tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 23289136
18.06.2018
Hoàng Lộc (Hà Nam)
Hãy nghe sông kể


Hãy nghe sông kể


Tôi ít sống ở quê từ khi lớn lên. Quê tôi, một vùng quê thuần nông phía bắc tỉnh Hà Nam, nơi giáp gianh với Hà Nội. Những dòng tản mạn này bắt nguồn từ chuyện chứng kiến cuộc tranh luận của hai chuyên gia về thủy lợi nhân cuộc họp mặt tổng kết cuối năm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tại số 2 Ngọc Hà, Hà Nội, trong đó có nội dung của các con sông đào ở miền Bắc do người pháp thúc đẩy thực hiện. Họ ví sông Đuống như một con giao long còn sông Nhuệ là con rắn nước (rõ là chán!). Đúng là mỗi con sông kích thước, tầm cỡ có khác nhau nhưng lấy cái hồn, cái cốt của từng vùng miền ra mà so sánh thì quả là không ổn. Tôi tự ái quá, họ đã coi thường “con sông tắm mát cuộc đời tôi”, làm cho tôi: một đứa ngoại đạo (về địa lý sông ngòi) phải cất công tìm hiểu hà cớ gì mà họ đưa lên bàn cược tranh khôn, đối kiến thức, khoe hiểu biết với nhau về hai con sông này?


Họ hiểu biết nhiều nhưng lại có rất nhiều điều chưa biết.


Sông Đuống là một phân lưu của sông Hồng làm giảm sức uy hiếp của sông Hồng đối với vùng đồng bằng, cửa vào tại ngã ba Dâu, địa giới của huyện Đông Anh và quận Long Biên. Điểm cuối sông Đuống hòa vào sông Thái Bình tại ngã ba Mỹ Lộc xã Trung Kênh, huyện Lương Tài, Bắc Ninh. Nhiều tài liệu lưu trữ của ngành Thủy lợi đều viết rằng do người Pháp sang “khai hóa văn minh” nhân việc phát triển canh nông, họ dùng máy trắc đạc địa hình nên có số liệu chính xác về độ cao của từng vùng, với các máy móc xúc, đào, hút đất bùn cộng với sức người vô tận của xứ An Nam mà từ đó quyết định khai thông sông Đuống to rộng như hiện nay. Lại có tài liệu cho rằng sông Đuống có từ xa xưa. Thời Lý, Trần và các đời sau này đều cho nạo vét mỗi khi bị bồi lắng, chuyện này đời nhà Nguyễn vẫn còn chiếu Vua Minh Mệnh lưu ở văn khố tại Huế.


Sông Đuống qua bài thơ Bên kia Sông Đuống là bức tranh rất sinh động mà nhà thơ Hoàng Cầm đã vẽ bằng thơ; tuy nhiên khi đọc bài viết trên báo Gia đình Việt Nam đăng vào cuối tháng 7/2014  với tiêu đề: Sông Đuống – con sông chở nặng nỗi oan khiên mới thấy vỡ ra nhiều điều: nào là nó đã vất vả phải tránh núi Thiên Thai, phải gánh nỗi oan của thái sư Lê Văn Thịnh (vị tiến sĩ đầu tiên của Việt Nam) bị vu là: “Hóa hổ dọa vua” (bây giờ vẫn còn con rồng miệng cắn thân, chân xé mình của dân gian tạc từ một viên đá xanh nhằm chế nhạo vua), rồi bên bờ sông thuộc huyện Thuận Thành, Bắc Ninh có đền thờ thủy tổ nước việt là Kinh Dương Vương (thân sinh Lạc Long Quân); tiếp tục xuôi dòng là khu lăng mộ và đền thờ Cao Lỗ Vương – Ông tổ nghề rèn, nghề chế tạo binh khí đỉnh cao là Nỏ thần thời An Dương Vương.


Ở vùng đồng bằng châu thổ bắc bộ, có lẽ hầu hết các xóm làng đều sinh sống cạnh các nguồn nước. Ngoài các yếu tố cần đến nước là do nhu cầu của sự sống thì cũng là điều tất yếu của nền văn minh lúa nước. Nước tĩnh thì có ao hồ, nước động thì có sông ngòi, những người sống hoài niệm chắc chẳng ai quên được cái thuở còn trẻ trâu (ấy là cách gọi vắn tắt của trẻ con đi chăn trâu, chăn bò) mà đã là trẻ trâu thì cái thú bơi lội, tắm sông lại quá đỗi bình thường: “Còn đâu cái thuở chăn trâu/ Thi nhau bơi lội khúc đầu làng ta”.


