tìm súng mới đụng. Họp nhà xã Chinh, mười giờ…


Mẫn đi thẳng. Ngại tôi bắt bẻ, không muốn tôi thấy rách, bẩn, hay giấu một vết thương mới? Đố biết.


Năm Ri ẩy vào nhà xã Chinh hai tên trói ké, một đứng tuổi mặc bà ba đen, một trẻ mặc tây rất sang. Anh Luân thắp thêm ngọn đèn ve rượu bạc hà, soi lại hai bộ mặt tái xanh, gật đầu:


- Ngon rồi, bắt gọn không?


- Ụp xuống là tới thăm nhà lập tức. Thằng Hoè đang diện bảnh, dắt xe đi đón ông nội Huê Kỳ, bản đồ với thẻ công an chìm nhét trong quần lót. Thằng Cống làm heo, nấu xôi, để sẵn sáu két bia. Anh em đại liên một trận, dàn quân hơn tiếng đồng hồ Mỹ mới lên. Tài liệu chôn dưới chuồng heo, cả mớ vàng với tiền đây nữa.


Cậu ném ra gói giấy bạc một trăm mặt xanh mặt đỏ, và xâu nhẫn vàng chừng hai chục cái. Anh Luân xổ mớ thuốc rê xuống mặt bàn, lấy cái túi nhựa trong bỏ các thứ vào, thắt lại:


-Để giao Năm Tuất làm tiếp…Hỏi chưa?


-Rồi. Nó biết Mỹ sắp càn Tứ Nhơn, không biết ngày giờ.


Năm Tuất vào, “à” ngay một tiếng nhẹ nhõm. Vẫn rất củ mỉ, lớp lang, anh đọc cho hai tên điệp nghe giấy bắt của huyện. Thằng Cống buôn mắm. Thằng Hoè chích dạo(5), đã được bà con Lộc Chánh bám sát lâu nay. Thế nhưng chi uỷ không tin hai đứa này dò ra tông tích chị Biền. Ngay tôi là “cố vấn” đáng tin cậy cũng chỉ nghe Mẫn kể sau khi vợ chồng chị bị giết. Các đồng chí khác về vùng cát vẫn yên ổn.


Cũng chẳng phải thằng Chinh con “giết lầm hơn bỏ sót”. Không, hắn ăn gan chị Biền, uống say, nói toáng rằng mụ này mới kết nạp, gan đảng viên nằm vùng béo hơn đảng viên nhảy núi là nhờ “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản”, ở núi ăn lá thì gan dai nhách.


Vụ án chị Biền vẫn chưa tỏ. Tên địch giấu mặt nào đó đớp lấy một câu sơ hở như cá đớp bọt, lặn ngay, chưa mò ra.


Anh Tám Liệp đến sau, vẫn chững chạc trong bộ quân phục ka-ki, lẳng lặng đếm tiền, đếm vàng, rút giấy viết biên bản giúp Năm Tuất. Bàn tay anh có cái gì đó ngượng ngập khi đặt tờ giấy kín chữ trước mặt Mẫn: còn khi hỏi Tư Luân mấy việc gấp về kho lúa, anh có vẻ tự nhiên hơn. Anh chưa quen làm việc dưới quyền cô con nuôi. Cũng không quen chào chung một tiếng và rút êm để chi uỷ họp. Mẫn ngước nhìn theo ông chú đi ra cửa, chớp chớp, mắt hình như kín đáo thở dài.


Tôi đã hiểu vì sao anh Bảy buộc Tám Liệp phải ở lại Tam Sa để dọn những chỗ xả rác. Những cán bộ lâu năm như anh Liệp, công rất nhiều, khi sai cũng không ít tội, nhưng họ khác xa lũ Ba Thấn, họ đủ tỉnh táo để bước lùi trước cái vực đen của sự phản bội. Chiếc xe bò ì ạch thật đấy, nhưng khi nó chuyển thì lại vững và khoẻ hơn xe đạp gấp mấy. Tám Liệp đã chuyển. Anh về ở hẳn Làng Cá, xóm Đuồi, trong mươi ngày đã sắp xếp gọn đống bòng bong kinh tế mà Năm Tuất suốt hai tháng ròng không gỡ nổi. Bây giờ anh đi từng xóm giải quyết nốt số ruộng công, tổ chức làm mùa tháng năm. Những tiếng trách và giễu xung quanh lặng bớt, nhưng khen thì chưa. Ở nơi hằng ngày động đất này, bà con coi người trên việc làm. Không ai rỗi hơi để nhắc hoài chuyện cũ, cũng chẳng tội gì mà đi bốc thơm một cán bộ đã bỏ dân khá lâu.


Từ nãy tôi thắp đèn riêng một góc, trải tấm nhựa trên nền sạch, soạn lại xắc-cốt Mỹ. Khi mới tới, Mẫn đặt trên bàn một nải chuối tiêu to, mời: “các chú ăn nếm đi để cháu ăn với, đói kinh”. Một kiểu mời rất nông dân. Đợi chú Liệp đi khuất, Mẫn mới dám bẻ chuối ăn, vừa nhai vừa đọc biên bản. Ký xong, Mẫn dặn:


-Anh Năm xin trên một phần tiền, mua sữa trứng gửi cho hai cậu bị thương, mua thuốc cho du kích nghen…Nhắc ai giải tụi nó, hễ cởi trói cho đi ỉa như thằng Ba Thấn thì vô trại cải tạo luôn do…Đứng lấy du kích, một tổ phụ nữ vác dao phay đủ rồi, mượn vài trái lựu. Anh cầm luôn cái tờ em lấy cung hoả tốc hồi trưa, đây. Khiêng thương hai cáng sáu nguời…Dạ, anh đi.


