tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 23289154
Những bài báo
24.06.2018
Nhiều tác giả
Những bài viết về PGS, TS, Nhà giáo Ưu tú Trần Đình Hượu


Phó giáo sư Trần Đình Hượu - người "đến hiện đại từ truyền thống"


Năm 2001, sáu năm sau ngày mất của thầy Trần Đình Hượu, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội công bố cuốn Các bài giảng về tư tưởng phương Đông ghi tên tác giả Trần Đình Hượu. Ngay năm sau, 2002, cuốn sách được tái bản. Đây là một trong những trường hợp xuất bản lạ nhất xưa nay: bản thân tác giả trước khi qua đời cũng không biết sẽ có ngày bài giảng của mình được các học trò biên tập và xuất bản.


Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, người có công chính trong việc xuất bản cuốn sách, vốn là sinh viên khóa 9 Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, kể lại: Trong nhiều chuyên đề mà anh được học ở năm thứ tư (1967), anh quan tâm nhiều hơn cả đến chuyên đề tư tưởng Nho gia và Lão Trang do thầy Hượu trình bày. Với tác phong học tập nghiêm túc, anh ghi tốc ký bài giảng này của thầy được 130 trang sổ tay cỡ 13x 19 cm. Thời gian trôi đi, đến những năm 1980, anh dần nhận thức được những tư tưởng học thuật mới mẻ của thầy Hượu như nhận định không thể xem xét dưới góc nhìn lý thuyết của chủ nghĩa hiện thực đối với toàn bộ văn học Việt Nam thời trung đại, hoặc nhận định văn học Việt Nam ba chục năm đầu thế kỷ XX như quá trình chuyển đổi hệ thống văn học, từ hệ thống văn học trung cận đại sang hệ thống văn học hiện đại, từ hệ thể tài gồm thơ văn phú lục sang hệ thể tài gồm thơ mới, kịch nói, tiểu thuyết, phê bình... Anh bắt đầu năng tham dự các sinh hoạt học thuật có thầy Hượu thuyết trình. Sau khi thầy mất, anh càng nhận thấy có nhiều điều lẽ ra phải hỏi thầy Hượu nhưng chưa có dịp. Và anh sực nhớ đến cuốn sổ ghi bài giảng của thầy hồi mùa đông 1967 trên một giảng đường xa xôi tại khu sơ tán ở Đại Từ, Thái Nguyên. Hồi những năm 1990 cũng xuất hiện một số sách lấy từ vở ghi của học trò như Xã hội sử Trung Quốc (Nxb Khoa học Xã hội, 1994) - bài giảng của GS. Đặng Thai Mai cho lớp Hán học 1965-1968, cuốn Lịch sử tư tưởng trước Mars (Nxb Khoa học Xã hội, 1995) bài giảng của GS. Trần Đức Thảo hồi 1956-57. Cách thực hiện những cuốn sách đó đã khích lệ anh làm việc trên cuốn sổ ghi bài giảng của Trần Đình Hượu hơn hai mươi năm trước. Anh đã tìm được cả 6 cuốn băng cassett ghi âm bài giảng về Nho giáo và Nho giáo ở Việt Nam tại Viện Văn hóa Nghệ thuật, 1991, lại phối hợp với vở ghi chép của nhà phê bình Nguyễn Hòa - người đã trực tiếp nghe giảng năm này. Thế là công trình ra đời.


Ảnh hưởng của các thầy cô về tư tưởng học thuật đến sinh viên thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Nhưng ảnh hưởng của thầy Trần Đình Hượu đến những người sinh viên Lại Nguyên Ân, Nguyễn Hòa có một hình thức khá hiếm hoi: những tư tưởng, quan điểm học thuật của thầy theo với thời gian, ngày càng được nhận thức lại sâu sắc hơn. Bài giảng của thầy sau hàng chục năm đã được các trò dày công tái hiện lại thành sách. Những trường hợp như vậy không nhiều trong học thuật cũng như trong thực tiễn đại học ở ta cho đến ngày hôm nay. Sự kiện đó ghi nhận tầm ảnh hưởng của thầy Trần Đình Hượu đối với nhiều thế hệ học trò và trong phạm vi học thuật rộng rãi. Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân là sinh viên cũ gọi ông là thầy đã đành, nhà phê bình Nguyễn Hòa không học chính thức môn học của thầy ở đại học mà chỉ học chuyên đề thầy giảng ở Viện Văn hóa Nghệ thuật cũng gọi ông bằng thầy. Sự kết hợp người thầy và nhà khoa học trong ông là một kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn.


*


Sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy của thầy Trần Đình Hượu đa dạng, thể hiện sự uyên bác và trí tuệ của một nhà khoa học chân chính. Sau khi thầy qua đời, Nhà xuất bản Giáo dục đã in Trần Đình Hượu tuyển tập gồm 2 tập, mỗi tập ngót ngàn trang in khổ 16x24 cm. Tập 1 dành cho các nghiên cứu về triết học và lịch sử tư tưởng , tập 2 cho các nghiên cứu về văn học.


Xuất phát điểm sự nghiệp khoa học của ông là nghiên cứu lịch sử tư tưởng triết học phương Đông, rồi đứng từ điểm nhìn triết học phương Đông để đọc văn học Việt Nam trung cận đại. Ở lĩnh vực nghiên cứu lịch sử tư tưởng và triết học cũng như văn học, ông đều có những đóng góp quan trọng. Đã có nhiều luận văn, bài viết nghiên cứu về di sản khoa học của thầy và vẫn cần tiếp tục có những nghiên cứu sâu hơn, chỉ ra được những vỉa tầng tư tưởng khoa học sâu sắc của di sản này.


Những bài học từ sự nghiệp của thầy Trần Đình Hượu là gì? Chúng tôi muốn nói đến bài học có thể hữu ích cho thế hệ giảng viên và các nhà nghiên cứu trẻ hiện đang tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy ở Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học xã hội Nhân văn.


Hiện nay, chúng ta đang tích cực tiếp thu nhiều lý thuyết và phương pháp nghiên cứu của thế giới, nhất là từ phương Tây trong việc nghiên cứu và giải quyết các vấn đề của Việt Nam. Thế hệ các nhà nghiên cứu trẻ hiện nay có điều kiện thuận lợi tiếp nhận nhiều lý thuyết của phương Tây. Điều đó là rất lành mạnh. Bình sinh, thầy Hượu cũng tiếp nhận lý thuyết và phương pháp của nước ngoài. Chúng tôi biết thầy Hượu chịu ảnh hưởng rất sâu sắc từ công trình Phương Tây và phương Đông rất nổi tiếng của Viện sĩ N.I. Conrad. Đây là công trình nghiên cứu so sánh văn hóa, triết học và văn học phương Tây - phương Đông với hệ vấn đề hết sức quan trọng vấn đề thời Phục hưng trong văn hóa phương Tây và phương Đông, vấn đề có hay không chủ nghĩa hiện thực của văn học phương Đông, quan niệm lịch sử của các sử gia cổ đại Đông-Tây… Nhưng thầy Hượu, dẫu rất tâm đắc với Conrad, vẫn chọn lập trường đứng vững trên thực tế Việt Nam để giải quyết các vấn đề của Việt Nam, các lý thuyết khái quát từ thực tiễn nước ngoài chỉ là tham khảo. Có thể lấy một ví dụ một thời lãng mạn cách mạng, không ít người hô hào quét sạch tàn dư Khổng giáo ở Việt Nam với ý nghĩ giản đơn là cần quét sạch các tư tưởng triết học đạo đức cũ như để mở đường cho tư tưởng xã hội chủ nghĩa toàn thắng.