Sở dĩ có câu chữ lê thê như thế là vì làng tôi cạnh con sông nhỏ thôi nhưng chẳng bình thường chút nào,  đó là sông Nhuệ.


Sông nhuệ theo Wikipedia là một con sông nhỏ phụ lưu của sông Đáy dài khoảng 76 km, cửa vào từ cống Liên Mạc (bắc Từ Liêm Hà Nội) điểm cuối hòa vào dòng sông Đáy tại Phủ Lý tỉnh Hà Nam. Các số liệu của ngành thủy lợi tôi rất muốn có nhưng lại không tiếp cận được thành thử phải tìm hiểu qua các cá nhân, các nhà nghiên cứu, sưu tầm yêu sông Nhuệ vậy. Nổi lên gần đây có nhạc sĩ Tiến Hùng có bài viết: Sông Nhuệ - Hà Nội, đôi điều tôi tìm hiểu khá hay mặc dù thiếu nhiều sự kiện về sông Nhuệ và có nhầm lẫn tên một vài địa danh, ví dụ tác giả cho sông Nhuệ chảy qua xã Đại Cường (không chẩy qua Đại Cường), cầu chợ Đại (không có cầu chợ Đại. Tên đúng là cống Nhật Tựu làm thời tây, cầu Nhật Tựu làm thời ta), rồi cống Phủ Lý (không có cống Phủ Lý. Tên đúng là cống Ba Đa làm thời tây, cầu Ba Đa làm thời ta), tác giả nhầm lẫn là do tra cứu tài liệu. Quả thật một số phiên bản GoogleMap sông Nhuệ (nhánh chính) tại thời điểm tác giả viết chỉ thể hiện đến hết địa phận Hà Nội. Các phiên bản này thể hiện rõ nét phụ lưu của nó từ phía chợ Dầu chảy qua xã Đại Hùng, Đại Cường, Đông Lỗ rồi nhập vào nhánh chính xuôi qua đất Hà Nam ra sông Đáy vì vậy nếu có ai chỉ tìm hiểu qua GoogleMap thì nhầm lẫn là điều khó tránh.


Trên địa cầu hễ cứ nói đến các con sông mà mẹ thiên nhiên ban tặng thì mọi người cứ hình dung ra khung cảnh hùng vĩ của nó và rồi kèm theo các số liệu kỷ lục về chiều dài, độ rộng, lưu lượng nước, lưu vực, nó băng qua bao nhiều địa danh, lãnh thổ rồi là nguồn nước sinh sống của bao nhiêu người, bao nhiêu giống loài..v..v..


Nhưng con sông quê tôi lại khác: nó là sông Nhuệ, nhỏ thôi, lại là sông nhân tạo, ấy nhưng tôi lại quá yêu nó kể  từ bé cho đến khi tóc bạc bây giờ. Tôi yêu nó vì nó được con người tạo ra nhưng lại kiên định không đổi dòng. Tôi yêu nó vì nó gắn với tuổi thơ tôi và bạn bè, gắn với kỷ niệm hỉ nộ, ái, ố của nhiều người; bây giờ người ta gọi nó là con sông chết, cho dù thế nào thì nó vẫn là sông Nhuệ. Sông chết thì tôi vẫn yêu – không bỏ được!


Sông nhuệ nhỏ mà “nhỏ hạt tiêu, nó còn nổi tiếng hơn cả nổi tiếng, đừng coi nhẹ nhé”, ấy là theo lời của một thày giáo làng (tự nhận là nhà nghiên cứu văn hóa làng xã) mà hồi nhỏ tôi vẫn thường được khai sáng.