Mẫn bẻ mấy trái chuối đem lại cho tôi. Ngoài sân ai đó kêu to “tàu rà”. Ở vùng tàu bay dệt cửi trên đầu này, hai tiếng được rút gọn thành “tơra” ấy mới đáng coi như báo động. Đèn tắt phụt, trong xóm đèn lửa vẫn để nguyên. Tụi tàu rà thuộc làng đến độ ban đêm có thể nhận ra những đốm lửa khác thường và gọi pháo bắn. Tôi quờ tay cầm chuối, nắm cổ tay Mẫn. Mẫn ghé sát tôi, giọng hơi lẳng và đậm mùi chuối chín:


- Thấy tụi em đánh không?


- Thấy, giỏi một cây. Năm-bờ-oăn(6). Băng chân…


- Rồi. Anh bớt nóng ruột chưa?


- Nóng chuyện khác thôi.


- Gì


- Lấy vợ!


Một loạt tiếng đập nồi đất trên không. Tôi buông tay Mẫn khi đèn chùm bật sáng, soi qua các cửa sổ đã tháo tháo hết cánh đưa xuống hầm. Một bóng người cao lớn nhô trước cửa chính, thở phì phò, chân tay quờ quạng như say rượu. Từ sau bóng lạ, tiếng Rốt chị dội tới:


-Chị Hai đâu? Có người hỏi chị Mẫn, hay anh Thiêm cũng được!


Mẫn ra cửa. Cặp tàu rà để nguyên đèn hiệu lượn trên làng. Cái bóng to ngồi thụp xuống thềm, lắp bắp:


-Toi…Xáng đây…


Tôi nhận ra chồng cô S.16... Mấy luồng sáng trắng quét qua một bộ mặt đầy vết máu chảy trên da nhợt. Áo rách thành mớ dài treo trên cổ, cũng vấy máu. Xáng hổn hển:


- Mỹ vô … hiếp vợ tôi…không chịu, nó đâm chết…


- Trời, con Tươi bị! – Mẫn kêu rít răng.


- Tôi trốn trong buồng, nhảy ra cứu, không kịp, tôi bóp cổ, cắn, đâm…


- Anh có sao không?


- Gai cùng mình…chạy qua bãi xương rồng…đáng kiếp, đau đáng kiếp…


Tôi thấy một chùm gai xương rồng xóc gãy trên vai Xáng, so le như chòm râu lạ. Xáng giết được một Mỹ, thoát, núp nhiều chỗ, ban nãy mò lên lại bị mấy thằng biệt kích nguỵ chụp bắt ngoài ruộng, cách bìa làng Cá ba trăm thước phía Bắc, vật lộn nữa. Xáng chạy được, chỉ bị gai lún sâu thêm vào thịt, đau dựng tóc. Địch không bắn theo. Trinh sát hay quân vây?


Năm Ri cho người đi tuần và giao út Hoà cứu chữa cậu Xáng. Cậu lắc đầu nói mãi: “Tại tôi, tại tôi hết…”. Bị gai xương rồng, phải tắm xà phòng thật sạch, lấy nhíp nhổ râu rứt từng cái một, các mũi gãy sâu thì để làm mủ mới nặn ra được. Tôi dặn nhỏ Út Hoà cho cậu uống một liều an thần. Mẫn ngồi vào bàn, tay chống cằm, nhắm mắt hồi lâu trong khi anh Luân nói cho Ri với Cang biết về cô Tươi.


Sau mấy phút choáng váng, tôi day chỗ bắp thịt rút đau trên má bên trái, cố dồn óc vào công việc. Tôi thắp đèn pin xem lại tấm bản đồ vùng Chu Lai trải rộng. Không có chữ hay dấu gì ghi trên ấy cả. Trong kẹp chỉ có giấy tờ linh tinh: Phiếu trả lương cho trung uý Rô-bớt S. No-ton, biên lai chuyển tiền, một số báo Sao và sọc, mấy cái thư, mươi thẻ kẹo cao su dài dẹt như quân bài tổ tôm xấp tư.


Tôi chợt thấy trên mặt nhựa cứng của chỗ đút bản đồ có chữ viết bằng bút chì mỡ đỏ. Chút nữa quên. Tôi gập tấm bản đồ thật đúng nếp cũ, khu vực càn hôm nay nằm trên cùng như trước. Nhét lại dưới lớp nhựa trong như kính. Những chữ đỏ nổi rõ ngay trên nền giấy xanh lá đầy các con số toạ độ và điểm cao.