Trần Đình Hượu cho rằng đó là một cách nghĩ ấu trĩ, không phản ánh đúng thực tế Việt Nam: “Nho giáo ra đời và tồn tại gắn bó với một cơ chế kinh tế - chính trị - xã hội, biểu hiện tập trung là nhà nước chuyên chế phương Đông. Cơ chế đó lựa chọn Nho giáo, một mặt, vạch ra con đường phát triển, mặt khác, tạo ra một cuộc sống. Bị điều kiện hóa trong đó, con người không chỉ buộc phải thích ứng mà còn tự lựa chọn Nho giáo, sống thành những mẫu người đặc định: vua, quan, lại, hào, cường, thân sĩ, nhà nho, nông dân tiểu kỷ… Khi cơ chế và môi trường xã hội đó chưa thay đổi căn bản thì con người vẫn tự động thích ứng theo nó, sống theo những mẫu người cũ, vẫn nghĩ, vẫn sống theo cách Nho giáo hóa. Có người tự coi là rũ sạch ảnh hưởng Nho giáo, lên án Nho giáo kịch liệt, nhưng vẫn sống và vẫn nghĩ rất “Nho”. Nhưng trong thực tế như vậy, Nho giáo không chỉ là còn, mà tư tưởng mới từ ngoài vào cũng bị Nho giáo hóa; ở một chỗ nào đó, Nho giáo được coi là bị quét sạch thì nó vẫn có khả năng tái sinh”. Trong cả nghiên cứu lịch sử tư tưởng và nghiên cứu văn học trung, cận đại, Trần Đình Hượu đều đứng vững trên thực tế dân tộc, “nhìn vào thực tế một cách lịch sử, hoàn chỉnh, rõ nét”, nghiên cứu, phân tích thực tế đó để kiến nghị các phương pháp ứng xử khoa học. Tuy trong quá khứ lịch sử Việt Nam nói riêng, các nước Đông Á nói chung không chỉ có Nho giáo (với tư cách học thuyết triết học hay tôn giáo, học thuyết đạo đức hay hệ tư tưởng chính trị - xã hội) là duy nhất, nhưng rõ ràng, nó là học thuyết có vai trò quan trọng nhất, ở địa vị hệ tư tưởng chính thống lâu dài và bền bỉ nhất, góp phần chủ yếu làm nên những nét bản sắc của nền văn hóa cả khu vực, nên việc không hiểu đúng, hiểu sâu về nó cũng có nghĩa là không thể hiểu đúng, hiểu sâu về bản chất của tồn tại trong cái nhìn tổng quan đối với toàn bộ quá khứ lịch sử.


Vì thế, các công trình nghiên cứu lịch sử tư tưởng của ông cũng thấm đẫm tinh thần phục vụ thực tiễn.


Bìa cuốn sách "Nho giáo và văn học Việt Nam trung - cận đại" của PGS. Trần Đình Hượu - công trình khoa học được trao tặng giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ năm 2000.


Trong nghiên cứu văn học, Trần Đình Hượu cũng đứng vững trên mảnh đất thực tiễn văn học Việt Nam. Giữa lúc nhiều đồng nghiệp lựa chọn lý thuyết về đấu tranh giai cấp để phân tích hệ thống các nhân vật văn học, lựa chọn lý thuyết về chủ nghĩa hiện thực để định giá trị các tác phẩm văn học, lựa chọn hình thái xã hội theo sơ đồ phương thức sản xuất để cắt nghĩa quá trình chuyển biến của văn học Việt Nam từ thời phong kiến sang thời hiện đại v.v…, thì Trần Đình Hượu lại mô tả trung thực thực tiễn văn hóa xã hội Việt Nam.


Trần Đình Hượu quan tâm trước hết đến các loại mẫu người của xã hội Nho giáo: vua, quan, lại, hào, cường, thân sĩ, nhà nho, nông dân tiểu kỷ… Để phân tích các loại nhân vật này, ông thường phân loại theo các tiêu chí. Đây là điểm mới, đóng góp của ông so với các tác giả Việt Nam khác trong cách đọc văn hóa của xã hội Nho giáo hóa. Nhìn từ góc độ chính trị, sự đa dạng của các mẫu người được ông qui về hai kiểu nhân vật: hoàng đế và thần dân. Tất cả đều là thần dân, ngôi hoàng đế có tính thiêng liêng. Góc nhìn này nhấn mạnh bản chất chuyên chế của mô hình xã hội và giúp giải mã nhiều hiện tượng tư tưởng văn hóa trung đại Việt Nam. Để thấy tính chất phong phú, phức tạp của mẫu hình nhà nho trong thực tế, và ảnh hưởng của các mẫu hình nhà nho đến văn học, ông phân biệt ba kiểu: hành đạo, ẩn dật và tài tử. Cách tiếp cận này tránh được cách nhìn sơ cứng và đơn giản so với cách phân loại con người theo tiêu chí giai cấp.


Phó giáo sư Trần Đình Hượu là chuyên gia đầu ngành về lịch sử triết học phương Đông, lịch sử tư tưởng và lịch sử văn học, văn hoá Việt Nam


Nghĩa của khái niệm “thực” của văn học trung đại vẫn bị không ít người hiểu lầm là tả thực, tả chân. Trần Đình Hượu đã công phu giải cấu trúc ý nghĩa của các khái niệm chân, thực đó: “Khi đối trí lời và ý, văn và tâm, cái thực mà họ nói chính là sự trung thực với tâm chứ không phải với cảnh”. Nói một cách đơn giản, chân và thực mà các nhà nho nói là sự chân thực của nhân cách đạo đức. Muốn phát biểu tư tưởng thân dân thì chính người sáng tác phải có tình thương yêu nhân dân thực sự, muốn nói nhân cách cao thượng thì bản thân nhà thơ phải có nhân cách. Về hình ảnh xã hội trong văn học trung đại, ông viết “Xã hội không còn là cuộc sống mà là nhân luân, là trật tự, là nhân tình thế thái. Con người chỉ là những hình mẫu về đạo đức theo luân thường… Thực tế bị ép mất đi sức sinh động mà biến thành những hình mẫu, những vật tượng trưng để nói về Đạo”.


Về quá trình hiện đại hóa văn học, Trần Đình Hượu quan niệm đó là quá trình chuyển đổi của hệ thống văn học từ trung cận đại sang hệ thống văn học hiện đại, từ văn thơ phú lục sang thơ, kịch, tiểu thuyết theo lối mới chịu ảnh hưởng phương Tây.