- Nghe này! - Ông chỉ tay mà nói: Trên kia, trên cả Cống Thần là vùng Cự Đà, Cự Khối; ngày xưa Trần Hưng Đạo về đó tuyển quân sau đó truyền cho bộ tướng của ngài là tướng quân Trần Thông hợp với quân của Đại tướng Trần Quang Khải đánh trận Chương Dương mà thằng Thoát Hoan phải chui ống đồng trốn chạy. Bây giờ vùng đó có hẳn ba làng đều lập đền thờ các ngài. Lùi xuống hạ lưu rẽ nhánh qua cầu Giẽ gọi là sông Châu vùng Thần Qui, Bái Vàng có đền thờ tướng quân Phạm Ngũ Lão (là con rể của Trần Hưng Đạo), thiêng lắm đấy! Còn nhánh chính đi xuống vùng đất thuộc xã Duy Hải, Duy Tiên, Hà Nam; có đền thờ danh tướng Trần Khánh Dư (vùng đất thuộc xã Duy Hải ngày nay, xưa gọi là ấp Dưỡng Hòa, tổng Hoàng Đạo. Vùng đất này thuộc đất Vua phong cho Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư)


- Nhưng mà...


Giọng ông chùng xuống:


- Cũng có cái nghiệt của nó.


Bọn trẻ chúng tôi nhao lên:


- Thế là thế nào hở bác?


Ông tự nhiên lẩm bẩm: có lẽ, có lẽ...


Giọng ông bỗng xa xăm giống như người kể chuyện cổ tích: ngày xưa cửa sông Nhuệ không ở Liên Mạc như bây giờ, mà nó ở mạn Đan Phượng. Bản thân sông vốn có như các lạch nước tự nhiên chảy qua phần các bãi bồi ngoài ven biển, lưu vực của nó từ sông Hồng về đây thì địa hình giống như lòng máng. Trên đó cao, dưới này thấp nước cứ thế mà tự chảy. Trước đây để ngăn nước đổ về từ mạn ngược, các cụ đã đắp một con đê lớn từ trong núi mạn chợ Dầu ra đây, qua phía bắc đầu làng Giáp Ba ra Cốt Chuông, Bạch Thượng, Chợ Lương rồi ra mép sông Hồng (đê này khi đắp có ngự giá của nhà vua nên gọi là đê Hoành Uyển) vừa ngăn nước vừa làm chỉ giới tương đối giữa Hà Nam với Hà Đông cũ. Lúc đắp đê qua mỗi địa danh Vua lại sai các pháp sư trấn yểm nên thiêng lắm.


Thế rồi người Pháp sang, trong công cuộc chấn hưng canh nông, giao thông họ đã khai thông một số con sông trong đó có sông Nhuệ. Họ có máy móc, có biện pháp thi công khoa học và phu phen bị cưỡng bức lao động nên họ làm nhanh lắm. Sông đào xong theo bác nhớ láng máng là vào khoảng năm 1942, đất đổ lên hai bên bờ cỏ mọc xanh mượt rất đẹp, họ còn đúc một cục bê tông to hàng mét khối trông giống phẩm oản khổng lồ làm mốc tọa độ quốc gia cấp 1,2 gì đó toàn tiếng Pháp và các dãy số, bây giờ vẫn còn kia kìa, bãi sông làng ta hồi chiến dịch Hà Nam Ninh còn được ông Hoàng Sâm duyệt quân, cả làng kéo ra xem thấy ông đeo gươm, cưỡi ngựa trắng, oai lắm! Hồi toàn quốc kháng chiến dân Hà Nội tản cư về làm nhà cửa san sát dọc theo bờ sông từ Cống Thần về đến đầu làng ta rồi bám cả theo con đê cũ lập phố đến tận chợ Đại. Chợ Đại khi ấy nằm ở xóm 8 Xã Đại Cương, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam), tạo thành phố phường nhộn nhịp thường gọi là phố Thiên Bồng, kéo theo cả rạp Chuông Vàng, đoàn xiếc Tạ Duy Hiển biểu diễn hàng đêm, vui lắm! Tấp nập như thế cho nên nghe nói ông nhạc sĩ Hoàng Dương về phố Thiên Bồng sống mới có thêm chất liệu của bài hát Hướng về Hà Nội:


... Biết người còn có trông mong/ Hướng về ai nữa hay không/ Những ngày xa vắng bên sông...


Nhưng rồi Pháp kéo quân về lập hệ thống đồn bốt dọc đường 60A (từ Đồng Văn ra Yên Lệnh, đường 60B (từ Đồng Văn vào chợ Dầu). Thế là:… những ngày vui đã ra đi, biết người còn nhớ nhung chi...