Tên Mỹ ghi trên góc 26th – 3 pm.., khoanh tròn, kéo một đường vào Lộc Chánh. Đè luôn trên hình con cái quẫy của Nhơn Ái có đề 27th – 7 am. Hai mũi tên chĩa vào đấy. Mũi hướng đông có chữ ACars – Mar. Mũi từ bắc xuống đề ARVN. Trên gò Mù U còn thêm một cánh cung phòng ngự: Hel-Mar.


Tim tôi từ từ thắt lại. Tôi nghĩ một lát, cầm bản đồ tới đặt trên bàn cho chi uỷ xem. Anh Luân nâng kính dòm vào:


-Gì hè…Hăm bảy, tháng bảy âm. Nó cũng theo lịch âm ta hả?


Quân Mỹ đã đến Lộc Chánh chiều ngày hăm sáu, ba giờ, đúng kế hoạch. Sáng mai hăm bảy sẽ đánh vào làng Cá, tấn công hẳn hoi chứ không phải nghênh ngang đi tuần. Mũi đường Một lên có xe bọc sắt và lính thuỷ đánh bộ Mỹ. Mũi bắc giao cho quân nguỵ. Trực thăng sẽ đổ lính thuỷ đánh bộ xuống khoá gò Mù U. Còn vùng đồi hoang hẳn là giao cho máy bay và pháo nện vô tội vạ.


Năm Ri buột miệng:


-Mắt quá mắt thánh! Anh học hồi nào tài dữ vậy?


Anh Luân và Chín Cang cũng khen vùi. Mẫn im, mắt lóng lánh. Trong một phút, người nghe có thể tưởng đọc được tấm bản đồ còn quan trọng hơn đánh thắng trận càn ghi trên đó.


Tôi viết thư, giao Ba Tâm chạy đêm tới sở chỉ huy anh Điển trao cái kẹp. Mẫn đang tính lại số mìn với Ri, dặn với theo: “ở lại luôn đó nghe em, lỡ có hoả tốc…”. Tâm tảng lờ không nghe, phóng ngay. Chú ta là người của huyện kia mà.


Mẫn đằng hắng, nói nghiêm nhưng chỉ nhìn ngọn lửa:


-Chi uỷ họp nhận định về trận Lộc Chánh chiều nay, bàn cuộc chống càn sáng mai. Tôi mời đồng chí Thiêm dự, giúp chúng ta…


Tàu rà vẫn treo đèn dù trên vùng gò và đồng Tam Trân, sẽ thay nhau quần đến mai. Trực thăng rọi pha dọc đường nhựa phành phạch. Những luồng sáng lạ chạy không ngớt qua các lỗ hổng của nhà xã Chinh, tôi thoáng nghĩ tụi Mỹ soi pin tìm ác ôn. Chỉ có cối trên núi Sàm bắn ra chung quanh dàn pháo Chu Lai ngủ sớm để mai dậy sớm.


Hai giờ sáng, Ba Tâm ra bãi mìn mới đặt tìm tôi, đưa mấy dòng lổn nhổn chuyện buôn bán và cày cấy của anh Điển. Du kích Tam Sa phải cố chặn không cho Mỹ vào làng, nếu vào cũng không được đóng lại, để trận núi Sàm tối mai – tối nay đúng hơn – khỏi bị vướng đường tiến đường lui. Tôi sẽ ở lại giúp Tam Sa chống càn, kiếm kinh nghiệm luôn.


Nhất rồi còn gì!


__


1. Tiếng Mỹ gọi quân nguỵ, theo chữ viết tắt ARVN “quân đội Việt Nam cộng hoà”.


2. Nghỉ giải lao giữa cuộc đấu


3. Tạm biệt Việt Cộng!


4. Đón bộ đội chủ lực


5. Tiệm thuốc rong


6. Số một, hạng nhất.


Chương 22


Sau một trận đơn giản, tôi có thể kể ngay từ đầu đến cuối những sự việc chính,  công của anh em nổi nhất, cả một mớ râu ria thú vị ngoài lề nữa. Còn mới đánh  xong một trận lắt léo, ác và kéo dài như cái ngày chống càn hôm nay, tôi lại nhớ rất ít. Nếu có ai chộp hỏi ngay, tôi chỉ có thể nói về mấy tình huống khó xử nhất, mà cũng kể lơ mơ thôi, thua cả người đứng ngoài xem. Lúc thân thể tôi đầy bùn, mồ hôi và những vết sây sát, cũng là lúc đầu tôi đang chất bộn những nét vơ vẩn không đâu, từ con sâu trên lá rơi lọt cổ áo đến thằng giặc chết sao cứ  ngọ nguậy bàn chân phải tuột giày. Kỳ vậy đó.