Nhìn lại sự nghiệp của thầy, không phải tất cả mọi vấn đề đã được giải quyết triệt để, không phải mọi luận đề thầy nêu lên đều đã hoàn chỉnh, song bài học quan trọng chính là ở chỗ nghiên cứu vì thực tiễn, bám vào thực tiễn để nghiên cứu. Mà thực tiễn văn hóa, văn học của dân tộc thì phong phú, đa dạng mà không lý thuyết sẵn có nào của nước ngoài là hoàn hảo để vận dụng.


Một bài học khác theo chúng tôi cũng rất quan trọng với thế hệ trẻ ngày nay, đó là sự kiên định của một bản lĩnh học thuật ở thầy Trần Đình Hượu. Tạm thời trong một giai đoạn từ những năm 1960-1970, thầy Hượu chịu thiệt thòi nhất định vì những tư tưởng học thuật mới mẻ và độc đáo chưa được giới nghiên cứu đông đảo chia sẻ và thấu hiểu. Nhưng thầy vẫn âm thầm làm việc, không thay đổi con đường mình đã lựa chọn. Cuối cùng thì khoa học đã chiến thắng. Sinh thời, thầy Bùi Duy Tân từng nói: có những công trình của ông Hượu khi ông sống một chữ không được in, nhưng khi ông mất rồi, người ta đăng không sót một chữ. Quan điểm học thuật của thầy Trần Đình Hượu cuối cùng đã được xã hội tiếp nhận rộng rãi. Không chỉ các sinh viên cũ biên lục lại bài giảng của thầy thành sách, không chỉ tuyển tập ngót 2000 trang của thầy đã xuất bản, Bộ Giáo dục đã đưa vào sách cải cách Ngữ văn 12 một trích đoạn trích từ sách Đến hiện đại từ truyền thống nhan đề Nhìn về vốn văn hóa dân tộc. Từ học sinh phổ thông đến sinh viên đại học và các nhà nghiên cứu, tư tưởng nghiên cứu của thầy Hượu đã và đang lan tỏa. Đó là niềm tự hào của chúng tôi, những học trò của thầy, của chúng ta, những đồng nghiệp hậu thế của thầy.


Tháng 6 năm 2015


PHÓ GIÁO SƯ, NHÀ GIÁO ƯU TÚ TRẦN ĐÌNH HƯỢU


Năm sinh: 1926.


Năm mất: 1995.


Quê quán: Nghệ An.


Tốt nghiệp đại học năm 1953.


Được công nhận chức danh Phó Giáo sư năm 1984.


Được phong tặng danh hiệu Nhà giáo Ưu tú năm 1990.


Thời gian công tác tại trường: 1963 – 1995.


Đơn vị công tác: Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.


Các hướng nghiên cứu chính: Lịch sử triết học phương Đông, Lịch sử tư tưởng và lịch sử văn học, văn hóa Việt Nam.


Các công trình khoa học tiêu biểu:


Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 – 1930 (chủ biên). Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, 1988.


Văn học và hiện thực (viết chung). Nxb Khoa học Xã hội, 1990.


Đến hiện đại từ truyền thống. 1994.


Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại. Nxb Văn hoá Thông tin, 1995.


Các bài giảng về tư tưởng phương Đông (Lại Nguyên Ân ghi). Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001.


Tuyển tập Trần Đình H­ượu (2 tập) (Nxb Giáo dục 2007).


Các giải thưởng khoa học tiêu biểu:


Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ năm 2000 cho cụm công trình: Đến hiện tại từ truyền thống; Nho giáo và văn học Việt Nam trung - cận đại.


Trần Đình Hượu, người đi ngược đám đông


Có lẽ ít ai biết đằng sau nhận định "đánh động" ấy là một cuộc đời đầy biến động của nhà trí thức Trần Đình Hượu trong một thời đoạn nhiều thăng trầm.


Từ một đề thi "đánh động"...


"Đánh động lối sống" là cách báo VietNamNet miêu tả về đề thi ngữ văn Đại học khối C năm nay.


Nội dung đề thi không chỉ là sự "đánh động" đơn thuần, mà còn chạm đến những vấn đề của cả dân tộc khi trích dẫn nhận xét của PGS. Trần Đình Hượu trong bài Nhìn về vốn văn hóa dân tộc thuộc sách Ngữ văn 12 chương trình cải cách.


Một giảng viên đại học cho người viết biết, quá trình chấm thi cho thấy không nhiều thí sinh hiểu chính xác và sâu sắc ẩn ý của tác giả đằng sau nhận định này. Còn trước đó, ngay sau đợt thi đại học lần 2, đã dự báo cho rằng, điểm thi môn ngữ văn năm nay chắc sẽ không "đẹp".


Dù "đẹp" hay không, nhiều người vẫn thấy... mừng, từ cả thí sinh cho đến những người trong ngành. Bởi đề thi đã "đánh trúng" vấn đề thiết yếu của dân tộc trong quá trình hội nhập, phát triển, cũng như tập dần cho học sinh cách tư duy độc lập, cách nhìn nhận về thời cuộc đất nước.


Theo PGS.TS Trần Nho Thìn, người từng là học trò và sau này trở thành đồng nghiệp của PGS. Trần Đình Hượu, bài viết được tác giả hoàn thành năm 1986, thời điểm Đảng Cộng sản VN phát động công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế. Câu hỏi đặt ra là: "Văn hoá dân tộc sẽ ứng xử thế nào đây trong bước chuyển lớn này?"


Câu trả lời của Trần Đình Hượu trong chính bài viết của ông là: "Nay chúng ta bước vào một khúc ngoặt vĩ đại của lịch sử, không thể không làm công việc tự ý thức, tự phê phán" văn hóa Việt Nam.


Và rằng: "Trong sự sáng tạo văn hoá, mỗi dân tộc hình như từ lâu đã có những thói quen, những ưa thích, những sở trường, những khuyết tật làm nên đặc sắc của nó. Nắm vững những cái đó, bước đi ở hiện tại sẽ ít mù quáng hơn và cũng nhờ thế có thể phần nào dự đoán để định hướng cả bước đi trong tương lai".


Với ý thức "tự phê phán", Trần Đình Hượu đã chỉ ra nhiều "thói tật" của dân tộc bằng cái nhìn khách quan. Sự thẳng thắn này hẳn không phải bao giờ cũng dễ chấp nhận.


Còn nhớ, chỉ mới cách đây 3 năm, một tờ báo lớn đã coi những nhận định của Trần Đình Hượu là "tùy tiện" khi dám "nói ngược" về bản sắc văn hóa Việt Nam. Để đối sánh, bài báo này dẫn ra là có những nhà văn lớn, giữ cương vị lãnh đạo cao nhiều năm, mà tác phẩm cũng chỉ được in trong mục... đọc thêm (trong khi bài viết của Trần Đình Hượu được dành thời lượng 2 tiết học).