Nghe tin có bộ đội Vệ quốc đoàn chính qui xuất hiện, quân Pháp tung do thám nhiều hơn. Có lần máy bay bà già bay qua thấy phố Thiên Bồng lố nhố người bèn xả súng 14,5 ly mà dân mình vẫn gọi là đạn đum đum. Người chết, người bị thương nhiều lắm, hoảng loạn kinh khủng. Làng ta có bà Đa em gái ông cu Đề bị bắn gẫy nát đùi mà chết (sau này tôi cũng  được bà cô ruột kể là: hôm đó chợ phiên họp chỗ cây gạo nhà ông Ba Bang bây giờ, bà bị ruột non, ruột già của ai bị bắn vỡ bụng văng vào đầy mặt, thoát được chạy về ốm mấy tháng giời vì sợ). Sau vụ đó mọi người tan hoang, số thì về Hà Nội, số thì tản cư tiếp đi qua Lác Đũi, Gio Lễ (Kim Bảng, Hà Nam) vào Chi Lê, Xích Thổ và đi tiếp vào Thanh Hóa.


Con sông khi bắt đầu vào địa giới Hà Nam đã đào phăng đoạn đê mà nó đi qua, rõ ràng về phong thủy, về trạch cát thấy là Long mạch đã bị phạm! Các cháu thấy đấy: vùng này trước đây có tên là Giáp Ba, xã Dưỡng Hòa, tổng Hoàng Đạo Bắc bây giờ là thôn Tam Giáp, xã Duy Hải, huyện Duy Tiên. Làng mình có ông Nguyễn Văn Trợ[1] - hồi năm 1946 được đại tướng Võ Nguyên Giáp chọn cùng ông Hà Thiết Hùng và hai ba ông nữa dẫn đầu đoàn quân Nam Tiến[2], đến năm 1946, đã là trung đoàn trưởng rồi đấy (khi ấy ta mới chỉ có cấp trung đoàn). Ông đánh trận giỏi, thắng nhiều nên kiêu, trước khi đánh trận có thói quen gửi thư khiêu chiến; trong chiến dịch quét sạch các đồn bốt trên tuyến đường 19 từ Thượng An đến ngã ba An Khê đi Cửu An, Tú Thủy, để tạo vùng giải phóng từ Tây nguyên xuống đồng bằng ven biển miền trung của ba tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên. Tại trận đánh lớn mặc dù quân ta thắng nhưng tổn thất rất nhiều, ông cũng hi sinh và… tổng kết lại công không bù được tội - ông đã bị cấp trên kỷ luật dù đã ngã trên chiến trường[3].


- Với dân làng ta, ông Nguyễn Văn Trợ là một ông tướng, là một anh hùng! Ông giáo già kết một câu chắc nịch.


Tôi đồ rằng câu có lẽ… có lẽ, ngập ngừng của ông giáo muốn ám chỉ do “long mạch” của làng bị phạm nên vị anh hùng của làng tôi có công danh mà dương thọ quá ngắn.


Câu chuyện về người anh hùng sau này, vào tháng 3-1995 tôi được một người anh rể họ tên Nguyễn Văn Xuân (đầu những năm 80 của thế kỷ trước làm bí thư Đảng ủy của xí nghiệp vận tải Ty Lương thực Hải Phòng) anh bị mất một tay nhưng may mắn còn sống trong trận đánh diệt đồn Tú Thủy kể lại: Trận đó ác liệt lắm, đồn nó kiên cố quá, lại được chuẩn bị sẵn nên ta hi sinh hơn hai tiểu đoàn, về cuối trận trong đồn còn hai thằng, bên ta chĩa súng bắt hàng mà chỉ có thằng da trắng giơ tay còn thằng da đen vẫn liều mạng cầm súng hết đạn lao lên, buộc phải bắn nó chết. Nghĩ lại bi tráng lắm, vì bọn tây có cơ giới nên viện binh đến rất nhanh, phía ta lực mỏng, vũ khí kiệt, buộc phải rút, không có thời gian thu dọn chiến trường, người chết nhiều la liệt mà không mang ra được, đau lắm, vì làm gì còn người, đến các chỉ huy cũng chết hết (từ cấp tiểu đội trở lên đều xung phong đi đầu bị súng máy nó quạt ngã lia lịa thì sống làm sao được). Sau này người Pháp đào cái hố to chôn cất tất cả, ông Trợ thì được chôn riêng có cắm bia gỗ đề là Phần mộ quan năm Vi Dân (Vi Dân là biệt danh của ông Trợ khi Nam tiến)… Sau giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, cám cảnh về ngôi mộ của một chiến binh kiêu dũng bao năm hoang lạnh; khoảng đầu những năm 1980 nhiều đồng đội (chủ yếu là cấp dưới) của ông làm kiến nghị nhiều lần về chế độ thương binh liệt sỹ, cấp trên mới đồng ý cấp cho một suất lương để người em ruột duy nhất của ông tên là Lục vào chăm sóc phần mộ ông, đến khi ông Lục mất thì không thấy nói gì nữa!