 


Trong khi giao chiến, tất cả các giác quan đều mở hết máy, phóng lên óc hàng ngàn tia điện loang loáng, biến thành hàng trăm ý nghĩ xô đẩy nhau như những hạt điện từ xung quanh hạt nhân, tụ lại thành mươi cái quyết định nói ra mồm vào những lúc gay go. Cũng như anh Ba Tơ, tôi cho rằng người đại đội trưởng giỏi không nên hò hét nhiều, càng không nên quát tháo làm anh em cuống. Phải nhìn khắp, hiểu rõ địch và thấy hết ta, nghĩ kỹ, nhưng cũng phải biết để cho cán bộ trung đội tiểu đội tự tìm cách đánh tốt nhất, chỉ ra lệnh khi cần, và lúc đó cái lệnh phải mạnh như mười cân bộc phá. Tôi thường bám chỗ mũi nhọn của trận đánh, kìm mình lại để cán bộ cấp dưới cầm quân như không có tôi, nhắc khẽ để họ xử trí, có khi suốt một giờ chỉ một lần mở miệng to để phát lệnh xung phong, kéo cả đại đội lao tới. Chính vì vậy mà tôi mệt óc; bã người hơn ngày xưa làm anh đội viên súng dài, tuy chỉ vọt từ chỗ này qua chỗ khác như dạo xem, bắn mươi loạt hay ném vài trái lựu phụ với anh em. Khi đã hơi mụ đi, tôi vẫn đủ sức xoáy sâu vào cái phút đang diễn ra, vẫn lái đúng mũi khoan của xê mình thuốn vào ruột địch, còn những gì trước đấy và sau đấy thì nhoà nét dần, ngay cái xác tôi cũng biến đâu mất, có người nhắc tôi mới biết đang ngậm cơm trong mồm hay có một viên đạn vừa cứa đứt thịt đùi. Cũng may, chỉ sau một lần đi soát đơn vị, trao đổi với anh em, nghĩ một lát nữa càng hay, tôi đã đủ tỉnh táo để dựng lại cuộc chiến đấu vừa qua trên đường lên gặp tiểu đoàn. Đấy mới là bức vẽ phác, về sau mới có thung lũng nối liền các đỉnh, và cây xanh hoa đỏ sẽ dần dà hiện đủ.


Mỹ càn vào làng Cá dữ thật!


Chiều qua chúng đi lớ ngớ, húc vào cái đinh Lộc Chánh, bị sứt trán phải bỏ chạy. Hôm nay khác, chúng cố đóng đinh cho thủng vành đai của ta.


Giàn pháo Chu Lai băm vằm từ mờ sáng. Đội du kích dàn trong hào phải rút hết xuống địa đạo, chờ. Những chén mẻ đựng dầu phụng thả bấc được thắp nhỏ ngọn từ các hàm ếch nhỏ xắn vào lưng vách soi xuống từng bộ mặt đăm chiêu. Pháo nện như cả xóm cùng giã gạo chày từ trên đầu. Bà con đã gánh cát vun đống ngoài ruộng về đổ dầy trên nóc hầm nhà, đạn 155 không phá nổi. Người thoát đất, còn trâu buộc hầm cạn, còn nhà vườn… Cô Xuyến bật rên: “Cả ngàn trái”. Ai đó xuỵt, Năm Ri nhắc hà tiện đạn. Cô Rốt chị, xã đội phó mới được cử cách đây năm tiếng, sẽ nắm một tiểu chặn quân ngụy phía bắc đang vạch que bàn gì với các bạn, cười lúm đồng tiền trên má phính. Cậu Sung trung đội trưởng ngồi quãng giữa cái cầu thang chót vót trèo lên miệng, từng lúc gọi xuống: “Bớ ba quân, kíp mau mau thượng lộ!”, rồi lại xua tay khi loạt pháo mới rầm rầm trút xuống.


Tôi ngồi nghe pháo và xem Mẫn ngủ gật. Ước chừng mười hai cây 105, bốn cây 155. Không nhận ra được thứ 175 chưa quen nó. Ban chỉ huy chống càn đây: Ri xã đội trưởng, Mẫ chính trị viên, tôi cố vấn, thêm Ba Tâm chạy giấy và Út Hoà đeo túi thuốc nữa. Tất cả đều mệt lử và rất bốc sau trận Lộc Chánh. Còn Chín Cang nắm quân chính trị, anh Luân lo hậu cần nữa. Cái ngày Mẫn với tôi dắt nhau đi bắn tỉa mỗi đứa một phát đã lùi xa tít, tưởng đâu như trước đồng khởi. Riêng đội du kích xã bây giờ đã tới sáu chục người, gần năm chục súng.


Dựa vào vai cậu Giáp, cây trung liên Ba nhô cái đầu nòng chẻ tư hau háu: chị Bỉnh huyện đội phó đã trao nó cho xã đội giữa một ngàn người hò reo, trong lễ phát động chống Mỹ. Quanh năm vẫn thấy quân ngụy vác thứ này đi nghễu nghện, trong mà ngứa mắt, nhưng đêm ấy ai cũng muốn sờ nắn cây súng. Rồi khen nhé. Du kích được thưởng trung liên là vinh dự lắm, mấy xã bên đâu được vậy. Kê tiểu liên trên thùng thiếc bắn mãi địch cũng nhận ra, quát tướng những cái lệnh đại đội bọc lưng hay tiểu đoàn xung phong riết rồi chúng cũng hết mắc mưu, chỉ có xả mấy loạt pằng pằng tụi nó mới sợ: “Chủ lực đó bây, chạy!”. Vốn liếng khá rồi, mặc sức kiếm lời làm giàu. Thứ này lại sẵn đạn, chẳng như cái anh vanh cách(1) hai cò, nổ xong một băng là lo vác đi giấu. Đánh giỏi rồi súng gì cũng có. Mà… nè các cha, một trăm cái xấu không gì xấu bằng để mất “cây hoả lực” đó nghen, trung liên rớt vô tay địch thì cả xã mang nhục, chẳng riêng gì tụi bây đâu…