Dẫn những câu chuyện đó ra để thấy rằng, gần 30 năm trôi qua, những quan điểm ông đặt ra về tính cách dân tộc vẫn là những tranh luận chưa thể ngã ngũ. Nhưng mặt khác, chính sự chưa ngã ngũ đó đã khiến chúng vẫn là "chuyện đương thời". Chứ không phải quá vãng nào đó...


... đến một cuộc đời đầy biến động


Có lẽ ít ai biết đằng sau nhận định "đánh động" ấy là một cuộc đời đầy biến động của nhà trí thức Trần Đình Hượu trong một thời đoạn nhiều thăng trầm. Như PGS. Trần Ngọc Vương, người từng có đến hai thập kỷ gắn bó, gần gụi với "ân sư", nhận xét, hẳn hầu hết những cô cậu học trò đọc tác phẩm của PGS. Hượu trong SGK lớp 12 sẽ chẳng biết ông là ai.


Phải chăng bởi tính cách ông, như rất nhiều người cảm nhận, vốn không chạy theo thứ "thời thượng", cộng với những định kiến trong đánh giá của thời cuộc, nên tên tuổi ông chưa bao giờ thuộc về số đông. Nhưng, sự "bù trừ" lại rất lớn lao.


PGS Trần Ngọc Vương hồi tưởng: "Ông nhận được sự kính trọng sâu sắc của đồng nghiệp, học trò và cả những người vào những thời điểm nào đó đã từng là "phản biện gia hăng hái" của chính ông".


Người viết đã tìm được sự đồng cảm với nhận xét đó trong những tư liệu liên quan đến ông.


GS. Trịnh Văn Thảo, người  năm 1994 đã mời Trần Đình Hượu về giảng dạy (9 tháng) tại Đại học Provence, Pháp và có quan hệ cộng tác gần gũi nhất với ông trong thời gian ở đó, đã ca ngợi: "Trong hàng ngũ những triết gia, tư tưởng và chuyên môn văn học Việt Nam ở Hà Nội, GS. Trần Đình Hượu là một trong những người mà tôi xem là khả kính nhất và có những tư tưởng mới lạ nhất"*.


Còn nhà phê bình văn học Đỗ Lai Thúy đánh giá, những phạm trù, khái niệm khoa học mà ông đưa ra, "không chỉ giúp người đọc hiểu được Trần Ðình Hượu, đi vào thế giới đầu óc và trái tim của ông, mà còn giúp họ đưa mình lên phía trước".


PGS. Trần Ngọc Vương nhớ lại, GS. Nguyễn Tài Cẩn, người bạn "nối khố" vô cùng thân của thầy ông, dù đã gây dựng được đầy đủ danh tiếng, sự trọng vọng rộng rãi, nhưng khi còn sống từng "ngậm ngùi" thừa nhận: "Trước lịch sử, mình không bằng Hượu".


Người đi ngược dòng


PGS. Trần Đình Hượu (1926- 1995) sinh trưởng trong một gia đình nhà Nho ở làng Võ Liệt, huyện Thanh Chương, Nghệ An. Cha của ông thuộc lớp học trò của cụ Phan Bội Châu, một thế hệ nhà Nho giàu khí tiết, tâm huyết với thời vận đất nước, và mất khi ông mới 14 tuổi.


Khi ông vừa kết thúc bậc học thành chung ở Huế, Cách mạng Tháng 8 nổ ra, ông về quê tham gia hoạt động của tổ chức Việt Minh. Năm 1949, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và sau đó được cử đi học hệ dự bị của Đại học Kháng chiến. Nơi đây ông học với những người thầy lớn như Đặng Thai Mai, Đào Duy Anh, Cao Xuân Huy, Hoài Thanh, v.v...


Năm 1959 ông được cử sang trường Đại học Tổng hợp Matxcơva (MGU), trở thành một trong những nghiên cứu sinh triết học thế hệ đầu tiên của nước VN mới. Lĩnh vực nghiên cứu của ông là triết học cổ đại Trung Quốc, mà cụ thể là về Mặc Tử.


Có thể nói, nguồn gốc nhà Nho và bước ngoặt này về sau đã đưa đến những thăng trầm trong suốt mấy chục năm cuộc đời ông.


Trước tiên là sự kiện năm 1963, ông bị gọi về nước khi việc học còn dang dở. Lý do xuất phát từ hệ lụy của sự chia rẽ trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa giữa "chủ nghĩa xét lại" và "chủ nghĩa giáo điều". Không chỉ vậy, ông còn bị "đèo" thêm một định kiến là sang Liên Xô mà lại nghiên cứu triết học cổ đại Trung Quốc.


Sau khi về nước, ông xin vào công tác tại trường Đại học Tổng hợp. Vì trường chưa có khoa triết học, ông vào Khoa Ngữ văn và giảng dạy 30 năm cho đến khi về hưu năm 1993.


PGS. Trần Ngọc Vương đã gọi giai đoạn này của ông là tình trạng "bất phùng thời", là "khắc nghiệt", khi ông kiên trì con đường nghiên cứu khách quan Nho giáo. Cho đến tận năm 1981, tức là giai đoạn sung sức nhất trong đời của một nhà khoa học, tên tuổi của ông không được xuất hiện trên bất cứ ấn phẩm nào có tính "chính thức".


Bìa cuốn sách Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại của PGS. Trần Đình Hượu


Phải hiểu bối cảnh những năm tháng ấy, mới phần nào hình dung được những gì Trần Đình Hượu phải nếm trải...


Những năm 1950-1970, chúng ta tiến hành hai cuộc cách mạng dân tộc. Trong buổi đầu, những giá trị cũ được xem xét lại và Nho giáo là thủ phạm đầu tiên bị đặt lên "bàn cân". Nghiên cứu Nho giáo khi ấy bị định hướng về phía phê phán, lên án là chính.


Từ cuối những năm 70 cho đến gần hết thập kỉ 80 của thế kỉ 20, tình hình vẫn không có chiều hướng khác đi. Do những bất đồng trong quan hệ Việt - Trung cộng thêm quá khứ của Nho giáo được coi là "vào cùng với gót chân xâm lược", nên học thuyết này hầu như là một vùng cấm đối với giới nghiên cứu.


Còn ngay trong Khoa Ngữ văn Trần Đình Hượu công tác, cũng có thời kỳ "mất đoàn kết nội bộ" để lại những hệ lụy không hề nhỏ. Bản thân ông bị "ngầm quy kết" là trùm tư tưởng của phái "chuyên môn thuần túy", "thiên tài chủ nghĩa".


Giữa hoàn cảnh thực tại như vậy, Trần Đình Hượu đã không lựa chọn uốn mình theo thời thế, lựa thời để sống - như không ít người cùng thời. Thay vào đó, không tranh biện ồn ào, ông âm thầm kiên định con đường, hướng nghiên cứu mình đã lựa chọn - nghiên cứu trung thực và khách quan.


Trần Đình Hượu rất có ý thức về con đường đi của riêng mình. Ông từng nói: "Muốn tìm hiểu một cái gì đó ta phải phân tích cơ sở tồn tại của nó (...). Tôi cũng sẽ làm như vậy, chỉ có điều là tôi phân tích không giống người ta".