Thế đấy! Cái thời cách đây 70, 80 năm, con sông mới đào mà Thy Lan Thảo đã thấy: Sông Nhuệ thật buồn, nước thật trong… Bây giờ con sông oằn xuống tải toàn bộ nước thải của toàn vùng nó đi qua, làm gì còn nước trong nữa!


Hèn nào sau này thơ của Thy Lan Thảo đăng trên Thi đàn Sài Gòn bài thơ Chiều bên sông Nhuệ. Một người yêu sông Nhuệ có nói đến những thời khắc: Mây xà xuống thấp che ngang mắt…


Đó là khi:


Nhưng tự lòng sông nước đục bùn/ Mùa xuân đang thắm bỗng hoàng hôn


Trời ơi! Chuyện kể thì bi tráng, sông thì hấp hối. Mọi người có buồn không? Con tim có chùng xuống không? Nếu còn yêu sông Nhuệ và đừng bao giờ mong muốn: Còn chăng đò dọc đò ngang/ Anh thuê một chuyến đưa nàng rời quê[4]…


Thì hãy làm gì đi chứ?


Hoàng Lộc


___


[1] Liệt sỹ Nguyễn Văn Trợ sinh năm 1923 tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1937. Từ sau năm 1944 hoạt động trong Hội công nhân cứu quốc thành Hoàng Diệu với bí danh Vi Dân. Trước đêm 19/8/45 tại Bắc Bộ phủ thành lập Chi đội Vi Dân do ông làm Chi đội trưởng – Chi đội Vi Dân, Nhà xuất bản QĐND 1998.


[2] Ngày 30/10/1945, Chi đội Vi Dân xuất phát từ Chợ Bến lên đường vào Nam do Chi đội trưởng Vi Dân chỉ huy với khoảng 400 anh chị em. Đến tiễn có đồng chí Hoàng Văn Thái- đại diện BQP và bà Trương Thị Mỹ - đại diện Tỉnh ủy Hà Đông – Chi đội Vi Dân – SĐD.


[3] Trận diệt đồn Tú Thủy đêm 13 rạng sáng ngày 14/3/1947. Trung đoàn trưởng Trung đoàn 95 Vi Dân anh dũng hy sinh cùng 68 chiến sỹ khác. Pháp chôn một ngôi mộ tập thể trước cổng đồn. Riêng Vi Dân, họ đã xây cho ông một ngôi mộ riêng trên có dòng chữ bằng tiếng Pháp: “14-3-1947, Ici repose colonet Vi Dan, mort pour sa patrie”(Nơi yên nghỉ của Đại tá Vi Dân, người đã hy sinh vì tổ quốc) – Chi đội Vi Dân – SĐD.


[4] Thơ Đặng Huy Văn


Nguồn:  Văn nghệ số 24/2018


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Joy Pilates – Triệu Thiên Hương, cô gái Sài Gòn viết về Hà Nội - Triệu Thiên Hương 20.07.2018
Mặt trận Vị Xuyên Hà Giang ... - Nam Thái Trần 15.07.2018
Chơi Cao bằng - Triệu Thiên Hương 15.07.2018
Sơ ngộ Thạch Lam - Đinh Hùng 26.06.2018
Ăn canh dấm cá tinh tế, cầu kỳ như thi sĩ Tản Đà - Đinh Hùng 26.06.2018
Hành trình thơ - Đánh thức tiềm lực - Nguyễn Duy 25.06.2018
Hãy nghe sông kể - Hoàng Lộc (Hà Nam) 18.06.2018
Chilê - một khuôn hình trực cảm - Tư liệu 26.05.2018
Nở trong bóng tối - Nguyễn Quang Thiều 26.05.2018
Viết ngắn: Cuối tuần máu chảy về chân... - Triệu Thiên Hương 15.05.2018
xem thêm »