Bà con xúm bàn tới tấp vậy đó. Mẫn cũng lanh, nhân cái đà bốc chung ấy mà kêu gọi cô bác vót chông nhiều gấp đôi, rán tìm bom hư đạn thối làm thêm mìn. Chông mìn thật dày, giặc đừng hòng chồm lên cướp trung liên. Lừa cho tụi nó lọt giữa bãi chông mình, xổ một băng, nó chạy toé ra, vãi xác khiêng không hết. Ngon như gỏi. Bà con hoan hô tơi bời khói lửa. Từ hôm ấy, chông gánh tới giao cho du kích không kịp đếm. Cây súng máy biến thành một cái gì tượng trưng cho sức lớn lên và sức kết chặt của du kích Tam Sa, to hơn giá trị thực của nó gấp năm mươi lần.


Năm Ri quay nhìn tôi, nói trống không:


- Lên được rồi hè…


Tôi cười, khoanh hai tay ra ý dứt khoát chỉ làm người xem. Mẫn ngấc đầu, dụi mắt:


- Bớt pháo, lên mau! Ai về chỗ nấy!


Anh em hối hả bươn tới cái cầu thang hình chữ chi. Dép cao su giẫm thình thình trên tấm phản lim bắc qua miệng hố chông lớn, dội lên các bực đất bịch bịch. Tôi liếc đồng hồ: sáu giờ kém mười, tức bảy giờ kém mười theo Sài Gòn. Tôi bấm đèn pin đi cuối cùng, thổi tắt các ngọn lửa trên vách, leo sau lưng Út Hoà, qua cửa. Khí trời mát và sáng dội ập vào mặt như một gàu nước giếng đầy ánh nắng. Tôi phải lim dim mắt khi đóng nắp, xoá dấu, khi mở mắt được hẳn thì mũi và họng đã thấy khét đắng, khói thuốc nổ còn đọng dày như sương mù trên làng. Đạn pháo rít qua đầu, đánh vùng gò. Tiếng trực thăng đến gần. Tụi Mỹ càn đúng giờ  hơn Ngụy nhiều.


Tôi đóng kỹ vai cố vấn suốt đợt chạm trán đầu tiên.


Tiếng pháo khạc đạn dưới kia bỗng tắt phụt như ai giật cầu dao điện. Bầy trực thăng đang bay xế phía nam né luồng đạn, rẽ ngoặt sang phải,  tốp “xe tăng bay” dẫn đầu áo ào bắn xuống gò Mù U đã bị cào xới đỏ loét. Số mìn chúng tôi chôn ở đấy còn sót bao nhiêu chẳng biết. Tôi chưa gặp một thứ gì ồn tai nhức óc hơn một cuộc đổ bộ trực thăng với mấy chục máy bay xúm chùm hai tầng trên đầu, tần dưới lại xối đạn như tưới nước. Nghe kỹ, vẫn tách ra được tiếng nổ nhát gừng của du kích bắn lên. Mặt ấy cầm chừng bấy nhiêu thôi. Mạn bắc, Rốt chị còn hăm he lấy cho được súng của tụi biệt kích ngụy. Nặng nhất là khúc lườn con cá này.


Mũ sắt nhô lấp ló trên ta-luy đường sắt, với năm bảy chỏm dưa hấu. Pằng! Năm Ri quay sang phải quát ngay: “Bắn bá láp, lộ hết!”. Được!


Tôi luồn theo một nhánh hào phụ đã sụt lở nhiều khúc, cầm con dao chuối mới lượm được, giơ lên ngọ nguậy mấy lần rồi dựng im. Rắắắc! Rắắắc! Ba bốn họng súng máy quạt vội vào lưỡi dao. Đợi nó nảy một cái, tôi thu dao chạy khom về hào chính. Ri với Mẫn cúi xem ba vết đạn nhỏ bằng mút đũa, rất chụm, xuyên qua chỗ sắt giày đến hai li mà  vẫn trơn mép, sắc như dấu kìm bấm trên vé xe lửa. Đạn AR.15. Ở Chu Lai, mới có tụi thám báo dùng loại này. Súng tốt, kỹ thuật khá nhưng đứa bắn không bình tĩnh, nã mãi mới trúng lưỡi dao cộng sản. Mẫn cau đôi mày rậm:


-  Thám báo rình… chắc đợi xe lên trước. Giấu quân kỹ nghen Ri. Thủ pháo phủ đầu.


Ri gật, vỗ thắt lưng.


Mẫn giục hai em vào hầm chỉ huy, đợi đấy, cấm cãi nhau. Cũng tức cười, Mẫn đã sắp xếp cho Tâm với Hoà mỗi đứa đi một hướng, xa nơi nguy hiểm, rốt cục tới trận này không hẹn mà bộ ba lại dồn cục như cũ. Thêm tôi nữa là bốn. Cái gia đình nho nhỏ của Mẫn chỉ bấy nhiêu. Nếu trúng một trái pháo… Thôi, hơi đâu tính chuyện rủi. Tiếng xe đã nổi bên kia con đê rải đá củ đậu, rống to nhỏ không đều. Quân Mỹ tiến chậm, quá chậm. Một trái mìn lớn nổ trên gò Mù U, tiếng trầm và đất rung tận đây, chắc được thịt. Ái chà, một trái nữa! Tụi lính H.34 nhảy xuống lớ ngớ coi như ngả rạ. Mẫn hít hà không ngớt.