Đó là một cách đối thoại đầy tự tin và cũng là một hướng đi mở đối với những người đến sau bởi "cái gì còn sống cùng chúng ta, thì muốn hay không, ta cứ phải tranh luận với nó". PGS. Trần Nho Thìn đã gọi đây là "tinh thần đối thoại với đương thời".


GS. Nguyễn Kim Đính, người đã quen biết với ông hơn 50 năm, vào thời điểm ông qua đời đã ghi lại những hồi ức về bạn: "Anh lẳng lặng, cần mẫn theo đuổi những gì anh suy nghĩ đằm chín với niềm tự tin sâu sắc và với cốt cách Nho phong khẳng khái được hấp thụ từ nền văn hóa "ngang bằng sổ ngay" vốn là truyền thống gia đình".


Với Trần Đình Hượu, phải hiểu đúng, chính xác Nho giáo, cũng như những di sản quá khứ để từ đó chỉ ra những điểm hay dở, cái gì có thể khôi phục, cái gì cần giải quyết. Hiểu quá khứ chính là để xây dựng tương lai vững chắc.


Nhà phê bình Đỗ Lai Thúy nhận xét: "Trần Ðình Hượu là con người sống với hiện tại. Ông luôn trăn trở cho hướng đi của đất nước. Nhưng tương lai của một dân tộc bao giờ cũng bị quy định bởi quá khứ".


PGS. Lê Chí Dũng, trong một bài viết khá công phu về Trần Đình Hượu, đánh giá, những công trình nghiên cứu và tính cách của ông "cho phép nói rằng ông thuộc type nhà nghiên cứu khoa học "kình thiên một cột giơ tay chống - dẫu gió lung lay cũng chẳng nao" vì sự thật và chân lý, vì cuộc sống con người, vì sự phát triển hợp quy luật của đất nước".


Ngày 11/2/1995, Trần Đình Hượu tạ thế với những dự định lớn còn dang dở. Nhưng con đường ông chọn đã có sự tiếp nối ở những môn đệ sau này. Ngày càng có nhiều nhà khoa học tự coi mình là học trò tự nguyện theo đường hướng nghiên cứu của ông.


Những di sản của ông, như PGS. Bùi Duy Tân từng hóm hỉnh nhận xét là "khi còn sống không in chữ nào, nhưng khi chết, in không sót chữ nào" (dẫn theo lời kể của PGS. Trần Nho Thìn). Còn theo PGS. Vương, sau khi mất ông "được biết tới, được tìm đọc, được tiếp nhận và chia sẻ ngày một nhiều hơn", và một số nhà khoa học nước ngoài đã nói đến "trường phái Trần Đình Hượu".


Đến cuối cùng, lịch sử đã sòng phẳng, khách quan với Trần Đình Hượu, cũng như với rất nhiều trí thức như ông hay chưa? Câu hỏi này có lẽ quan trọng với chúng ta, những người còn sống, hơn là với một người từng lựa chọn không cúi đầu trước những đòi hỏi của thời đại, và giờ đây đã lùi vào thiên cổ. Bởi, cũng giống như tâm niệm của Trần Đình Hượu, cần đánh giá chính xác quá khứ, mới tiến được vào tương lai...


Hải Tâm


___


* Các tài liệu chúng tôi tìm được có sự không thống nhất về chức danh PGS hay GS của Trần Đình Hượu. Theo thông tin xác nhận từ PGS.TS Trần Ngọc Vương, chức danh PGS mới là chính xác.


Tài liệu tham khảo:


- PGS.TS Trần Ngọc Vương: PGS.TS Trần Đình Hượu - Nửa thế kỷ tìm biết với những niềm khắc khoải tri thức.


- PSG.TS Trần Nho Thìn: Nhìn về vốn văn hóa dân tộc (in trong Sách Phân tích tác phẩm Ngữ văn 12).


- Phạm Văn Hưng (ĐHKHXH&NV) - Luận văn Thạc sĩ: Tinh thần đối thoại trong những công trình nghiên cứu văn học của Trần Đình Hượu.


- Trần Văn Hậu: Để hiểu đúng Trần Đình Hượu.


- Bùi Công Kiên: Nỗi suy tư của một "Ông đồ Nghệ".


- TS. Phạm Xuân Thạch (thực hiện): Trịnh Văn Thảo: GS Trần Đình Hượu - Nhà nghiên cứu nho giáo Việt Nam.


- Đỗ Lai Thuý: Trần Ðình Hượu - như một ngọn gió.


- PGS. Lê Chí Dũng: Ông Trần Đình Hượu như tôi biết.


- GS Trần Đình Hượu: Đến Hiện đại từ Truyền thống.


PGS Trần Đình Hượu - Nhà nghiên cứu nho giáo Việt Nam


Vào năm 1994, cốP GS. Trần Đình Hượu (1927-1995) cán bộ giảng dạy khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, đã có một thời gian dạy học (9 tháng) tại Đại học Provence (Pháp). Người mời GS. Trần Đình Hượu về phía Đại học Provence và có quan hệ cộng tác gần gũi nhất với ông trong thời gian ở đó là nhà nghiên cứu xã hội học, GS. Trịnh Văn Thảo.


Nhân dịp kỷ niệm mười năm ngày mất của GS. Trần Đình Hượu (11/2/1995 - 11/2/2005), chúng tôi xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc bài phỏng vấn sau đây của nhà nghiên cứu văn học Phạm Xuân Thạch với GS. Trịnh Văn Thảo.


Phạm Xuân Thạch: Thưa bác, được biết nhiều năm nay tuy ở xa đất nước nhưng bác vẫn luôn quan tâm đến sự phát triển của khoa học ở trong nước, vậy bác biết đến những công trình của GS. Trần Đình Hượu bắt đầu là từ khi nào?