Bảy giờ hai mươi. Trận địa của chúng tôi vẫn phải nằm chờ dưới L.19 bay cao và hát u rà thấp. Bốn chiếc đờn cò xếp hình chữ A, đầu chúc xuống nhưng vẫn bay ngang như bầy cá rô gặm rêu đáy suối, xăm đất túi bụi bằng rốc két xuyên sâu. Từng tràng tiếng đá hộc lăn xuôi máy tôn đập vào gáy chúng tôi. Đạn thuốn vào ruột đất, mấy giây sau mới nổ một tiếng ục xa lắc, con hào rung rinh lở vách, còn vết đạn  chỉ là một cái hang chồn xoi chéo đút lọt thân che, rắc lác đác trong lòng những mảnh đuôi rốcket cong giống như mảnh bát vỡ, đất quanh miệng hơi cộm lên và nẻ chân chim. Tới vòng quần thứ hai, tụi trực thăng bắn dữ gấp mấy, kèm rôcket có thêm đại liên gài cò xối đạn như cả chục máy bay cùng chần áo trấn thủ. Lại một cậu phát cáu chĩa Ga-ran lên lảy ba phát liền, hụt, may không lộ. Mẫn lách hào đi rảo một vòng, nhắc anh em cố nín hơi. Bắp chân Mẫn có vệt đo đỏ: vết thương hôm nọ còn rỉ máu.


Bảy giờ ba mươi tám. Phía Rốt chị, súng nhỏ rộ lên cùng một lần, rất đanh. Ta bắn trước, nửa phút sau địch mới kịp bắn trả. Mẫn quay về phía tôi, nhoẻn cười:


- Rốt chị xài ngon rồi. Địch tới gần bìa tre mới cho nổ, mặc sức lấy súng. Con nhỏ ngoéo tay với em…


Khúc hào bỗng nhảy chồm lên như con trăn đang ngủ bị đạp lưng. Chúng tôi lăn nhào. Đất sụp chụp trên mình. Tôi vọt dậy ngay trong tiếng nổ xé tai. Gì vậy? Cả một đoạn taluy trước mặt bị hắt lên trời, chới với, những tảng đất to từ trên không, từ từ rã vụn và rơi chìm vào bựng khói đen khổng lồ đang lộn tròn dâng lên. Hàng tạ, hàng tấn tô-lit. Nhiều đống thuốc nổ xếp cách quãng, bấm điện… Tôi túm vai Mẫn, hét:


- Dồn thủ pháo, chặn cửa mở, kia!


Bầy xe bên kia đường sắt rú ga như sấm đất, đang ùa tới mảng thành bị phá toác. Trước mặt chúng là một quãng ruộng cạn, không mìn, không hào, không chông rồi tới bìa xóm Giữa. Không ai ngờ chúng sẽ thúc vào đúng chỗ sườn ba(1) của làng chiến đấu! Bãi mìn lớn chen nhiều hố chông được đặt bao quanh nơi con đường làng rộng băng qua đường sắt, ở đấy đất cứng và dốc lài dễ vượt nhất. Địch đã khiếp đường, tránh được bẫy.


Đá cục xoáy vù vù như ong chưa rơi hết. Mẫn gọi lanh lảnh đằng kia, vẫn bằng giọng hằng ngày không đổi:


- Tiểu Một, tiểu Một… Để tổ Bảy Thới ở lại giữ ngã tư, còn tất cả dồn về trung đội, về trung đội.


Tôi chạy tới xóm Giữa. Chân lún sâu vào đất xới. Một cành cây từ đâu sạt xuống, gõ đầu. Xe địch chưa ló ra. Chúng đâu dám xung phong dưới mưa đá củ đậu như ta. Nhưng trước sau chúng cũng sẽ tuôn tới. Lấy gì mà bịt đê vỡ? Đạn cối huýt còn reo réo, rơi đầu gành cuối bãi, cốt lấy tiếng nổ.


Loang loáng, tôi nghĩ tới cây ĐK.57 cóc gặm của xê mình với vài trái đạn ụp ùm. Biết ta có súng không giật, chúng chuồn ngay. Hay một cây M.79 mang cái tên “cối cá nhân” rất nát người. Hay một cái nòng cối 60, không chân không đế, dựng bắn ước chừng cũng được. Hay một túi lựu đạn phóng, chụp trên nòng trường Mát mà bắn như Lăngxơ patát Pháp, lắp thêm ống trên trường Anh đầu bằng, chắp đuôi tống đi bằng trường Mỹ. Bấ cứ một thứ súng cầu  vồng nào. Năm Ri ngoảnh lại nhìn tôi, mở to riêng con mắt vảy cá giữa mặt bết bụi:


- Chặn xe cách sao anh? Chỗ mình trống hoang vầy…


Tôi thở mấy hơi, gạt mồ hôi cay như tương ớt chảy vào mắt, không nói. Ri tiếp:


- Hay là xuống đê hai?


- Không được!


Mẫn tới sau lưng tôi bao giờ, ném hai tiếng cộc lóc như súng nổ cắc bụp. Thả địch vào làng là sự thường. Co cánh tay quân sự thì đấm luôn quả chính trị, có sao. Lần này không được. Hai giờ chiều nay, Năm Ri sẽ biết vì đâu. Mẫn đếm từng tiếng rõ:


- Nằm im đã, đợi nó tới bìa xóm, nhảy lên chiếm xe! Mỹ kia!


Sát hai mép lỗ hổng rộng hơn chục thước, hai cần ăng ten nhô lên, ngọ nguậy như râu gián từ hóc tủ thò ra. Hai cái đầu xe M.133 cùng rướn tới một lần, xanh bóng, trơn trùi trụi, tưởng chừng không có thứ gì xuyên nổi, đạn nào cũng trượt văng. Năm Ri bật chửi rất tục, cho truyền miệng gấp: “Núp kín, đánh gần”. Anh em lui bớt vào hàm ếch tránh trận mưa mới, lúc này là mưa phóng lựu M.79 từ đoàn xe sắt trút ra.


Chúng tiến chậm rì, lắc lư, xích cắn đất từng nấc một như lựa chọn chỗ mà bước giữa các hố bom, bắn vỡ đầu chúng rất dễ. Tôi thèm súng chống tăng đến điên người mất. Thằng lái đậy nắp chỗ ngồi, nhìn qua khe hẹp. Thằng bắn trọng liên bên phải đã chất thêm nhiều bao cát nhỏ vây quanh đầu, vỏ bao bằng nhựa trong  hắt nắng loa loá, chỉ còn thấy họng súng xịt khói không ngớt. Phải nhận tụi Mỹ che mình kín ghê gớm sau một lần trót hở bị thua đau. Tám giờ lẻ bốn phút. Chúng đã bắn suốt một trăm hai mươi bốn phút trước khi thò đầu. Tôi chưa tìm ra chỗ khe giáp trên cái vỏ cua để luồn mũi gai vào.


Mẫn buột miệng:


- Úi trời!


Anh em kêu rú lao xao dọc hào, giương súng. Tôi gào:”Bắn xe bên tay mặt, bên phảảải” nhảy tới chụp cây trung liên trên tay Giáp, xả liên tiếp mấy loạt vào hàng mũ sắt ló trên chiếc M.113.


Ai đó vừa đâm bổ ra đánh xe. Ai? Một cái bóng to lớn, ôm khối gì đen trước ngực, đang chạy sấp ngửa dọc bờ cỏ dưới chân ta luy. Mẫn gọi lạc giọng: “Bắn! Bắn che anh Xáng, ngắm kỹ!”. Súng ta nổ suốt dọc con hào. Tôi rẹt một loạt nữa. Cái nòng to như khúc tre tươi kê trên thành xe văng ra sau cùng với mũ sắt, cây M.79 câm luôn. Bớt được một!


- Giáp, thay băng!


Tôi nghiêng bụng trung liên cho Giáp đâm băng bên dưới. Cậu Xáng,… cô Tươi mới bị giết, hiểu rồi… Tay đôi với thằng trọng liên nè. Tôi soi đường ngắm vào khoảng trong giữa những bao cát. Một chùm đạn, hai chùm, ngắm lại, ba chùm, bốn chùm, tao xăm mặt mày, tao chém gẫy súng mày! Cái ống tản nhiệt đầy lỗ chợt ngoáy một cái, chổng ngược, dựng chếch lên trời, cứng khừ luôn như đợi bắn tàu bay. Bớt hai! Tôi vuốt mặt nhìn. Xáng đã tới cách xe mươi thước, trái mìn năm cân trong tay. Cậu lén lấy mìn hồi nào? Muốn đánh, sao không hỏi xin thủ pháo? Một mũ sắt nữa nhô trên thành xe, thò súng, tôi thúc cho mươi viên, nó thụp. Nhưng… thôi chết, nó tống lựu đạn! Thằng lái thấy nguy rồi. Chiếc xe giật lùi. Lùi là sai to, mắc kẹt, nhưng nó cuống. Lựu đạn ném ra đâu bảy tám trái, chỉ nổ hai, nhiều đứa quên rút chốt. Ngực tôi chợt bóp cứng, đẩy tiếng kêu vọt ra. Mẫn cũng rít đau đớn. Xáng ngã rồi! Cậu lăn xoài bên một cục khói lựu đạn vừa bùng, cách sườn xe ba thước!


- Giáp, thay băng!


Răng tôi tự nó nghiến két một cái. Coi tao trả thù đây, Mỹ nè!


Cái xác ngoài kia bỗng lật sấp, chồm dậy, chụp mìn bằng tay trái. Tay phải biến mất, chỉ còn một vòi máu. Máu từ cổ tuôn ồng ộc trên cái ngực trần hẳn còn gai góc chi chít. Xáng thét một tiếng gì không rõ, ép mìn vào ngực, lao cả thân vào sườn xe, phía trên xích.


Một búng lửa vàng óng, gần như trắng, hiện thay chỗ người chồng cô Tươi.