Trịnh Văn Thảo: Tôi rất thích mình tập trung trao đổi đề tài chính là ký ức về Giáo sư Hượu, đây là một dịp để mình tỏ bày sự biết ơn và ghi nhanh những kỷ niệm đánh dấu tình bạn, mặc dầu ngắn nhưng rất sâu của tôi đối với Giáo sư Hượu. Thật ra người khởi sự, ở đâu cũng có một khởi sự, người giữ vai trò khởi sự đó là anh Tạ Trọng Hiệp, một nhà nghiên cứu có thể nói là nghiêm túc và đáng kính mến. Tạ Trọng Hiệp lúc đó là một trong những nhân viên quan trọng nhất ở viện Viễn Đông Bác cổ của Pháp tại Paris. Với tư cách là một người nghiên cứu Nôm, Tạ Trọng Hiệp có thể được xem là một nghiên cứu gia, một môn sinh xuất sắc nhất của cụ Hoàng Xuân Hãn. Khi nói đến Tạ Trọng Hiệp thì không thể không nói đến Hoàng Xuân Hãn, người mà Tạ Trọng Hiệp xem như là người thầy của mình. Trong những năm cuối đời nghiên cứu sinh, Tạ Trọng Hiệp đã có dịp đi về Việt Nam một hai lần. Trong những chuyến đi về đó, một người thông minh như Tạ Trọng Hiệp biết đánh giá rất nhanh, rất nhạy cảm về con người của Giáo sư Hượu. Vì thế mà khi trở về Paris, Tạ Trọng Hiệp có gọi dây nói cho tôi, nói rằng: "Thảo nên tìm cách mời anh Hượu sang đây dạy học". Trong hàng ngũ những triết gia, tư tưởng và chuyên môn văn học Việt Nam ở Hà Nội, GS. Trần Đình Hượu là một trong những người mà tôi xem là khả kính nhất và có những tư tưởng mới lạ nhất. Lúc đó thì cũng có một sự ngẫu nhiên, tôi được đại học Provence giao cho nhiệm vụ là tiếp xúc với một phái đoàn của CNRS (Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp) xuống Aix để thành lập một viện nghiên cứu Đông Nam á tại vùng này trong khuôn khổ chính sách của chính phủ Pháp lúc đó là muốn địa phương hoá một số cơ cấu nghiên cứu đóng tại Paris, làm việc ở Paris trong những điều kiện vật chất rất khó khăn. Cùng với một số người bạn, tôi đề xuất thành lập một trung tâm nghiên cứu Đông Nam Á thuộc Đại học Aix - Marseille I là trường tôi đang dạy và CNRS. Nhân cơ hội đó thì năm sau, chúng tôi được giao nhiệm vụ tổ chức một hội thảo quốc tế lớn gọi là EuroViet, một hội thảo của những người làm Việt Nam học bên Âu châu cứ hai năm thì được tổ chức một lần ở thủ đô của một nước Âu và từ xứ này qua xứ khác. Hội thảo đầu tiên được tổ chức tại Copenhague (Đan Mạch) còn kỳ thứ hai được chỉ định cho chúng tôi tổ chức ở Pháp vào năm 1995. Năm đó, Viện nghiên cứu Đông Nam Á được thành lập và chúng tôi phải tổ chức EuroViet lần thứ hai. Nhân cơ hội này chúng tôi mời GS. Trần Đình Hượu sang Pháp. Sự có mặt của GS. Trần Đình Hượu ở trường đại học là một sự có mặt cần thiết bởi vì chính ông là người hướng dẫn chúng tôi trong việc mời những người chuyên gia Việt Nam trong giới khoa học xã hội. Đó là yếu tố đầu tiên. Yếu tố thứ hai là ngay khi tiếp xúc với Giáo sư lần đầu, tôi thấy cảm mến một con người đôn hậu, dịu dàng, thâm trầm và nghiêm túc. Tôi nhớ cái buổi chiều tôi đi đón Giáo sư Hượu tại nhà ga Aix, tôi như hết thở khi tôi thấy một con người mảnh khảnh như Giáo sư mang theo mình không biết bao nhiêu là ký lô sách mà ông chuẩn bị làm bài giảng ở đại học. Tôi cảm động lắm và ngay khi mới gặp nhau, tôi có cảm giác như là hai anh em, Giáo sư Hượu là người đàn anh và tôi tự nhận là em. Tôi thấy anh em lúc đó có một cái gì đấy đậm đà, một sự tin cẩn không dè dặt. Sau đó chúng tôi tổ chức, vừa những cuộc đàm luận, vừa những buổi giảng mà Giáo sư Hượu đề nghị trong khuôn khổ của Ban tiến sĩ Sử học, Xã hội học của trường Đại học Văn khoa Provence. Đó là một sự hợp tác hết sức thành khẩn và tôi rất vui được làm việc với anh, dù đôi khi trong những điều kiện hết sức khó khăn. Tôi đợi thầy Hượu viết xong bài giảng và chỉ có hai ba giờ đồng hồ để in bài giảng sang tiếng Pháp. Giáo sư nói tiếng Pháp rất trôi chảy, nhưng là một giáo sư cẩn thận, anh muốn tôi dịch trước để phòng trường hợp lúc quên thì có tài liệu in trước để tiện việc trao đổi với sinh viên, dù đây là sinh viên cấp cao rồi. Tôi thấy những hiểu biết của tôi về Nho giáo Việt Nam một phần lớn là do thầy Hượu cung cấp, mặc dù trước đó tôi đã viết một cuốn sách về Nho giáo và chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam. So với những hiểu biết của anh thì tôi đáng là học trò hơn là đồng nghiệp.


Phạm Xuân Thạch: Trước khi GS. Trần Đình Hượu sang Pháp, những trao đổi của thầy Hượu và bác chủ yếu là qua thư từ. Bác có nhớ những công trình đầu tiên của Giáo sư Hượu mà bác đọc là những công trình nào?


Trịnh Văn Thảo: Trước đó Giáo sư Hượu có gửi cho tôi một số bài vở, những công trình nghiên cứu của Giáo sư về Nguyễn Khuyến, Nguyễn Trãi, về cách xây dựng lịch trình lịch sử văn học, phân kỳ lịch sử văn học. Những công trình của Giáo sư Hượu, nhất là những đề xuất về phân kỳ lịch sử văn học, là một trong những công trình nghiêm túc nhất, xuất sắc nhất mà chúng ta có đến bây giờ. Ban đầu thì tôi cũng chỉ để ý đến văn học sử với cách như một người bên lề, vì chuyên môn của tôi không phải là văn học sử, nhưng sau này thì thấy rằng trong những nghiên cứu của Giáo sư Hượu về văn học sử lại bao gồm cả xã hội học, sử học. Dần dần tôi mới nhập đề vào công trình của thầy một cách nghiêm túc hơn, chứ lúc đầu mới chỉ coi nó thuộc phạm vi văn học. Nhưng về sau, trao đổi với thầy thì thấy rằng sau con người văn học là con người triết học, con người tư tưởng rất thâm trầm. Tôi có yêu cầu thầy soạn cho một số bài giảng về lịch sử tư tưởng Trung Quốc và sự xâm nhập của tư tưởng Trung Quốc vào Việt Nam, vì thấy đó là những bài giảng có thể nói là gương mẫu để những người "ngoài cuộc" như chúng tôi được tiêm nhiễm, không những về văn hoá dân tộc mà cả về văn hoá Đông phương nữa. Đặc điểm thứ hai là mình thấy rằng Giáo sư không bị trói buộc vào một công thức nào cả, một người có khả năng vượt ra khỏi giới hạn của chuyên môn để có một cái nhìn chung về cả một thời đại, một phong trào văn học. Chẳng hạn như sau này, khi đọc công trình của những môn sinh của thầy như GS. Phan Đại Doãn, PGS. Trần Ngọc Vương, anh Kim Sơn v.v... tôi thấy phương pháp suy nghĩ tổng quát và thông suốt qua các ngành chuyên môn đó đã được tiềm tàng kết đọng qua những công trình của thầy. Đó là một thành công, theo tôi, không thể nào chối cãi được.


Phạm Xuân Thạch: Nhân bác nói về phân kỳ lịch sử văn học, trong công trình cuối cùng của mình, cuốn "Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại”, GS. Trần Đình Hượu rất băn khoăn về vấn đề phân kỳ các giai đoạn lịch sử. Chắc bác và Giáo sư cũng gặp nhau ở một điểm, đó là sự vận động của văn học không thể tách rời sự vận động của nền tảng văn hóa - xã hội. Giáo sư có đề xuất lấy năm 1904-1905, năm khởi sự những phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục và năm 1932, năm khởi sự phong trào Thơ mới làm giới hạn cho một thời đại nằm trung gian giữa hai thời đại lớn của văn học dân tộc. Bác đánh giá như thế nào về phương pháp phân kỳ này?


Trịnh Văn Thảo: Qua những công trình của Giáo sư Hượu và qua những trao đổi giữa Giáo sư và tôi trong giai đoạn làm việc chung, một trong những kết quả khiến tôi thấy phấn khởi nhất là xu hướng nghiên cứu của tôi về sử cũng như xã hội học về người trí thức Việt Nam đã bắt vào những nhận định sử học của Giáo sư Hượu. Như anh đã biết, tôi có nghiên cứu về thân phận trí thức Việt Nam trong giai đoạn cận hiện đại. Như nhiều sử gia khác, tôi chỉ chú ý đến hai tầng lớp có liên hệ trực tiếp đến thời thế. Đó là thế hệ nhà Nho Cần Vương đấu tranh chống đế quốc Pháp, họ là thế hệ những người có thể nói là nhà Nho thuần tuý, xuất thân từ nhà trường truyền thống và xã hội tiền tư bản. Kế đó đến thành phần trí thức xuất thân từ chế độ học đường của Pháp, thế hệ trí thức hiện đại. Tôi cũng như những sử gia khác chỉ chú trọng đến hai nhóm người đóng vai chính trong cuộc thay đổi cục diện xã hội Việt Nam, nhưng khi nghiên cứu một cách cụ thể mới thấy giữa hai thế hệ, thế hệ Cần Vương và thế hệ đầu những năm 20 của thế kỷ XX, có một thế hệ trung gian, ít được các nhà sử gia chuyên môn chú trọng đến. Đó là cái lớp nho sĩ thuộc vào thời tàn dư của chế độ Nho giáo trước, thế hệ những năm 1905 - 1907, của các phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục… vì chính họ giữ vai trò cốt yếu móc nối trong cuộc chuyển tiếp của thành phần trí thức Việt Nam từ Nho giáo sang chủ nghĩa cộng sản. Từ đó mới có thể thấy rằng lịch sử trí thức không phải là một lịch sử ngắt đoạn mà là một lịch sử tiếp nối và cho phép đánh giá đúng mức vai trò của Đông Du hay Đông Kinh nghĩa thục trong lịch sử Việt Nam. Khi đọc sách và trao đổi với Giáo sư Hượu, tôi thấy có sự đồng nhất và hoà hợp giữa hai phương pháp sử luận. Thầy Hượu thì đứng về mặt văn học nhiều hơn, tôi thì đứng về nghiên cứu xã hội học.


Phạm Xuân Thạch: Bác có thể cho biết những ấn tượng sâu sắc nhất của bác khi làm việc cùng với GS. Trần Đình Hượu?


Trịnh Văn Thảo: Trước hết, một trong những nhận xét đầu tiên khi tiếp xúc và từ những ngày sống chung, làm việc chung với anh Hượu là anh vẫn giữ tác phong của sĩ phu lớp trước, nghĩa là nắm mọi vấn đề một cách toàn diện. Anh Hượu hơn chúng tôi hẳn hoi, nghĩa là anh đọc thẳng sách vở Trung Quốc, nắm được văn hoá Trung Quốc, tiếp cận cụ thể với văn minh và văn học Trung Quốc, để suy nghĩ về vị trí Việt Nam. Anh không phải là người bồng bột chạy theo mốt này mốt nọ. Anh là người có khả năng suy nghĩ toàn diện về Đông á cả về chiều rộng và chiều sâu của lịch sử. Hơn nữa anh có những phương tiện mà chúng tôi không có. Thế hệ chúng tôi là thế hệ Tây học, thành thử cái ngôn ngữ phương Đông của mình mất rồi. Cái hiểu biết của mình về triết học và lịch sử Trung Quốc là một hiểu biết do người Tây phương lọc lại. Xem E. Said trong quyển L’Orient des Occidentaux thì rõ. Khi nghe anh Hượu giảng giải cho sinh viên về tư tưởng trước Nho giáo, tư tưởng Trung Quốc thời Xuân Thu, tư tưởng của Mặc Địch, mình thấy rằng Giáo sư có một cái gì mà mình không thể có được. Cái sự gặp gỡ và học hỏi của tôi với thầy Hượu là một trong những kỷ niệm sâu sắc nhất. Mình thấy rằng mình cần phải học lại. Mà học với Giáo sư Hượu rất dễ vì thầy giảng giải một cách rõ ràng. Tôi còn giữ lại những bài thuyết trình của thầy viết bằng tiếng Việt và tiếng Pháp. Đó là những di sản mà tôi quí nhất trong đời nghiên cứu của mình.


Phạm Xuân Thạch: Pháp là một nước có truyền thống nghiên cứu Trung Quốc, nhất là nghiên cứu Nho giáo. Vậy mà khi tiếp xúc với thầy, bác vẫn thấy được bổ sung một lượng thông tin rất lớn về chủ đề này. Vậy giữa công trình của thầy Hượu và của những người Âu Tây mà trước khi tiếp xúc với thầy, bác đã được đọc, bác thấy có sự khác biệt nào lớn không?


Trịnh Văn Thảo: Tôi vừa nói cái vị trí đặc biệt của Giáo sư Hượu trên bình diện tư tưởng Đông phương, bây giờ cũng phải nói vị trí đặc biệt của Giáo sư Hượu trên bình diện tư tưởng Tây phương. Cái mà mình dễ thông cảm với thầy là thầy am tường một cách sâu sắc tư tưởng Mác - Lê nhưng là ở khía cạnh linh động nhất, biện chứng nhất, vì nếu Giáo sư Hượu chỉ là một ông nhà Nho, phát biểu tư tưởng chính thống hay áp dụng những phương pháp nghiên cứu lịch sử lỗi thời có lẽ mình không gặp gỡ Giáo sư một cách dễ dàng như vậy. Sở dĩ mà mình thông cảm dễ dàng với Giáo sư như vậy là vì Giáo sư có óc khoa học, nắm vững những công cụ mà trên đó khoa học xã hội được xây dựng, không những qua tư tưởng Mác - Lênin và cả tư tưởng Tây phương không mác-xít. Chẳng hạn như khi chúng tôi trao đổi về những công trình xã hội học của Weber về vai trò của tôn giáo, của hệ tư tưởng trong sự thành hình của một giai cấp nào đó và vai trò của nó trong sự chuyển biến của xã hội, của kinh tế Âu châu thì anh hoàn toàn thông cảm.


Phạm Xuân Thạch: Thưa bác, lần ấy thầy Hượu đã ở lại Pháp trong khoảng thời gian bao nhiêu lâu?