 °


 Dòng nhớ của tôi đứt quãng từ đấy, nhưng mỗi mảng còn đọng sắc hơn, sống hơn, hệt khúc suối mùa khô đầy ứ những cá quẫy.


Một lúc nào đó, trận địa vắng và im hẳn. Mẫn cho khiêng hai đồng chí bị thương xuống địa đạo, liếc ra chỗ xác xe đổ nghiêng, quệt mắt nhanh. Năm Ri cắt hai tổ rảo quanh xóm tìm hầm sụp. Tôi lầm bầm đi dọc bờ đai, cay đắng nghĩ rằng tụi Mỹ đã chọc trúng chỗ yếu nhất của làng Cá, sau đòn đổi mạng của cậu Xáng mới tạm lùi. Cũng chỉ còn lối đánh xáp lá cà của Mẫn… Các cô áo trắng lên khỏi hầm, gọi nhau ơi ới: “Tản cư ngược, chị Cang nói kia. Mau, tháo mũi trâu, còn gì đáng tiền xách theo”. Chín Cang núng nính leo qua những tre cau đổ ngang ngõ xóm, gọi hổn hển: “Nằm chặn đường cái đen, nhớ… kiện pháo phá làng…”


Một bàn tay bật  hai nút bấm trên vỏ bi đông Mỹ tôi đeo sau lưng, rất thạo. À, mẹ Sáu. Mẹ mở nút vặn, cầm cái ấm nhôm to rót nước chè đặc đầy bi đông cho tôi, nhắc tôi ăn cơm nắm.


- Ta ở lại cơm nước cho tụi bây đánh. Nó vô, tao đấu sau cũng được.


- Đừng mẹ, tụi con đủ hết…


- Biết bây giỏi, mà có nước đồng nước sông mới dẫy chứ. Tao cứ rập rình ngó chừng sau lưng, sợ bây bị úp như dạo đó, trâu bốn chân còn trượt huống chi người hai cẳng!


Mẹ đi gấp, tìm người khác cần nước.


Rồi tới đợt hai. Ngắn thôi. Một xe tăng nhẹ dừng trên đỉnh dốc, chỗ ngã tư vào xóm Đình, bắn pháo 40 ly che đầu cho chiếc xe rà mìn lùn tịt bò xuống dọc đường làng. Hú hồn hú vía, tôi đã tự tay chôn trên cùng một trái mìn lõm M2.A3 nặng sáu mươi cân rưỡi, vỏ bìa và phễu thủy tinh, ra đa không ngửi được. Một cột đất và lửa thốc lên  cao, chiếc xe cóc lộn hai vòng, phơi bụng giữa ruộng, bốc cháy như hàng mã. Chiếc tăng vừa rú ga đi tới mấy thước, lại giật lùi, biến mất. Chỉ kíp nắn gân nhau bấy  nhiêu, tạm biệt!


Khi địch húc vào lần thứ ba, mặt trời đã gần đứng bóng. Tôi không ngờ tụi lính công tử bột có thể say máu đến vậy. Có lẽ thằng chỉ huy không dám bỏ lại hai xác xe và cả mớ xác lính.


Pháo Chu Lai dập túi bụi thêm nửa giờ. Một khúc taluy nữa bay tan hoang. Quân đổ bộ trên gò Mù U trực xông qua ruộng. Tụi ngụy áo đen bò dưới đại liên dệt lưới lửa. Súng nổ khắp nơi, đạn cheo chéo đan nhau trên làng. Quần lộn ẩu rồi.


Một chuỗi M.113 tuôn qua cửa mới phá, băng ruộng đâm vào chỗ đuôi con cá. Năm Ri chạy đón đầu, hét như sấm:


- Dậu, tổ Dậu lên! Đánh nó hộc cơm cho tao!


Hai tay hai thủ pháo, Dậu nhảy khỏi hào, ném trái đầu. Hụt! Dậu nép gốc dừa, chuyền trái sang phải, rướn lên. Một luồng lửa dài phóng tới như rắn vọt. Đuôi vừa đứt khỏi xe, đầu đã đập vào ngực Dậu, con rắn quấn quanh người. Súng phun lửa! Dậu nhào sấp, quằn quại giữa khói. Chiếc xe rẽ tới chà Dậu dưới xích. Một trái lựu từ dưới hào bay lên, đập giữa đầu xe, rơi nổ giữa hai xích. Nó cứ chạy, leo lên bực đất vào xóm, vẫn phùn phụt nhả lửa.


(còn tiếp)


Nguồn: Mẫn và tôi. Tiểu thuyết của Phan Tứ. NXB Văn học in lần đầu năm 1972. Tái bản nhiều lần.


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sóng lừng (VN. Mafia) - Triệu Xuân 18.08.2018
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 18.08.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 17.08.2018
Những người mở đất - Triệu Xuân 14.08.2018
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 14.08.2018
Mẫn và tôi - Phan Tứ 14.08.2018
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 13.08.2018
Khảo luận về tác phẩm Tầng đầu địa ngục - Hoàng Hải Thủy 13.08.2018
Tầng đầu địa ngục - ALEKSANDR Isayevich Solzhenitsyn 09.08.2018
Hòn đất - Anh Đức 05.08.2018
xem thêm »