Trịnh Văn Thảo: Lúc đầu chúng tôi mời thầy sang 6 tháng với tư cách là Giáo sư “associé”, cái danh từ professeur associé (giáo sư hợp đồng) bên Pháp nó khác với professeur invité (giáo sư được mời). Giáo sư được mời thực ra chỉ có 3 tháng thôi. Ba tháng thì ngắn quá, chỉ có thể làm được một số báo cáo và thuyết trình trước một số công chúng sinh viên nào đó. Đằng này tôi mời Giáo sư với tư cách Giáo sư associé nghĩa là Giáo sư ngoại quốc hay Giáo sư người Pháp chuyên môn về một lĩnh vực nhất định. Họ đến dạy đại học trong một khoảng thời gian từ 1 đến 3 năm với tư cách là một giáo sư thực thụ. Trong khoảng 6 tháng, thầy đã làm việc ở Pháp với tư cách một giáo sư thực thụ. Sau đó thì thầy chuyển khế ước từ 6 tháng thành 9 tháng, thành thử ra anh Hượu ở với chúng tôi 9 tháng, gần 1 năm.


Phạm Xuân Thạch: Trong khoảng thời gian một năm đó thầy Hượu đã có những hoạt động khoa học gì tại Pháp?


Trịnh Văn Thảo: Công tác đầu tiên của thầy là giảng dạy, chuẩn bị giáo trình (cours) huấn luyện sinh viên cấp tiến sĩ. Thầy góp phần với tôi trong việc đào tạo sinh viên tiến sĩ, để cho các cô các cậu sinh viên đó am hiểu hơn về văn hoá Việt Nam. Ngoài ra thì thầy còn là người giúp đỡ tôi rất nhiều trong việc tổ chức kỳ hội thảo EuroViet lần thứ hai. Thứ ba nữa, nhờ thầy mà Viện nghiên cứu Đông Nam Á của trường Đại học Provence bỗng nhiên có uy tín, trở thành một cơ quan rất được người ta chú ý do sự có mặt của một số giáo sư ngoại quốc rất có tiếng tăm. Có thể xem thầy như một thành viên sáng tạo nên Viện nghiên cứu Đông Nam Á (IRSEA).


Phạm Xuân Thạch: Ngoài sinh viên, trong thời gian ở đây, thầy Hượu có tiếp xúc nhiều với giới khoa học Pháp không?


Trịnh Văn Thảo: Lúc đó vì công tác giáo dục nhiều quá nên anh cũng không có được nhiều thời giờ liên lạc với những giới khác. Nhưng tôi thấy con người của thầy có đặc tính là trầm tĩnh, con người không có cái hiếu động, mà nặng về suy nghĩ, về viết lách, về giảng dạy hơn là về tiếp xúc ngoại giao. Thành thử ngoài những bạn chí thân tôi có giới thiệu cho anh Hượu, tôi có đưa thầy đi thăm viếng những vùng xung quanh nhưng thầy không phải là người đi đến đây để đi du lịch. Anh đến đây với tư cách của một người “truyền giáo”, mà anh đóng vai trò của mình một cách hết sức tận tâm. Thầy đến khi đại học đang sắp bãi trường, nên tôi có yêu cầu đại học phải thêm cho thầy 3 tháng để làm công tác Giáo sư. Chúng tôi vắng mặt một thời gian. Khi mùa thu gặp lại, thấy anh hơi yếu nhưng không để ý. Chỉ thấy anh Hượu ăn ít, chỉ uống rượu tí tí thôi. Anh về một hai tháng sau thì hay tin anh mất. Tôi xem đó là một thiếu sót, mình không để ý đến sức khoẻ của ông thầy lớn tuổi, một người đồng nghiệp lớn tuổi. Tôi tự trách mình đã không lo giữ gìn sức khoẻ cho ông. Đó là những hối tiếc mà mình cảm thấy sau khi hay hung tín anh mất. Đó là một trong những kỷ niệm buồn nhất trong đời của mình.


Phạm Xuân Thạch: Thưa bác, phản ứng của công chúng với những bài thuyết trình của thầy Hượu ra sao?


Trịnh Văn Thảo: Rất nồng nhiệt. Thứ nhất là họ thấy cái tư cách của con người, thầy điềm đạm, một ông thầy Đông phương kiểu mẫu, luôn luôn tươi cười, nhẫn nại khi cần giải thích cho sinh viên - thầy giải thích trực tiếp bằng tiếng Pháp hoặc bằng tiếng Việt để tôi dịch lại - thấy con người đó luôn luôn có một cái gì nồng hậu, một cái gì tình nghĩa. Tôi nhớ nhất là hai chữ tình nghĩa mà thầy luôn dùng để chỉ quan hệ giữa con người với con người. Người sinh viên Pháp không phải là người mình, họ không biết thế nào là ý nghĩa xã hội của quan niệm tình nghĩa. Anh đã làm cho họ biết thế nào là tình nghĩa Việt Nam, qua đó anh mới giải thích cho họ sự khác biệt giữa Nho giáo Việt Nam với Nho giáo Nhật bổn hay Nho giáo Đại hàn. Người ta thấy thấm nhuần tư tưởng của anh qua những lời nói giản dị, không có bung xung, không có loè loẹt như mình thấy qua một số trí thức trẻ. Thứ hai nữa là thầy rất chú trọng về bài vở, dẫn chứng. Khoá đầu tiên khai giảng lớp văn minh sử Việt Nam thì có thể nói là lớp xuất sắc nhất. Sau đó tôi có mời GS. Phan Đại Doãn nói về sử và sử xã hội Việt Nam thì anh Doãn cũng rất khởi sắc. Đó là hai người mời nói chuyện về sử văn hoá, văn minh Việt Nam và hai ông cùng xuất sắc cả.


Phạm Xuân Thạch: Xin trân trọng cảm ơn bác về buổi nói chuyện này.


Nguồn: http://100years.vnu.edu.vn


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Câu 285 của Truyện Kiều: Bùi Kỷ đúng, Đào Duy Anh sai! - An Chi 15.07.2018
Tại sao các nước giàu lại dân chủ? - RICARDO Hausmann 15.07.2018
Chủ nghĩa tư bản có gây nên nghèo đói hay không? - RICARDO Hausmann 15.07.2018
Hai bài nên đọc về nạn mại dâm - Tư liệu 15.07.2018
Một vài suy nghĩ về hiện thực đất nước và văn học nghệ thuật sau 1975 - Đỗ Kim Cuông 14.07.2018
Mấy ý kiến về chương trình lý luận văn học ở đại học và phổ thông - Phạm Ngọc Hiền 14.07.2018
36 điều tôi với tạp chí Sông Hương - Đỗ Quyên 14.07.2018
Kolinda Grabar-Kitarović, nữ Tổng thống Croatia - Tư liệu 12.07.2018
Tôi yêu thơ Bertolt Brecht - Thanh Thảo 06.07.2018
Hiến kế phòng chống tham nhũng: Ngăn ‘tham nhũng chính sách’ - Nhiều tác giả 02.07.2018
xem thêm »